Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái nuôi trong nông hộ - Pdf 39

Lời Cảm Ơn
Trong suốt quá trình nghiên cứu thực hiện luận văn tốt nghiệp, ngoài sự
cố gắng hết mình của bản thân, tôi đã nhận được nhiều sự quan tâm giúp đỡ
chân thành và nhiệt tình của các cá nhân tập thể trong và ngoài trường Đại
Học Nông Lâm Huế
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến giáo viên hướng dẫn Ts.
Dư Thanh Hằng, người đã tận tình chỉ bảo chu đáo không quản ngại khó khăn
và vất vả giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện khóa luận.
Tôi xin chân thành cảm ơn quý các thầy cô trong khoa CNTY đã giúp đỡ tôi
hoàn thành bài báo cáo của mình
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Cán bộ UBND xã Đức Lập, cùng các hộ
gia đình thuộc 6 thôn của xã Đức Lập đã tạo điều kiện giúp đỡ tận tình cho tôi
trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành khóa luận
này
Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã giúp đỡ,
động viên cả về vật chất và tinh thần cho tôi để tôi hoàn thành tốt bài khóa luận
của mình đúng thời gian quy định
Trong quá trình thực tập và viết khóa luận do kiến thức trình độ năng lực
hạn chế nên không tránh khỏi những sai sót. Vì vậy bản thân tôi kính mong quý
thầy cô các bạn bè đồng nghiệp quan tâm, giúp đỡ chỉ bảo và đóng góp ý kiến để
khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Huế, tháng 10 năm 2012
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Viết Long

1


PHẦN THỨ NHẤT
TÌNH HÌNH CƠ BẢN



1.3. Khí hậu, thời tiết
Xã Đức Lập nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng và ẩm, với đặc
trưng của khí hậu miền Bắc, nhưng mùa Đông đã bớt lạnh và ngắn hơn các tỉnh
phía Bắc, đồng thời chịu ảnh hưởng của địa hình với các dãy núi lớn phía Tây và
phía Nam. Thời tiết tương đối khắc nghiệt, chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa nóng và
mùa lạnh. Mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10, mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3
năm sau. Thường xuyên chịu ảnh hưởng của bão, các đợt áp thấp nhiệt đới. Đôi
khi có các đợt nắng hạn, các đợt rét đậm, rét hại, đôi lần có lốc xoáy và mưa đá.
Nhiệt độ bình quân năm từ 23,7oC – 23,9oC. Nhiệt độ cao nhất trong năm là
vào giữa tháng 7 nhiệt độ có thể lên đến 39,0 oC hoặc trên 40,0oC. Biên độ nhiệt
mùa lạnh thay đổi có khi đến 10oC. Nhiệt độ thấp nhất trung bình năm vào tháng
12, tháng 1 là 17,5oC. Lạnh nhất có thể đến dưới 8,0oC.
Độ ẩm không khí trung bình là khoảng 80%, cao nhất là 95% vào các tháng mùa
mưa và thấp nhất là 70% vào tháng mùa khô hàng năm.
Lượng mưa trung bình năm là 1950 đến 2100 mm; lượng mưa cao nhất năm có thể
lên đến 2450 mm. Mưa tập trung cao nhất vào các tháng mùa nóng (380 – 400 mm/
tháng). Lượng mưa thấp nhất vào các tháng mùa lạnh, (16,5 - 31,3 mm/ tháng).
Số giờ nắng trung bình trong tháng là 180 giờ/ tháng. Nắng nhiều bức xạ
mạnh. Trung bình từ 150 – 160 Kcal/ năm. Đặc biệt đôi khi xảy ra nắng nóng bất
thường kéo dài, ảnh hưởng tới cây trồng vật nuôi cũng như đời sống sinh hoạt.
Mùa nóng với hướng gió Đông và Đông Nam là chủ yếu, xuất hiện không thường
xuyên. Chịu ảnh hưởng của các cơn bão, các đợt áp thấp nhiệt đới. Đặc biệt là chịu
ảnh hưởng của gió Tây - Nam khô nóng (gió Lào), đôi lúc có lốc xoáy. Qua bảng 1
đây ta có thể thấy nhiệt độ trung bình qua các năm đang có xu hướng tăng lên
Bảng 1. Diễn biến thời tiết khí hậu Hà Tĩnh từ 2009 – 2011
Năm
2009
2010

