De an tot nghiep cao cap chinh tri - Pdf 39

1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn Đề án
Từ xưa, ông bà ta thường khuyên con cháu: “Ruộng đất bề bề không bằng
một nghề trong tay”, “Nhất nghệ tinh nhất thân vinh” cho thấy sự quan tâm của xã
hội về việc cần có một nghề nghiệp để ổn định đời sống và có thể lo cho bản thân,
gia đình là điều rất quan trọng. Sống được với nghề, giỏi với nghề là một trong
những yếu tố thúc đẩy xã hội phát triển.
Ngày nay lao động, việc làm là một trong những vấn đề được quan tâm trong
chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các
nước đang phát triển với dân số đông và lực lượng lao động lớn như Việt Nam. Lực
lượng lao động dồi dào một mặt là thế mạnh trong phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước, nhưng mặt khác nó lại tạo ra sức ép về việc làm cho toàn xã hội. Do đó,
hỗ trợ học nghề, tạo việc làm cho người lao động nói chung và lao động nữ nói
riêng luôn là một trong những vấn đề được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm.
Thực tế cho thấy, lao động nữ thuộc nhóm lao động yếu thế. Điều này không
chỉ xuất phát từ đặc điểm tự nhiên về sức khỏe, giới tính, mà nó còn xuất phát từ
thiên chức, trách nhiệm và gánh nặng gia đình, con cái… Việc làm của phần lớn
lao động nữ thiếu ổn định, thu nhập thấp; phụ nữ dễ bị tổn thương trong công việc
và ít nhận được các thỏa thuận việc làm chính thức; số lao động nữ hoạt động trong
khu vực phi chính thức tăng, lượng lao động nữ di cư tự phát ra thành phố do thiếu
việc làm gia tăng nhanh… Điều đó chứng minh rõ nét vấn đề việc làm của lao động
nữ luôn là một vấn đề bức xúc và thiếu các yếu tố liên quan đến việc làm bền vững.
Thoại Sơn là một huyện thuần nông, lực lượng lao động nữ chiếm 51% (niêm
giám chi cục thống kê huyện năm 2013) lực lượng lao động toàn huyện. Trong khi
quá trình phát triển kinh tế - xã hội của huyện với tốc độ công nghiệp hóa đã gặp
phải có những hạn chế như: lao động nữ của huyện phần lớn là lao động nông
nghiệp; tỷ lệ lớn lao động chưa qua đào tạo nên khó thích ứng và tự tìm kiếm việc
trong các khu công nghiệp. Số lượng lao động nữ tự tạo việc làm rất hạn chế, chủ
yếu là các công việc tạm thời với thu nhập thấp và điều kiện lao động không đảm

- Quyết định số 608/QĐ-UBND ngày14 tháng 4 năm 2011 của Ủy ban nhân
dân tỉnh An Giang, về việc phê duyệt Đề án “hỗ trợ phụ nữ học nghề, tạo việc việc
làm giai đoạn 2010-2015”;
- Kế hoạch số 82/KH-UBND ngày 22 tháng 10 năm 2010 của Ủy ban nhân
dân huyện Thoại Sơn về “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”.
2.3. Cơ sở thực tiễn: Xuất phát từ thực trạng thực hiện chính sách hỗ trợ học
nghề, tạo việc làm cho phụ nữ huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang giai đoạn 2010


3

-2014, những kinh nghiệm trong công tác hỗ trợ học nghề, tạo việc làm cho phụ nữ
của các tỉnh, thành phố trong cả nước, từ đó đề ra các giải pháp nhằm tiếp tục đổi
mới, nâng cao hiệu quả chính sách hỗ trợ học nghề, tạo việc làm cho phụ nữ giai
đoạn tiếp theo.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của Đề án
3.1.Mục đích nghiên cứu: Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác hỗ
trợ học nghề, tạo việc làm cho phụ nữ. Tăng cơ hội học nghề, tạo việc làm cho phụ
nữ, đặc biệt là phụ nữ khu vực nông thôn, phụ nữ độ tuổi trung niên, phụ nữ dân
tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn. Từ đó phân tích thực trạng của công tác hỗ trợ
học nghề, tạo việc làm cho phụ nữ trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ở huyện
Thoại Sơn, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công
tác hỗ trợ học nghề, tạo việc làm cho phụ nữ trên địa bàn huyện.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn về hỗ trợ học nghề và tạo việc
làm cho phụ nữ.
- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác hỗ trợ học nghề, tạo việc làm cho phụ
nữ ở huyện Thoại Sơn giai đoạn 2010 - 2015.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết có hiệu quả vấn đề hỗ trợ
học nghề, tạo việc làm cho phụ nữ ở huyện Thoại Sơn trong thời gian tới.



