THIẾT KẾ THÍ NGHIỆM KÍCH THÍCH TÍNH TÍCH CỤC NHẬN THỨC CHO
TRẺ 5-6 TUỔI KHÁM PHÁ THIÊN NHIÊN VÔ SINH
NCS - Ths. Nguyễn Thị Triều Tiên - Nguyễn Thị Ngọc Nhung
Trường Đai học sư phạm – Đại học Đà Nẵng
Email:
Sđt: 0935.967.333
Tóm tắt :
Thiên nhiên vô sinh là một thế giới tuy khô cằn nhưng lại chứa đựng hàng vạn
dấu chấm hỏi. Thí nghiệm với bản chất của nó là thú vị và mang lại nhiều sự bất ngờ,
kích thích trí tò mò của trẻ mà ở đó trẻ thực hiện nhiệm vụ nhận thức dưới dạng trò chơi.
Muốn trẻ chủ động trong hoạt động khám phá thiên nhiên vô sinh phải kích thích được
tính tích cực ở trẻ. Để tạo được cơ hội ấy, việc đưa vào và sử dụng các thí nghiệm để
giúp trẻ thỏa mãn được nhu cầu tiếp xúc; nhu cầu thao tác; nhu cầu trải nghiệm; nhu cầu
khám phá là cần thiết…Qua đó, đứa trẻ sẽ được phát triển trí tuệ, tư duy logic, sự chú ý,
ghi nhớ, khả năng quan sát và cả sự đam mê để dẫn đến kết quả duy nhất ở trẻ “ tập trung
ý chí huy động toàn bộ thể lực, trí tuệ, tinh thần để đạt được mục đích đã đề ra”.. Bài
viết đưa ra những cơ sở lí luận, thực trạng… Đặc biệt là đưa ra qui trình thiết kế và giới
thiệu một số các thí nghiệm đã được thiết kế, góp phần làm phong phú, sinh động và hấp
dẫn thêm hệ thống thí nghiệm kích thích tính tích cực nhận thức cho trẻ 5-6 tuổi khám
phá thiên nhiên vô sinh.
Đặt vấn đề:
Thiên nhiên vô sinh là những sự vật hiện tượng trong thế giới tự nhiên bao gồm
sỏi, đất, cát, đá, nước, không khí, ánh sáng…. Vật liệu trong thiên nhiên vô sinh vừa là
phương tiện, vừa là đối tượng kích thích trẻ hoạt động phát triển về thể chất và tinh thần.
Vì chính điều đó mà trẻ phát hiện ra những điều kì thú, hấp dẫn làm nảy sinh ở trẻ những
cảm xúc tinh tế tạo ra trạng thái tinh thần dễ chịu và thoải mái. Có thể nói rằng nơi nào
có sỏi, cát, đất, nước, … thì nơi đó có sức quyến rũ đối với trẻ, vì đến với thiên nhiên vô
sinh là sở thích vốn có của trẻ.
Thí nghiệm với nhiều tính chất của việc thử nghiệm khoa học cơ bản trong học
kiếm, thí nghiệm trong thực tiễn để đi đến kết luận về điều dự đoán trước hoặc trả lời
những thắc mắc trong suy nghĩ” [10, tr. 73].
Tác giả Hoàng Thị Oanh cho rằng, đối với trẻ MN thì “thí nghiệm là việc tổ chức
cho trẻ hành động tác động vào đối tượng, làm thay đổi đối tượng nhằm kiểm
nghiệm một tính chất nào đó của sự vật hoặc tạo dựng lại một hiện tượng nào đó trong
tự nhiên”. [7, tr. 69].
Đồng ý kiến với các tác giả trên, theo chúng tôi, đối với trẻ MN, có thể hiểu “Thí
nghiệm là quá trình GV tổ chức cho trẻ tác động lên một sự vật, hiện tượng nào
đó, làm thay đổi nó trong một điều kiện nhất định để quan sát sự thay đổi của sự vật,
hiện tượng nhằm rút ra kết luận về đặc điểm, tính chất và mối liên hệ giữa các sự vật
hiện, hiện tượng đó.”
2.3. Khái niệm thiết kế:
Thiết kế là một thuộc tính có sẵn và nó không phải là kỹ năng có từ khi sinh ra.