1.4. Thủy văn
Hệ thống thủy văn của xã bao gồm các suối, sông hồ tự nhiên và hệ thống
thủy lợi nhân tạo. Diện tích các suối, sông hồ tự nhiên có nước liên tục hoặc theo
mùa tập trung chủ yếu ở vùng núi. Hệ thống thủy lợi nhân tạo bao gồm các kênh
mương lớn, hồ đập, có mật độ tương đối dày, đảm bảo việc cung cấp nước tưới
cho cây trồng. Thủy văn nằm trong hệ lưu vực sông Ngàn Sâu nên chế độ nước
cũng theo mùa, hàng năm mưa lũ thường đến chậm, và chu kỳ tương đối ngắn,
mưa lũ thường xuất hiện vào cuối tháng 9, giảm nhanh vào tháng 10, 11 hàng năm.
Với các kênh mương thuộc hệ thống thủy lợi Linh Cảm, chế độ nước được chủ
động tưới tiêu các cánh đồng.
1.5. Đất đai và tình hình sử dụng đất
 Đặc điểm đất đai của xã
Tổng diện tích đất tự nhên của xã 741,86 ha có 40% diện tích phân bố chủ
yếu ở vùng cánh đồng trồng lúa, đất đai màu mỡ. Đất đai của xã Đức Lập được
phân chia như sau:
Đất nông nghiệp : 359 86 ha.
Đất lâm nghiệp : 108,11 ha.
Đất chuyên dùng: 93,9 ha.
Đất chưa sử dụng, sông suối: 65,84 ha.
Đất đai trên địa bàn xã chủ yếu thuộc 4 loại đất chính: Nhóm đất phù sa,
nhóm đất xám, nhóm đất đỏ vàng – nâu vàng, nhóm đất sông suối có điều kiện
thuận lợi để tái sản xuất các loại cây trồng, đất đai phân bố không đều giữa các
thôn cả về diện tích đến tính chất của đất.
Kết quả điều tra về tình hình sử dụng đất của xã Đức Lập được thể hiện qua
bảng sau:

4


Bảng 2. Tình hình sử dụng đất của xã Đức Lập từ 2009 - 2011

143,40
147,01
153,50
II. Đất phi nông nghiệp
2.1 Đất ở
25,52
25,52
25,52
2.2 Đất chuyên dùng
85,37
87,41
93,90
2.3 Đất tôn giáo tín ngưỡng
0,10
0,10
0,10
2.4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa
6,85
8,42
8,42
2.5 Đất sông suối và mặt nước 25,56
25,56
25,56
chuyên dùng
39,92
39,17
38,68
III. Đất chưa sử dụng
(Nguồn: Niên giám thống kê xã Đức Lập từ năm 2006 – 2011)
Qua bảng 2 cho ta thấy xã Đức Lập là một xã bán sơn địa có tổng diện tích tự

Đơn vị 2009
2010
2011
Chỉ tiêu
tính
SL
TL(%) SL
TL(%) SL
TL(%)
1. TS nhân khẩu
Khẩu
3244 100 3272 100 3298 100
Nhân khẩu NN
Khẩu
2919 90
2928 89,5 2945 89,3
Nhân khẩu phi NN
Khẩu
325 10
344 10,5 353 10,7
2.. Tổng số hộ
Hộ
801 100 802 100 810 100
Hộ NN
Hộ
718 89,6 718 89,5 723 89,3
Hộ phi NN
Hộ
83
10,4 84

Cơ bản xã Đức Lập đã thực hiện tốt công tác dân số, lao động việc làm. Đời
sống nhân dân được nâng lên rõ rệt. Số hộ khá chiếm 23,9%, số hộ trung bình là
chủ yếu chiếm 65,8% và số hộ nghèo chiếm 10,3%. Tuy nhiên vấn đề về đời sống
và mức thu nhập của dân cư hiện nay không đồng đều, những hộ có điều kiện mua
sắm các tư liệu sản xuất thì có thu nhập khá, những hộ không có điều kiện thì mức
thu nhập thấp và thu nhập kém. Nếu so sánh với mặt bằng chung thì thu nhập bình
6


quân của các hộ trong xã còn rất nhiều khó khăn và còn thấp
2.2. Cơ sở hạ tầng.
Cơ sở hạ tầng của xã được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 4. Một số cơ sở hạ tầng của xã Đức Lập
Danh mục
Đơn vị tính
Số lượng
Chất lượng
Trụ sở UBND xã
Nhà 2 tầng
01 cái
Khá
Trường cấp 1
Nhà 2 tầng
01 cái
Chuẩn quốc gia
Trường mầm non
Nhà cấp 4
01 cái
Chuẩn quốc gia
Trạm y tế