5

I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HỖ TRỢ HỌC NGHỀ, TẠO VIỆC
LÀM CHO PHỤ NỮ
1.1. Đặc điểm của phụ nữ và các nhân tố ảnh hưởng đến tạo việc làm của
phụ nữ
1.1.1. Phụ nữ
Nữ giới là một khái niệm chung để chỉ một người, một nhóm người hay toàn
bộ những người trong xã hội mà một cách tự nhiên, mang những đặc điểm giới tính
được xã hội thừa nhận về khả năng mang thai và sinh nở khi cơ thể họ hoàn thiện
và chức năng giới tính hoạt động bình thường.
Nhìn theo khía cạnh sinh học, nữ giới chỉ những người thuộc giống cái.
Phụ nữ chỉ một, một nhóm hay tất cả nữ giới đã trưởng thành, hoặc được cho
là đã trưởng thành về mặt xã hội. Nó cho thấy một cái nhìn ít nhất là trung lập,
hoặc thể hiện thiện cảm, sự trân trọng nhất định từ phía người sử dụng. Nó đề cập
đến, hoặc hướng người ta đến những mặt tốt, hoặc ít nhất là không xấu, đến những
giá trị, những đóng góp, những ảnh hưởng tích cực từ những nữ giới này.
Nghị quyết 04-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 12 tháng 7 năm 1993 đã nêu rõ:
“Phụ nữ là người lao động, người công dân, người mẹ, người thầy đầu tiên của
con người. Khả năng và điều kiện lao động, trình độ văn hóa, vị trí xã hội, đời
sống vật chất và tinh thần của phụ nữ có ảnh hưởng sâu xa đến sự phát triển của
thế hệ tương lai”. (Quan điểm thứ nhất Nghị quyết 04-NQ/TW của Bộ Chính trị
ngày 12 tháng 7 năm 1993)
1.1.2. Đặc điểm của phụ nữ
Phụ nữ là một lực lượng lao động quan trọng trong lực lượng lao động xã hội.
Cùng với nam giới, phụ nữ cũng đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình
xây dựng và phát triển đất nước. Phụ nữ đã có mặt trên tất cả các lĩnh vực: chính
trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… Tuy nhiên, có sự khác biệt về đặc điểm tâm sinh lý

lượng và phát huy hiệu quả”.
Sức khỏe là yếu tố rất quan trọng đối với con người nói chung và phụ nữ nói
riêng, không chỉ tạo ra khả năng làm việc, tăng thu nhập, mà còn góp phần cải thiện
cuộc sống. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe của phụ nữ, từ điều kiện chăm
sóc, nghỉ ngơi, vấn đề sức khỏe sinh sản, chế độ dinh dưỡng trong gia đình, đến
những điều kiện làm việc và môi trường sinh sống, nếu được cải thiện tốt sẽ có tác
động tích cực đến quá trình lao động, cống hiến của phụ nữ.
1.1.3.3. Những nhân tố thuộc về xã hội


7

Ảnh hưởng của tâm lý xã hội, so với nam giới, điều kiện sinh hoạt của phụ nữ
thường phức tạp hơn. Cũng do nhiều nguyên nhân khác chi phối, phụ nữ thường có
trình độ học vấn, trình độ chuyên môn thấp hơn nam giới. Bên cạnh đó, tính rụt rè,
kém tự tin vào chính bản thân mình đang là những trở ngại dẫn đến khó tìm việc
làm trên thị trường lao động.
Đảng ta đã đề ra nhiều chủ trương, đường lối thiết thực, hiệu quả nhằm phát
huy tối đa nội lực, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chuyển đổi cơ cấu lao
động, đáp ứng yêu cầu quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo nhiều việc việc
làm cho phụ nữ.
1.2. Hỗ trợ học nghề
Là một lĩnh vực hoạt động mà trong đó, nhờ được đào tạo con người có được
những tri thức, những kỹ năng nghề nghiệp để làm ra các loại sản phẩm vật chất
hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu xã hội.
Nghề bao gồm nhiều chuyên môn. Chuyên môn là một lĩnh vực lao động sản
xuất thu hẹp mà ở đó con người bằng năng lực thể chất và tinh thần của mình làm
ra những giá trị vật chất (thực phẩm, lương thực, công cụ lao động…) hoặc là giá
trị tinh thần (sách báo, phim ảnh, âm nhạc, tranh vẽ…) với tư cách là những
phương tiện sinh tồn và phát triển của xã hội.