Nó là một đặc điểm có được từ sự cống hiến liên tục từ những gì bạn làm và từ những
việc cực kỳ khó khăn đặt trong sự hiểu biết và học tập những nguyên tắc cơ bản của thiết
kế và sử dụng nó hiệu quả.
“Thiết kế không đơn giản chỉ là tập hợp rồi sắp xếp, hoặc thậm chí chỉnh sửa; Nó là việc
thêm các giá trị và ý nghĩa, để minh họa, để đơn giản hóa, để làm rõ, để thay đổi , để
làm cho đẹp đẽ, để kịch tính hóa, để thuyết phục và thậm chí để giải trí.”
– Paul Rand –
2.4. Khái niệm thiết kế thí nghiệm:
Thiết kế thí nghiệm là xây dựng mô hình về qui trình thực hiện một thí nghiệm
dưới hình thức gọi trò chơi mà nó gồm có cách thức chơi, mục đích chơi, luật chơi, nhằm
hướng đến giải quyết những vấn đề dã đưa ra trong giả thuyết ban đầu của thí nghiệm để
đưa ra kết luận củng cố hình thành biểu tượng về thiên nhiên vô sinh khám phá môi
trường xung quanh.
2.5. Tính tích cực:
Tính tích cực là một phẩm chất quan trọng của nhân cách là thái độ cải tạo của
về một số hiện tượng tự nhiên thuộc lĩnh vực giáo dục phát triển nhận thức. Nội dung
khám phá thiên nhiên vô sinh dành cho trẻ 5 - 6 tuổi bao gồm khám phá:
* Nước:
- Các nguồn nước trong môi trường sống.
- Ích lợi của nước với đời sống con người, con vật và cây.
- Một số đặc điểm, tính chất của nước.
- Nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước và cách bảo vệ nguồn nước
* Không khí:
- Đặc điểm, tính chất của không khí.
- Sự cần thiết của nó với cuộc sống con người, con vật và cây cối.
- Cách bảo vệ nguồn không khí trong sạch.
* Đất, đá, cát, sỏi:
- Khám phá một vài đặc điểm, tính chất của đất, đá, cát, sỏi...
5. Các yêu cầu khi tổ chức tiến hành tổ chức thí nghiệm:
Để thí nghiệm được tổ chức hiệu quả thì việc lựa chọn, thiết kế các thí nghiệm là rất
quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến nội dung, mục đích của bài dạy, chính vì thế để
lựa chọn, thiết kế thí nghiệm cho trẻ thì giáo viên cần lưu ý:
Phải đảm bảo tạo ra sự thay đổi rõ ràng để giúp trẻ nhận biết, phân biệt.
Dễ thực hiện, không đòi hỏi các điều kiện đặc biệt, là những sự vật, hiện tượng gần gũi
với cuộc sống của trẻ.
Phải đảm bảo tính nhân văn, không gây thiệt hại cho vật thí nghiệm, không làm tổn
thương đến tâm hồn của trẻ.
Thí nghiệm cần được tiến hành trong khoảng thời gian nhất định, không thiết kế các thí
nghiệm có thời gian kéo dài quá lâu vì dễ làm trẻ quên mất những gì xảy ra ban đầu.
Phải đảm bảo an toàn cho trẻ trong quá trình làm thí nghiệm (an toàn về dụng cụ, vật
liệu…).
Những điều thú vị trong khoa học vô cùng phong phú và hấp dẫn trẻ, tuy nhiên mỗi thí
nghiệm có những đặc trưng riêng. Chính vì vậy không phải thí nghiệm nào cũng có thể
đó phải phù hợp với việc sử dụng thí nghiệm nhằm giúp trẻ lĩnh hội được kiến thức một
cách chính xác và đầy đủ nhất. Dựa trên nguyên tắc dạy trẻ khám phá khoa học, nội dung
cần được sắp xếp từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp.
Bước 4: Xác định các nhiệm vụ nhận thức có thể giải quyết bằng con đường sử dụng thí
nghiệm. Thông thường đó là nhiệm vụ khó hoặc không thể thực hiện được bằng phương
pháp, biện pháp khác (quan sát, đàm thoại, trò chơi…), như các nhiệm vụ hình thành ở
trẻ những hiểu biết về mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng, mối quan hệ nhân – quả.