thuận tiện, đảm bảo khám và chữa bệnh cho nhân dân. Các trang thiết bị như đồ
dùng giảng dạy, phương tiện khám chữa bệnh cho nhân dân khá đầy đủ. Hiện tại
hệ thống giao thông nông thôn nối liền các thôn xóm trong toàn xã Đức Lập và
giữa xã Đức Lập với các xã khác là một tổ hợp gồm hệ thống gồm có đường nhựa
và đường được bê tông hóa ngoài ra vẫn có một số km đường đất. Toàn xã hiện tại
đã xây dựng được khoảng trên 10km đường bê tông nông thôn chiếm 85% các
đường làng lối xóm. Các hệ thống cầu cống được bê tông hóa kiên cố đảm bảo
thuận tiện cho việc phục vụ nhân dân vận chuyển vật tư và sản phẩm nông nghiệp
cũng như giao lưu hàng hóa. Về thủy lợi thì xã hiện có 1 trạm bơm nước lấy nước
vào từ hệ thống nước của kênh Linh Cảm, kênh mương nội đồng đã được bê tông
hóa nhằm phục vụ cho công tác tưới tiêu. Ngoài ra xã còn có 6 trạm điện hạ thế
7


đang hoạt động đảm bảo 100% nguồn điện phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất cho
nhân dân. Về bưu chính viễn thông cũng đang từng bước được nâng cao nhằm đáp
ứng nhu cầu về thông tin liên lạc cho người dân trong xã.
2.3. Tình hình kinh tế
Cùng với xu thế phát triển của thời đại, nền kinh tế của cả nước nói chung và
của xã Đức Lập nói riêng đã có sự thay đổi đáng kể. Khai thác những lợi thế của
mình để thúc đẩy sản xuất phát triển. Xã đã có bước chuyển biến mạnh mẽ cả về
kinh tế, chính trị, xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng. Đời sống vật chất, tinh
thần ngày một nâng cao, không khí đoàn kết dân chủ kỷ cương xã hội đang là yếu
tố quan trọng, là tiền đề cho xã tiếp tục phát triển mạnh mẽ hơn nữa trong tương
lai. Cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch theo hướng Nông nghiệp – Lâm nghiệp – Tiểu
thủ công nghiệp, dịch vụ. Đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, trồng trọt và chăn
nuôi, phát triển kinh tế hộ gia đình đã đạt được kết quả to lớn.
Trong sản xuất nông nghiệp xã đã có những thành tựu đáng kể thể hiện trong
sự nỗ lực lớn của cán bộ và nhân dân trong xã. Tuy diện tích canh tác không lớn
chịu tác động của thời tiết, khí hậu khắc nghiệt. Song nhờ sự chủ động sáng tạo tự

28,14

9940,60
9588
5202
4383
320,60
35

10735,80
10241,90
5536,60
4711,30
429,40
48,50
8


( Nguồn: Văn phòng thống kê xã Đức Lập 2011 )
Qua bảng 5 ta thấy giá trị sản xuất của xã tăng từ năm 2009 đến năm 2011
tăng 1357,90 triệu đồng. Nghành nông nghiệp tăng đến 1145,34 triệu đồng, bình
quân trong 3 năm tăng 106,10 %. Trong đó trồng trọt tăng 442,54 triệu đồng, chăn
nuôi tăng 708,80 triệu đồng. Các nghành Thương mại – dịch vụ và Tiểu thủ công
nghiệp cũng đang có xu hướng tăng. Tóm lại, ta thấy trong những năm gần đây,
ngành nông nghiệp vẫn giữ vai trò chủ đạo. Để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của xã
và dần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, dịch vụ thương mại, công nghiệp
hiện nay sang cơ cấu kinh tế dịch vụ thương mại, công nghiệp, nông nghiệp đòi
hỏi phải có một sự cố gắng nỗ lực không ngừng của chính quyền xã, cần có những
đường lối lãnh đạo đúng đắn của chính quyền xã.
III. Tình hình chăn nuôi của xã