mình của người phụ nữ.
Trong thời gian qua, nhờ việc đa dạng hóa các ngành nghề, ban hành nhiều
chính sách ưu đãi với lao động nữ, vị thế người phụ nữ ngày càng được nâng cao;
nhiều chị em đã chủ động, tự tin, tự khẳng định mình trong cuộc sống gia đình
cũng như các hoạt động xã hội, đóng góp tích cực cho sự phá triển kinh tế - xã hội,
giúp phụ nữ khẳng định vị trí, vai trò, vị thế và sự tiến bộ của giới mình trên mọi
lĩnh vực.
Tuy nhiên, mặc dù tư tưởng “trọng nam, khinh nữ” đã dần được xóa bỏ
nhưng quan niệm gắn phụ nữ với thiên chức làm vợ, làm mẹ và đảm nhận vai trò
người nội trợ trong gia đình là công việc chính vẫn còn phổ biến. Điều này đã trở
thành rào cản đối với người phụ nữ trong việc tham gia vào các công việc ngoài xã
hội. Theo V.I.Lênin, vấn đề việc làm là một trong những vấn đề cơ bản, đảm bảo
cho người phụ nữ có cơ hội vươn lên để khẳng định vị trí của họ trong xã hội. Như
vậy, vị thế của người phụ nữ chỉ có thể được khẳng định khi được xã hội quan tâm
và tạo điều kiện cho họ tham gia vào hệ thống phân công lao động xã hội để sử
dụng khả năng lao động, tạo ra sự độc lập về kinh tế và sự bình đẳng so với nam
giới.


9

Việt Nam đang tiến hành quá trình đẩy nhanh công nghiệp hóa – hiện đại hóa
đất nước. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ kéo theo quá trình chuyển dịch
cơ cấu lao động. Trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, các khu công
nghiệp lớn sẽ hình thành và phát triển, thu hút lao động có chất lượng cao. Người
phụ nữ muốn có việc làm ổn định cần phải đáp ứng đòi hỏi về mặt trình độ, nắm
bắt nhanh công nghệ mới được ứng dụng trong sản xuất. Đây vừa là thách thức,
yêu cầu mới; vừa là cơ hội để phụ nữ tiếp cận với đào tạo và phát triển nâng cao
trình độ của mình.
Phụ nữ có việc làm, có thu nhập, một mặt góp phần xây dựng kinh tế gia đình,

năm 2009 đã đề ra các chính sách đối với người học, chính sách đối với giáo viên,
giảng viên và chính sách đối với cơ sở đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
Quyết định số 295/QĐ-TTg, ngày 26/02/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt Đề án “Hỗ trợ phụ nữ học nghề, tạo việc làm giai đoạn 2010-2015” quy
định chính sách đối với người học như sau:
Lao động nữ thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi, người có công với
cách mạng, hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người bị thu hồi đất
canh tác, lao động nữ bị mất việc làm trong các doanh nghiệp được hỗ trợ chi phí
học nghề ngắn hạn (trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng) với mức tối đa
03 triệu đồng/người/khóa học (mức hỗ trợ cụ thể theo từng nghề và thời gian học
nghề thực tế); hỗ trợ tiền ăn với mức 15.000 đ/ngày thực học/người; hỗ trợ tiền đi
lại theo giá vé giao thông công cộng với mức tối đa không quá 200.000
đ/người/khóa học đối với người học nghề xa nơi cư trú từ 15 km trở lên;
Lao động nữ (cả nông thôn và thành thị) thuộc diện hộ có thu nhập tối đa
bằng 150% thu nhập của hộ nghèo được hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn (trình độ
sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng) với mức tối đa 2,5 triệu đồng/người/khóa
học (mức hỗ trợ cụ thể theo từng nghề và thời gian học nghề thực tế);
Lao động nữ khác được hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn (trình độ sơ cấp
nghề và dạy nghề dưới 3 tháng) với mức tối đa 02 triệu đồng/người/khóa (mức hỗ
trợ cụ thể theo từng nghề và thời gian học nghề thực tế);
Lao động nữ học nghề được vay vốn để học theo quy định hiện hành và tín
dụng đối với học sinh, sinh viên. Lao động nữ làm việc ổn định tại chỗ (nơi cư trú)
sau khi học nghề được ngân sách hỗ trợ 100% lãi suất đối với khoản vay học nghề;
Lao động nữ là người dân tộc thiểu số thuộc diện được hưởng chính sách ưu
đãi, người có công với cách mạng, hộ nghèo có thu nhập tối đa bằng 150% thu
nhập của hộ nghèo học các khóa học trình độ trung cấp nghề, cao đẳng nghề được
hưởng chính sách dạy nghề đối với học sinh dân tộc thiểu số nội trú;