Tổng đàn

SL
20109

(%)
100

SL
23580

(%)
100

SL
27121

(%)
100

1. Gia súc

2109

10,49

2135

9,05


2,57

- Đàn lợn

1000

4,97

1160

4,91

1050

3,87

- Đàn dê

9

0,04

0

0

0

0


Nhìn chung, ngành chăn nuôi của xã ngày càng phát triển, đóng góp phần lớn
vào tổng giá trị sản xuất của xã. Thêm vào đó, được sự hỗ trợ của nhà nước và các
tổ chức quốc tế, nhiều người dân đã có khả năng mở rộng quy mô, giống vật
nuôi… nâng cao thu nhập, cải thiện cuộc sống. Lợn được xem là vật nuôi chủ lực,
đem lại nguồn thu lớn, do vậy cần có nhiều biện pháp tác động hơn nữa từ nhà đầu
tư và nhà kỹ thuật để giúp cho chăn nuôi bò tại xã tiếp tục đạt hiệu quả cao trong
10


thời gian sắp tới.
3.2. Tình hình phát triển chăn nuôi lợn của xã Đức Lập
Những năm qua vừa thực hiện chủ trương chính sách của Đảng và Chính phủ,
thực hiện chủ trương chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, tình hình
chăn nuôi đặc biệt là chăn nuôi lợn của xã đã có sự thay đổi đầy khởi sắc, đưa chăn
nuôi dần trở thành ngành nghề chính thúc đẩy phát triển nông thôn. Những năm
qua số lượng đàn gia súc gia cầm không ngừng tăng lên cả về số lượng và chất
lượng.
Với các nông hộ thì con lợn là vật nuôi chủ yếu, hàng năm cung cấp hàng tấn
thịt. Tính từ năm 2009 đến năm 2011 trong toàn xã đàn lợn thịt của xã ngày càng
tăng cả về số lượng và chất lượng. Trong năm 2009 số lợn toàn xã chỉ là 875 con
thì đến năm năm 2011 con số này đã là 895 con, còn lợn nái trong năm 2009 số lợn
là 538 con đến năm 2011 đã là 592 con (chưa tính lợn sữa, lợn gột)
Chăn nuôi lợn có vai trò quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu nông thôn, đặc
biệt là lợn thịt và lợn nái. Sản lượng thịt lợn luôn chiếm trên 80% sản lượng gia
súc và gia cầm trong toàn xã. Đồng thời nạc hóa đàn lợn đưa các giống mới vào
nuôi và lai tạo các giống ngoại với lợn nái Móng Cái của địa phương cho ra các
giống lai đời sau đạt phẩm chất, chất lượng tốt. Và được xác định là mục tiêu quan
trọng trong ngành chăn nuôi nhằm góp phần nâng cao tỷ trọng và đưa chăn nuôi
trở thành ngành sản xuất chính.
Bảng 7. Tình hình phát triển đàn lợn của xã

Tổng sản lượng xuất chuồng

Tấn

93

89

62

Giá trị sản lượng

Tr.đ

2678

1762

3410

( Nguồn: Báo cáo kinh tế của xã, 2011)

11


Số đầu lợn qua 3 năm ở xã không ngừng tăng lên. Không chỉ về số lượng mà
cả về chất lượng. Nguyên nhân số hộ nuôi lợn tăng là do nuôi lợn có hiệu quả hơn
so với làm ruộng và chăn nuôi khác. Xã Đức Lập có điều kiện phát triển đàn lợn vì
thức ăn rất đa dạng và phong phú. Theo trên bảng thì đa số các hộ chăn nuôi lợn
thịt, nhưng lợn nái trên địa phương cũng phát triển không kém vì chăn nuôi lợn nái

- Mặt khác chế độ khí hậu theo mùa đã ảnh hưởng không nhỏ đối với đời
sống sản xuất của nhân dân trong xã. Mùa mưa lượng mưa lớn, mực nước dâng cao
gây úng lụt một phần không nhỏ diện tích đất nông nghiệp, ngoài ra vào mùa này
còn bị ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất của nhân dân trong xã. Mùa khô lượng
mưa ít, mực nước sông xuống thấp gây ra tình trạng hạn hán. Đất đai đôi khi bị bốc
mặn từ dưới đất lên bề mặt gây không ít khó khăn cho sản xuất nông nghiệp.
- Các nguồn tài nguyên khoáng sản, nguyên liệu hầu như không có hạn chế
đến khả năng phát triển phần nào trong nền kinh tế của xã.
- Tỷ lệ gia tăng tự nhiên vẫn còn cao
- Nguồn lực của xã khá dồi dào song chất lượng nguồn nhân lực chưa thật
cao, lao động phổ thông có tay nghề chiếm tỷ trọng khá lớn còn lao động qua đào
tạo chiếm tỷ trọng nhỏ.

13


PHẦN THỨ HAI
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
I.

ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1.

Tính cấp thiết của đền tài

Nước ta là một nước nông nghiệp với 80% dân số sống ở vùng nông thôn và
gần 70% lực lượng lao động xã hội hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp.
Chính vì vậy nông nghiệp – nông thôn luôn được coi là mặt trận hàng đầu trong
quá trình phát triển nền kinh tế - xã hội của đất nước. Trong những năm qua nền

chưa đồng bộ, dịch bệnh nhiều gây thiệt hại cho hộ chăn nuôi. Đây là dấu hiệu
không tốt và điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát triển chăn nuôi của xã
Đức Lập nói riêng và của cả nước nói chung. Đứng trước tình hình đó, câu hỏi
đặt ra cần được nghiên cứu giải quyết là: Phát triển chăn nuôi lợn nái ở xã có
những bất cập gì? Tại sao ngành chăn nuôi lợn nái của xã Đức Lập phát triển
không bền vững như vậy? Cần có những giải pháp nào để phát triển chăn nuôi
lợn nái của xã trong những năm tới tốt hơn, bền vững hơn.
Để giúp địa phương thực hiện tốt chương trình phát triển đàn lợn nái
nuôi trong nông hộ một cách bền vững, chúng tôi tiến hành đề tài: “Đánh giá năng
suất sinh sản của lợn nái nuôi trong nông hộ trên địa bàn xã Đức Lập, huyện
Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh”
1.2. Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu chung
Khảo sát thực trạng, đánh giá hiệu quả kinh tế loại hình chăn nuôi lợn nái ở
các hộ gia đình ở xã Đức Lập. Phân tích những thuận lợi và khó khăn, những vấn
đề cần giải quyết trong chăn nuôi lợn nái nuôi trong nông hộ trên địa bàn xã.
Mục tiêu cụ thể
Khảo sát thực trạng chăn nuôi lợn nái ở địa phương. Phân tích hiệu quả chăn
nuôi lợn nái ở hộ gia đình xã Đức Lập. Trên cơ sở đó tìm ra các nguyên nhân ảnh
hưởng đến năng suất và khả năng sinh sản của lợn nái trong nông hộ trên địa bàn
xã.
15


Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi lợn nái trong nông hộ
trên địa bàn xã.

II.
2.1.


4
5
6
7
8
9
10

Tên nước
Trung Quốc
Mỹ
Braxin
Việt Nam
Đức
Tây Ban Nha
Nga
Mê-Xi-Cô
Pháp
Ba Lan

Đơn vị
Con
Con
Con
Con
Con
Con
Con
Con
Con

về hiệu quả sản xuất thịt lợn: Việt Nam (502 kg thịt lợn/nái/năm), pilipphin (943
kg thịt lợn/nái/năm), Inđonêsia (495 kg thịt lợn/nái/năm), Thái Lan (1200 kg thịt
lợn/nái/năm) và Malaysia (797 kg thịt lợn/nái/năm). Sự khác nhau này có thể do

17


các nước khác nhau có hệ thống chăn nuôi lợn khác nhau, sử dụng các nguồn thức
ăn và con giống khác nhau
Ngoài các tiêu chí mà các nước trong khu vực Đông Nam Á đã đạt được
ở trên thì các tiêu chí về giống, thức ăn, chuồng trại, quy mô cũng không ngừng cải
tiến và phát triển. Con giống đã được chọn tạo và cải tiến, tạo ra những giống lợn
có năng suất cao, chất lượng tốt phục vụ đắc lực cho nhu cầu sản xuất hàng hoá với
quy mô lớn và chất lượng cao. Thức ăn chăn nuôi cũng được nâng cao về cả số
lượng, ngoài những thức ăn mang tính bản địa của riêng từng nước, thức ăn có xu
hướng sử dụng thức ăn công nghiệp nhằm phục vụ những con giống có tỷ lệ nạc
cao đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường. Bên cạnh đó, quy mô chăn nuôi
cũng ngày càng được phát triển. Từ chăn nuôi cấp độ gia đình nhỏ dần dần tiến tới
chăn nuôi tập trung trang trại với số đầu gia súc cao hơn, hướng đến mở rộng thị
trường tiêu thụ sản phẩm trên khắp khu vực và trên thế giới.
2.3. Tổng quan tình hình chăn nuôi lợn ở Việt Nam
Ở Việt Nam chăn nuôi lợn xuất hiện từ lâu đời và trở thành một nghề truyền
thống của nông dân, tuy nhiên trình độ chăn nuôi lạc hậu cùng việc sử dụng các
giống nguyên thủy sức sản xuất thấp nên hiệu quả không cao. Chăn nuôi lợn ở
nước ta chỉ thực sự phát triển mạnh từ những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI.
Trong những năm qua, ngành chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi lợn nói
riêng và có những bước phát triển mạnh mẽ cả về số lượng lẫn chất lượng. Số
lượng đầu lợn không ngừng tăng mạnh qua các năm, tính đến năm 2011 Việt Nam
đã có trên 27 triệu con đứng hàng thứ 5 trong số 10 nước có số đầu lợn cao nhất
thế giới, nhưng đứng hàng thứ 6 về số lượng thịt lợn sản xuất ra. Trong đó lợn tập