11

giáp huyện Tri Tôn 12,356 km, phía Đông giáp thành phố Long Xuyên 10,054 km,
phía Nam giáp huyện Hòn Đất tỉnh Kiên Giang 9,675 km, huyện Tân Hiệp tỉnh


12

Kiên Giang 10,571 km. Huyện có 17 đơn vị hành chính, bao gồm 14 xã và 03 thị
trấn.
Huyện có diện tích tự nhiên 46.885 ha, diện tích đất nông nghiệp là 41.490 ha,
chiếm trên 80% diện tích đất tự nhiên. Trong đó, diện tích đất trồng cây hàng năm
là 39.144 ha, đất trồng cây lâu năm là 1.048 ha, đất nuôi trồng thuỷ sản là 823 ha.
Diện tích đất lúa 02 vụ là 37.000 ha, đất lúa 03 vụ là 33.000 ha. Đất đồi núi là 230
ha (Núi Tượng, Núi Ba Thê, Núi Sập, Núi Chóc).
Tổng dân số toàn huyện hiện nay là 181.328 người, trong đó có 90.301 nữ. Số
dân ở thành thị 44.336 người, ở nông thôn 136.992 người, chiếm 75,55% dân số,
trong đó 67.768 nữ. Sống tập trung ở địa bàn dân cư và rải rác ở các tuyến kênh
rạch chằng chịt. Là huyện có tìm năng kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, có
nguồn lao động khá dồi dào, lao động trong độ tuổi lao động 119.182 người, chiếm
66% so tổng dân số; trong đó có 61.259 nữ, chiếm 51% lao động. (Theo số liệu
thống kê năm 2013).
Trong những năm qua, mặc dù nền kinh tế của huyện phải đối mặt với nhiều
khó khăn, thách thức do dịch bệnh, lạm phát, giá cả tăng cao, tác động của cuộc
khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới. Nhưng với quyết tâm của cả hệ
thống chính trị từ huyện đến xã, sự chỉ đạo, điều hành của Huyện ủy, Ủy ban nhân
dân, sự nổ lực của các ngành, các xã, thị trấn nên tình hình kinh tế, xã hội của
huyện vẫn duy trì khả năng tăng trưởng cao, có hướng ổn định và chuyển biến rõ
nét: diện tích sản xuất và sản lượng lương thực đứng đầu cả tỉnh, giao thông nông
thôn phát triển mạnh, đời sống người dân từng bước được nâng lên rõ rệt. Được
phân bố trên các lĩnh vực kinh tế: nông – lâm – ngư nghiệp chiếm 60%, công
nghiệp – tiểu thủ công nghiệp chiếm 7%, thương mại - dịch vụ 33%;Tốc độ tăng

thuê, mướn. Trong những năm qua để hỗ trợ thì Nhà nước đã đầu tư bằng nhiều
hình thức để giúp đỡ các hộ này từng bước thoát khỏi cảnh nghèo, hầu hết các hộ
đều được cho vay vốn để sản xuất, vay vốn để học tập và thực hiện một số nhu cầu
dân sinh khác, được chăm sóc y tế khám chữa bệnh miễn phí, cất nhà đại đoàn kết,
được giảm học phí… Nhưng qua thực tế trước đây thì hầu hết các hộ này nhà ở đều
tạm bợ, phải di dời, không có việc làm, không có phương tiện để sinh sống, Nhà
nước đã phải thực hiện nhiều chính để hỗ trợ và giúp đỡ. Từ các chương trình này
thay vì người nghèo phải từng bước ổn định, nhưng lại lâm vào cảnh nghèo lại càng
nghèo thêm, lại mang nợ đối với Nhà nước.
Từ hiện trạng thất nghiệp, không có việc làm, đưa đến hiện tượng có một bộ
phận người nghèo phải tìm cách sinh nhai bằng mọi cách, bất chấp pháp luật gây ra
các tệ nạn xã hội, cờ bạc,… làm tình hình an ninh trật tự xã hội mất ổn định.
Thực tế này đang xảy ra hàng ngày, hàng giờ đối với địa phương chúng ta,
trở thành vấn đề bức xúc là mối lo của xã hội, do đó để ổn định sản xuất, đời sống,


14

để kinh tế, xã hội phát triển là vấn đề rất bức xúc trong giai đoạn hiện nay. Các
ngành, các cấp và nhân dân phải đồng tâm nhất trí, kiên trì thực hiện, chỉ có việc
học nghề và làm nghề ổn định thì đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân mới
ổn định. Đây là vấn đề hết sức nhạy cảm và đầy khó khăn thử thách. Giải quyết
công ăn, việc làm cho các hộ nghèo, không chỉ bó gọn vào vấn đề là vốn, mà còn là
vấn đề kiến thức, kinh nghiệm, thậm chí cả ý chí vươn lên, không những phải thực
hiện một thời ngắn mà phải đòi hỏi phải thực hiện thường xuyên, lâu dài và liên
tục. Phải có sự kết hợp đồng bộ trên mọi tầng lớp, mọi ngành, của cả cộng đồng
cùng tham gia về nhiều lĩnh vực về đời sống, văn hoá, xã hội thì mới đạt được mục
đích của chương trình.
2.2. Kết quả hỗ trợ học nghề, tạo việc làm cho phụ nữ ở huyện Thoại
Sơn trong thời gian qua

Trong những năm qua, đã phối hợp tổ chức các buổi tập huấn về chuyển giao
khoa học kỹ thuật, chuyển đổi cơ cấu kinh tế cây trồng, vật nuôi,… có 12.673 lượt
phụ nữ tham gia.
Phối hợp mở 128 lớp dạy nghề: may công nghiệp, nấu ăn, đan giỏ xách, thêu,
bó chổi, vẽ hoa văn làm móng, xâu kết hạt chuỗi, hạt cườm, cắt uốn tóc,... có 3.167
học viên, tỷ lệ lao động có việc làm sau đào tạo nghề đạt khoảng 70% chủ yếu tự
tạo việc làm; giới thiệu việc làm cho 7.207 con em hội viên, phụ nữ có việc làm
góp phần cùng địa phương thực hiện chính sách an sinh xã hội.
Góp phần tăng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề từ 11,5% lên 22,05%. Số lao
động nữ thoát nghèo sau khi học nghề 41 lao động.
Do phụ nữ không có điều kiện đi xa học nghề, trung tâm dạy nghề của huyện
đã phối hợp với Hội liên hiệp phụ nữ các xã, thị trấn mở lớp dạy nghề tại chỗ. Thời
gian học do các chị em chủ động sắp xếp phù hợp với công việc gia đình. Vừa được
học nghề miễn phí, lại chu tất việc nhà và con cái, đặc biệt có việc làm ngay sau khi
học, mà không phải đi đâu xa.
Trong các năm qua từ khi triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ học nghề,
tạo việc làm cho phụ nữ nông thôn theo quyết định 1956 của Thủ tướng Chính phủ
thì việc áp dụng các chính sách hỗ trợ cho người học nghề được thực hiện đúng
theo quy định, đúng theo định mức hỗ trợ cho từng nhóm đối tượng cụ thể của đề
án và các văn bản hướng dẫn của TW, của tỉnh.
Đối với phụ nữ nông thôn thuộc Nhóm đối tượng thứ nhất: (gồm các đối
tượng là người có công với cách mạng, hộ nghèo, hộ dân tộc thiểu số, người tàn tật,
người bị thu hồi đất canh tác) thì sẽ được hỗ trợ toàn bộ chi phí cho một khóa học
tối đa là 3.000.000 đồng; hỗ trợ tiền ăn cho mỗi ngày học là 15.000 đồng, hỗ trợ
tiền xe đi lại theo giá vé giao thông công cộng mức tối đa không quá 200.000
đồng/người/ khóa học đối với người học nghề xa nơi cư trú từ 15 km trở lên.