27373,3
7301,0
6602,1

Sơ bộ 2011
27056,0
7092,2
6424,9

5888,0
5552,9
5253,3
1636,0
1633,1
1711,7
2611,6
2485,3
2801,4
3730,8
3798,9
3772,5
( Nguồn: Theo cục thống kê năm 2012 )

2.4. Tình hình chăn nuôi lợn ở Hà Tĩnh
Chăn nuôi lợn là nghề sản xuất truyền thống, giữ vị trí quan trọng nhất
trong tổng giá trị sản xuất ngành chăn nuôi của tỉnh, tạo nguồn thu nhập quan
trọng cho hộ gia đình ở nông thôn, chiếm khoảng 68% trong cơ cấu tổng thu
nhập từ chăn nuôi trong nông hộ. Hàng năm, chăn nuôi lợn sản xuất một khối
lượng thịt hơi khá lớn, chiếm 66% tổng khối lượng thịt hơi các loại, cùng với
các ngành chăn nuôi khác đã đưa tỷ trọng chăn nuôi năm 2011 chiếm 42% tổng

hướng đi và cách làm của mình bằng hiệu quả công việc, đảm bảo an toàn dịch
bệnh cho đàn gia súc gia cầm từ đó đã góp phần thúc đẩy ngành chăn nuôi của Hà
Tĩnh phát triển nhanh và bền vững.
2.5. Vai trò của chăn nuôi lợn.
Từ lâu nay cuộc sống của người Việt Nam luôn gắn liền với trồng lúa và chăn
nuôi. Chăn nuôi không chỉ mang lại nguồn thực phẩm chủ yếu cho nhu cầu tiêu
dung của người dân mà còn phục vụ cho ngành trồng trọt (nhờ các sản phẩm phụ).
Ngoài những đặc điểm chung trên, chăn nuôi lợn còn có những đặc điểm đáng chú
ý như thu được lợi nhuận cao, chu kỳ chăn nuôi ngắn…Do vậy, chăn nuôi lợn
được hầu hết người dân quan tâm.
Trong điều kiện sản xuất của các nông hộ hiện nay, chăn nuôi lợn tận dụng
được các điều kiện như kỹ thuật, sức lao động, thức ăn sẵn có của gia đình và cung
cấp các sản phẩm có giá trị dinh dưỡng và giá trị hàng hoá cao phục vụ cho nhu
cầu ngày càng tăng của xã hội. Chăn nuôi lợn còn tạo ra nguồn phân bón hữu cơ
cho phát triển trồng trọt, cung cấp nguyên liệu cho một số ngành công nghiệp chế
biến. Chăn nuôi lợn cũng là một hướng để chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp
nông thôn. Tạo việc làm trong người lao động, tăng thu nhập và tăng thêm nguồn
thực phẩm chất lượng. Những năm gần đây, khi mà cuộc sống của đại bộ phận
người dân được cải thiện nhiều thì nhu cầu tiêu dùng thịt ngày càng tăng, chủ yếu
là thịt lợn và các sản phẩm được chế biến từ thịt lợn.
Phát triển chăn nuôi lợn góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp hợp lý hơn, tăng dần tỉ trọng ngành chăn nuôi giảm dần tỉ trọng ngành trồng
trọt. Chăn nuôi lợn phát triển góp phần khai thác sử dụng các nguồn lực có hiệu quả
hơn. Ngoài ra lợn thịt có tỷ lệ thịt xẻ cao, đạt từ 75-85%, cao hơn tất cả các giống
20


vật nuôi khác. Tỷ lệ nước trong thịt lợn ít hơn so với thịt khác (nước trong thịt lợn
chiếm 50-55%, thịt bò chiếm 70-72%, thịt dê, cừu chiếm 72%). Năng lượng trong
1kg thịt lợn trung bình sinh 3085 calo, năng lượng 1kg thịt bò là 2140 calo. Do thịt