16


Thông qua các lớp dạy nghề, sau đào tạo huyện đã chỉ đạo khuyến khích, hỗ trợ
phụ nữ phát triển sản xuất, kinh doanh; vận động, hỗ trợ phụ nữ phát triển sản xuất,


17

kinh doanh theo quy hoạch phát triển kinh tế của địa phương; hỗ trợ xây dựng các
mô hình sản xuất, kinh doanh hiệu quả, bền vững.
2.2.2. Hạn chế và nguyên nhân
2.2.2.1. Về hạn chế
Bên cạnh những thành tựu đạt được, công tác hỗ trợ học nghề, giải quyết việc
làm cho Phụ nữ ở huyện Thoại Sơn Thời gian qua vẫn còn một số hạn chế sau:
Thứ nhất: Một bộ phận phụ nữ chưa xác định nghề để học, để làm; phần nhiều
là thiếu thông tin về các chính sách hỗ trợ đào tạo nghề; tạo việc làm, thiếu thông
tin về các nghề để lựa chọn gắn với việc làm tại chỗ.
Thứ hai: Một số ngành nghề phù hợp với phụ nữ có thời gian nhàn rỗi hoặc
phụ nữ không có điều kiện đi làm xa, cần làm nghề tại nhà thì sản phẩm làm ra tiêu
thụ không bền vững, hoặc giá cả chưa phù hợp, làm cho một số ngành nghề không
duy trì lâu dài, do vậy một số ngành nghề truyền thống không phát triển.
Thứ ba: Trình độ học vấn thấp dẫn đến khả năng tiếp thu học nghề còn hạn
chế, một bộ phận phụ nữ có tay nghề nhưng do hoàn cảnh gia đình, không có điều
kiện đi tìm việc làm phù hợp có thu nhập cao, bỏ lỡ cơ hội tìm việc làm và không
phát huy được tay nghề.
Thứ tư: Đa số phụ nữ thiếu hiểu biết về kỹ thuật một số tay nghề đang sản
xuất tại địa phương như sản xuất lúa, màu, nuôi cá, tôm, chăn nuôi gia súc,… nên
sản phẩm đạt năng suất thấp, thiếu sức cạnh tranh.
Thứ năm: Các chính sách hỗ trợ học viên, giáo viên hiện đã không còn phù
hợp với thực tế, bởi vì: với mức chi được quy định còn nhiều bất cập so với thực tế
cụ thể: Tiền thù lao giáo viên giảng dạy 25.000 đồng/giờ là quá thấp, phải đi giảng
quá xa nên khó mời được giáo viên. Tiền ăn 15.000đồng/ngày học là quá thấp

nữ.
Chưa có cơ chế chính sách hỗ trợ các cơ sở tham gia tư vấn miễn phí về học
nghề, hỗ trợ tìm việc làm sau khi học nghề, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm cho lao động
nông thôn.
Việc kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả đào tạo và sử dụng kinh phí dạy
nghề cho lao động nông thôn đã thực hiện nhưng hiệu quả chưa cao.
+ Về tổ chức thực hiện:
Công tác thông tin, tuyên truyền, tư vấn dạy nghề cho phụ nữ là lao động nông
thôn còn nhiều bất cập, chưa được thực hiện thường xuyên, liên tục nhất là vùng
sâu, vùng xa, do đó nhiều phụ nữ chưa nắm bắt được các chủ trương chính sách của
Đảng và Nhà nước về học nghề.
Một số Hội Phụ nữ cơ sở chưa tích cực và chủ động tham mưu đề xuất xây
dựng kế hoạch dạy nghề gắn với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương;


19

hạn chế về năng lực tổ chức triển khai; công tác tuyên truyền, tư vấn, vận động hội
viên, phụ nữ đăng ký học nghề còn ít, chưa hỗ trợ cho những đối tượng lao động
chính là chị em hội viên, phụ nữ tìm kiếm việc làm, hướng dẫn vay vốn tín dụng
sau đào tạo nghề và hỗ trợ việc tiêu thụ sản phẩm.
Công tác tổ chức dạy nghề cho phụ nữ chưa có sự phối hợp chặt chẽ của các
ban, ngành, đoàn thể từ huyện đến cơ sở, do đó tỷ lệ lao động nữ được học nghề
thấp.
Việc xây dựng chương trình dạy nghề chưa thu hút được sự tham gia của các
doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ nên chưa đảm bảo sự phù
hợp với yêu cầu của người sử dụng lao động và sự thay đổi của công nghệ, khoa
học kỹ thuật trong thực tiễn sản xuất.
Lao động nữ sau khi học nghề còn lúng túng trong việc lựa chọn nghề, tìm
kiếm việc làm.