2.6.1.2. Chu kì động dục
Gia súc cái khi đến tuổi thành thục về tính sẽ xuất hiện chu kỳ động dục. Đó
là sự phát triển của nang trứng theo tính chu kỳ dưới sự điều hoà của hormone thùy
trước tuyến yên làm cho trứng chín và rụng diễn ra một cách có chu kỳ. Hiện
tượng trứng chín và rụng kèm theo những biểu hiện bên ngoài cơ thể thay đổi có
tính quy luật từ khi gia súc thành thục về tính cho đến khi hết khả năng sinh sản
gọi là chu kì động dục. Chu kỳ động dục của lợn giao động trong khoảng từ 18 - 24
ngày. Nếu gia súc động dục mà không cho phối hoặc phối giống không có kết quả,
trứng không được thụ tinh thì sẽ xuất hiện chu kỳ tiếp theo. Chu kỳ động dục của
lợn có thể được chia làm 4 giai đoạn:
- Giai đoạn trước động dục (proestrus): Là khoảng thời gian từ khi thể vàng
của chu kỳ trước tiêu biến đến khi gia súc bắt đầu xuất hiện động dục ở chu kì tiếp
theo. Đây thực chất là giai đoạn phát triển của nang trứng. Khi thể vàng tiêu biến
đi, nồng độ progesterone trong máu giảm nhanh, nó thôi không ức chế tuyến yên
do đó tuyến yên bắt đầu tiết FSH, hormone này kích thích bao noãn phát triển, tăng
lên khối lượng, kích thước và nổi lên trên bề mặt của buồng trứng. Sự tăng tiết
FSH của tuyến yên kích thích buồng trứng tiết estrogen hình thành các đặc tính
sinh dục thứ cấp. Ở giai đoạn này lợn cái có biểu hiện kêu rít, bỏ ăn âm hộ đỏ tươi
sưng mọng có nước nhầy chảy ra. Lợn cái có hiện tượng nhảy lên lưng con khác
nhưng không cho con khác nhảy lên lưng nó.
- Giai đoạn động dục (estrucs): Giai đoạn này bao gồm 3 thời kì liên tiếp là:
Hưng phấn, chịu đực và hết chịu đực. Một đặc trưng cơ bản trong giai đoạn này
đối với tất cả các gia súc là sự rụng trứng trong đường sinh dục cái và biểu hiện
chịu đực của gia súc cái thể hiện ra bên ngoài. Lợn vẩn bỏ ăn. Âm hộ chuyển từ
màu đỏ tươi sang màu đỏ sẩm. Lợn nái chịu đực, mê ì. Dùng tay ấn lên lưng và
vùng mông lợn đứng im, nước nhờn chảy dính và đục. Thời gian này kéo dài
khoảng 2 ngày, lợn nội ngắn hơn và khoảng 28- 30 giờ.
- Giai đoạn sau động dục (metestrus): Giai đoạn này được tính từ khi gia súc

2.6.1.4. Tuổi phối giống lần đầu
Để có thể tiến hành phối giống lần đầu, lợn nái hậu bị phải thành thục về tính
và thể vóc. Lợn nái nội nên phối giống lần đầu ở 6 - 7 tháng tuổi, khi trọng lượng
của lợn đạt từ 40 kg trở lên. Nái ngoại từ 8 - 10 tháng tuổi, trọng lượng đạt từ 90
kg trở lên. Không nên phối giống quá sớm hoặc quá muộn. Nếu phối giống quá
sớm khi cơ thể mẹ chưa trưởng thành, cơ thể sẽ ưu tiên dinh dưỡng cho sự phát
triển của bào thai, dinh dưỡng cho sinh trưởng và phát triển của con mẹ bị giảm đi
làm cho cơ thể mẹ yếu, bào thai kém phát triển, con nhỏ và yếu, thời gian sử dụng
lợn mẹ giảm xuống. Ngoài ra nếu phối giống quá sớm, lúc này xương chậu của cơ
thể mẹ chưa hoàn thiện, nhỏ và hẹp làm cho mẹ đẻ khó. Nếu phối giống cho lợn
quá muộn thì lảng phí nhiều thời gian và thức ăn để nuôi lợn hậu bị. Để đạt được
hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con nái sinh sản lâu bền, cần bỏ qua 1 - 2 chu kỳ
động dục đầu rồi mới cho phối.

23


2.6.1.5. Thời gian động dục lại sau cai sữa
Sau khi cai sữa con khoảng 3 - 7 ngày, tuỳ theo sự hao mòn của lợn mẹ trong
giai đoạn nuôi con và sự phát dục lại sau cai sữa, lợn nái sẽ động dục trở lại và bắt
đầu một chu kỳ sinh sản mới. Để nâng cao hiệu quả sản xuất người chăn nuôi phải
chăm sóc, nuôi dưỡng tốt lợn nái trong thời gian nuôi con và sau cai sữa nhằm rút
ngắn thời gian động dục lại sau cai sữa. Ở các trang trại chăn nuôi công nghiệp
người ta thường tiêm hocmon hoặc vitamin ADE cho lợn nái sau cai sữa đồng thời
cho chúng gần gủi con đực để kích thích quá trình phát dục lại sau cai sữa, nâng
cao năng suất sinh sản của lợn nái.
2.6.1.6. Chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái hậu bị
Việc chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái hậu bị cần đảm bảo lợn không quá béo
hoặc quá gầy làm ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái sau này. Để Lợn
hậu bị phát triển tốt phải chú ý đến một số yêu cầu như:

Rụng trứng là một quá trình sinh lý phức tạp, quá trình rụng trứng được điều
khiển bởi thần kinh thể dịch và các hormon sinh dục. Trước khi rụng trứng, ở bên
trong nang trứng quá trình phân chia giảm nhiễm thành 1n ở lần một, rồi giữ và
kéo dài 1n như thế cho tới khi trứng được thụ tinh. Thùy trước tuyến yên tăng tiết
FSH, LH làm gia tăng tiết dịch nang trứng. Đồng thời ProtaglandingF2α của tế bào
tử cung xuất hiện trước khi trứng rụng một vài giờ. Hormon này có tác dụng kích
thích việc hình thành tổ chức chế tiết enzyme phân hủy vách nang trứng tạo cơ hội
giải phóng trứng. Relaxin (hormon của tử cung) cũng xuất hiện, nó có hai tác
dụng: một là kích thích tiết dịch nang trứng ở lớp tế bào hạt giống như LH, tác
dụng khác giống ProtaglandingF2α là kích thích công phá tổ chức liên kết sợi của
vách nang trứng tạo cơ hội phá vở vách nang trứng. Thùy trước tuyến yên tiết FSH
xúc tiến việc hình thành cấu trúc tiếp nhận LH ở lớp tế bào hạt. Khi LH gắn nối
với cấu trúc tiếp nhận, nó kích thích tế bào hạt tiết Progesteron với hàm lượng
thấp, từ lúc này lớp tế bào hạt bắt đầu có sự biến đổi về cấu trúc để hình thành thể
vàng. Hàm lượng Progesteron thấp lại làm cho hoạt tính có oestrogen tăng cao,
oestrogen bằng con đường liên hệ ngược dương tính tăng tiết LH.
Sự rụng trứng gồm hai giai đoạn là vở nang trứng và thoát trứng, hàm lượng
LH quyết định quá trình này. Trứng rụng khi hàm lượng LH tiết cao nhất. Lúc này
áp lực dịch nang trứng là cao nhất, vách nang trứng bị phân huỷ và nang trứng bị
phá vở trứng được giải phóng. Nhiều nghiên cứu xác định rằng trứng muốn rụng
thì hàm lượng LH/FSH phải duy trì ở mức 3/1.
Hoạt động giao phối có ảnh hưởng đến thời điểm rụng trứng, nghiên cứu của
Ponevog (1955) cho rằng sự rụng trứng của lợn nái xảy ra trong khoảng 36 - 48 giờ
từ khi bắt đầu chịu đực. Hugeus (1976) cho biết lợn nái tơ có số lượng trứng rụng
bình thường là 13,5 trứng. Mức độ dinh dưỡng trong thời kỳ hậu bị và trong chu kỳ
động dục đầu tiên có ảnh hưởng rõ đến số lượng trứng rụng. Nghiên cứu của Casid
(1955) với chế độ dinh dưỡng cao thì số trứng rụng là 13,9 trứng, dinh dưỡng thấp
thì số trứng là 11,1 trứng, mức dinh dưỡng thấp - thấp thì số trứng rụng là 10,6
trứng, còn mức dinh dưỡng thấp - cao số trứng rụng là 13,6 trứng. Nghiên cứu
cũng chứng minh rằng, đối với các giống lợn khác nhau thì số trứng rụng trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status