hiện nay chưa có một cơ chế rõ ràng để huy động doanh nghiệp tham gia đào tạo
cùng trung tâm.
III. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP HỖ TRỢ HỌC NGHỀ,
TẠO VIỆC LÀM CHO PHỤ NỮ HUYỆN THOẠI SƠN GIAI ĐOẠN 2015
-2020
3.1. Quan điểm hỗ trợ học nghề, tạo việc làm cho phụ nữ huyện Thoại
Sơn giai đoạn 2015 - 2020
Thứ nhất: Học nghề, lập nghiệp là quyền lợi và nghĩa vụ của lao động nữ, phụ
nữ chủ động tham gia học nghề để đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động, góp
phần tăng sức cạnh tranh của nguồn lực; tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội.
Thứ hai: Tăng cơ hội học nghề, tạo việc làm cho phụ nữ; đặc biệt phụ nữ khu
vực nông thôn, phụ nữ độ tuổi trung niên, phụ nữ dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt
khó khăn, vùng di dời, giải tỏa, chuyển đổi mục đích sản xuất kinh doanh, sử dụng
đất.
Thứ ba: Đổi mới và phát triển đào tạo nghề cho phụ nữ theo hướng nâng cao
chất lượng, hiệu quả đào tạo và tạo điều kiện thuận lợi để phụ nữ nông thôn tham
gia học nghề phù hợp với trình độ học vấn, điều kiện kinh tế và nhu cầu học nghề
của mình.
3.2. Mục tiêu hỗ trợ học nghề, tạo việc làm cho phụ nữ huyện Thoại Sơn
giai đoạn 2015 - 2020
3.2.1. Mục tiêu chung
Đa dạng hóa các hình thức dạy nghề gắn với giải quyết việc làm phù hợp với
điều kiện của phụ nữ. Góp phần bảo đảm quyền được học nghề và có việc làm của
phụ nữ trong Luật Bình đẳng giới; tăng tỷ lệ lao động nữ được đào tạo nghề và


21

nâng cao chất lượng, hiệu quả sức cạnh tranh của lao động nữ; tạo cơ hội để phụ nữ
có thể tìm kiếm việc làm có thu nhập ổn định, giúp xóa đói, giảm nghèo và nâng


22

thực tế hiện nay, nền kinh tế của huyện Thoại Sơn còn nghèo, ngân sách phụ thuộc
nhiều vào nguồn ngân sách của tỉnh, tiềm năng kinh tế có hạn, do vậy việc thực
hiện tốt các chính sách quốc gia trong tạo việc làm có vai trò hết sức quan trọng,
góp phần tích cực trong công tác giải quyết việc cho lao động nói chung, cho phụ
nữ nói riêng.
3.3.1.2. Tăng cường chính sách quan tâm chăm sóc sức khỏe và đảm bảo thực
hiện pháp luật về quyền của lao động nữ
Huyện cần tiếp tục rà soát và đề xuất sửa đổi những vấn đề cấp cập trong việc
giải quyết các chế độ về bảo hiểm y tế với lao động nữ để cải thiện các dịch vụ
chăm sóc sức khỏe, nhất là sức khỏe sinh sản của phụ nữ và phải đưa các dịch vụ
này vào danh mục bảo hiểm y tế. Thực hiện các chương trình hỗ trợ để phụ nữ có
cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội, đặc biệt là các dịch vụ chất lượng cao về y tế,
giáo dục… Hội liên hiệp phụ nữ cần tích cực phát huy vai trò của mình trong việc
phối hợp tổ chức, ban ngành để tổ chức các lớp tập huấn, truyền thông về kiến thức
chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ; quan tâm giáo dục kiến thức nuôi con bằng sữa mẹ;
tổ chức khám chữa bệnh định kỳ và theo chiến dịch tại các địa bàn cơ sở…
Cần đẩy mạnh tăng cường công tác tuyên truyền, tư vấn và trợ giúp pháp lý
cho phụ nữ; thành lập và duy trì hoạt động câu lạc bộ phụ nữ với pháp luật; câu lạc
bộ trợ giúp pháp lý nhằm nâng cao kiến thức pháp luật cho phụ nữ để nhận thức
đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Bên cạnh đó, chính sách hỗ trợ về thu
nhập cho gia đình của lao động nữ cần được quan tâm. Có các chính sách hỗ trợ
cho lao động nữCó các chính sách hỗ trợ cho lao động nữ khi họ không thể tham
gia vào thị trường lao động hoặc khi họ bị thất nghiệp; mở rộng đối tượng thụ
hưởng, nhất là đối với phụ nữ đang lao động trong khu vực doanh nghiệp phi chính
thức, hộ gia đình phụ nữ nghèo ở nông thôn…
3.3.1.3. Thực thi mạnh mẽ chính sách bình đẳng giới trong lao động và việc
làm

nghể đạt kết quả cao nhằm khuyến khích phụ nữ tích cực trong học nghề, làm nghề
tốt.
Xây dựng kế hoạch truyền thông về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của việc học
nghề và làm nghề đối với phụ nữ.
Xây dựng biên soạn tài liệu và tổ chức bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng tuyên
truyền vận động đối với đội ngũ tuyên truyền của Hội tại các chi, tổ phụ nữ ấp.
Khen thưởng, biểu dương những cá nhân, cán bộ Hội có nhiều thành tích
trong vận động hội viên, phụ nữ và con em hội viên, phụ nữ tham gia học các lớp
dạy nghề.


24

3.3.2.2. Nghiên cứu, giám sát việc thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách
pháp luật của Nhà nước về học nghề và tạo việc làm cho phụ nữ
Hội Liên hiệp phụ nữ chủ trì phối hợp với Phòng Lao động - Thương binh và
Xã hội, Phòng Tư pháp:
Rà soát hệ thống văn bản pháp luật, chính sách dạy nghề, học nghề và tạo việc
làm liên quan đến phụ nữ để triển khai thực hiện đúng quy định, đảm bảo quyền lợi
của lao động nữ.
Tập huấn khảo sát thu thập thông tin, số liệu về các vấn đề liên quan đến dạy
nghề, học nghề và tạo việc làm cho phụ nữ.
Tổ chức xử lý thông tin, phân tích thông tin sau khảo sát và làm báo cáo kết
quả cho lãnh đạo.
Kiểm tra, giám sát đánh giá việc thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước về học nghề và tạo việc làm cho phụ nữ.
3.3.2.3. Xây dựng chương trình, giáo trình dạy nghề đặc thù cho phụ nữ
Phát triển chương trình, giáo trình dạy nghề phù hợp với các cấp độ đào tạo
cho lao động nữ; chú trọng cập nhật kỹ thuật, công nghệ mới cho các nghề truyền
thống, nghề có thu nhập cao, thu hút nhiều lao động nữ.

làm phù hợp với từng nhóm đối tượng tại cơ sở;
Tổ chức, tham gia ngày tư vấn và tuyển dụng lao động trực tiếp, ngày hội việc
làm, sàn giao dịch việc làm của tỉnh, huyện và doanh nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh.
Hỗ trợ xúc tiến thương mại sản phẩm do phụ nữ làm ra (sản phẩm từ các địa
phương, làng nghề, cơ sở sản xuất kinh doanh do nữ làm chủ, doanh nghiệp sử
dụng lao động nữ) thông qua các Hội chợ trong và ngoài tỉnh.
Hỗ trợ tín dụng chính thức (từ nguồn vốn uỷ thác với Ngân hàng Chính sách
xã hội, vốn giải quyết việc làm, tín chấp với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn) và bán chính thức (từ nguồn hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, phong trào
tiết kiệm của phụ nữ…) để hỗ trợ phụ nữ sau học nghề phát triển sản xuất kinh
doanh, tạo việc làm, tăng thu nhập.
3.3.2.5. Kiện toàn và đổi mới tổ chức các hoạt động của dịch vụ tư vấn, tạo
việc làm cho phụ nữ
Hoạt động của các dịch vụ tư vấn, tạo việc làm đã và đang có những đóng góp
quan trọng trong việc giới thiệu việc làm cho phụ nữ. Do đó cần đẩy mạnh hoạt
động của hệ thống trung tâm dạy nghề, giới thiệu việc làm; Phối hợp chặt chẽ với
các doanh nghiệp để khảo sát, nắm bắt kịp thời nhu cầu sử dụng lao động nữ của
các doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của Trung tâm dạy nghề
trong lĩnh vực thông tin thị trường lao động, tư vấn pháp luật lao động và tạo việc
làm cho phụ nữ.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status