Bước 5: Thiết kế thí nghiệm và lựa chọn, tìm kiếm đồ dùng để thực hiện thí nghiệm trên
cơ sở những đồ dùng, dụng cụ có sẵn ở địa phương. Nó bao gồm xác định hành động thí
nghiệm, thời gian tiến hành, dự kiến kết quả xảy ra, cách thức ghi chép kết quả thí
nghiệm.
Để thiết kế thí nghiệm giáo viên cần có kiến thức về môi trường xung quanh tương đối
rộng và phải nhạy cảm với những thay đổi của thiên nhiên xung quanh. Từ đó có thể
thiết kế và lựa chọn, tìm kiếm đồ dùng để thực hiện thí nghiệm phù hợp và chính xác
nhất. Hành động chơi của thí nghiệm được lựa chọn dựa vào nội dung khám phá, dựa
vào nhiệm vụ nhận thức đã được xác định và điều điện của trường lớp. Những hành động
chủ yếu được sử dụng như: phán đoán, suy luận, quan sát, so sánh…và kĩ năng thực hiện
khéo léo của đôi bàn tay cũng như óc tập trung (đối với thí nghiệm trẻ có thể tự thực hiện
được).
Trước khi tiến hành thí nghiệm, giáo viên cần hỏi trẻ các câu hỏi như “Theo các con điều
gì sẽ xảy ra?”, “Cây cần tây này sẽ như thế nào sau khi cô ngâm vào nước màu?”, “Cho
quả trứng vào nước muối điều gì sẽ xảy ra?”…Các câu hỏi này sẽ giúp phát triển khả
năng tư duy, tổng hợp…giúp trẻ chú ý quan sát vào các hiện tượng xảy ra. Đối với những
thí nghiệm đơn giản, không nguy hiểm trẻ có thể thực hiện, giáo viên tổ chức cho trẻ
thực hiện thí nghiệm. Yêu cầu trẻ cẩn thận, tập trung và thực hiện một cách khéo léo.
Bước 6: Giáo viên thử thực hiện thí nghiệm đã thiết kế để kiểm tra giả thuyết đặt ra. Điều
chỉnh, hoàn thiện thí nghiệm và tổ chức cho trẻ thực hiện.
7. Hệ thống một số thí nghiệm nhằm giúp trẻ 5-6 tuổi khám phá thiên nhiên vô sinh.
Thí nghiệm 1: Cầu vồng giấy
-
Bước 3:Trẻ thực hiện thí nghiệm.
+Cô đặt 7 cốc thành một hàng ngang. Từ từ đổ nước vào 4 ly xen kẽ nhau.
+ Cho trẻ quan sát màu sắc, ngửi và nếm nước.
+ Đặt giáy ăn 1 đầu váo cốc có nước đầu kia vào cốc không nước, đặt mảnh
giấy tiếp theo vào cốc không nước và 1 đầu còn lại vào cốc có nước kế tiếp, lần
lượt đặt giấy ăn vào từng cốc vậy cho đến hết 7 cốc.
+ Cho trẻ quan sát nước có thấm dần đều hết giấy ăn không? Và màu của giấy
ăn là màu gì?
+ Thêm lần lượt từng màu vào trong cốc nước. cốc đầu tiên và cuối cùng là màu
đỏ, và 2 cốc có nước ở giữa là màu xanh dương và màu vàng.
+ Cho trẻ quan sát màu có hòa tan trong nước không?
+ 2 tiếng sau quan sát kết quả thí nghiệm.
Bươc 4: Trẻ quan sát và phân tích kết quả.
+ Nước màu đỏ từ cốc đầu tiên và nước màu vàng từ ly thứ 3 theo đầu giấy ăn
thấm vào nhau và truyền 2 màu nước theo đường giấy ăn vào ly không nước hòa
quyện thành màu cam.
+ Nước màu vàng ly thứ 3 và nước màu xanh dương vào ly thứ 5 theo đầu giấy
ăn thấm vào nhau và truyền 2 màu nước theo đường giấy ăn vào ly không nước
hòa quyện thành thành màu xanh lá cây.
+ Nước màu xanh dương ly thứ 5 và nước màu đỏ ly thứ 7- ly cuối cùng, theo
đầu giấy ăn thấm vào nhau và truyền 2 màu nước theo đường giấy ăn vào ly
không nước hòa quyện thành màu tím.
Bước 5: Trẻ giải thích và nhận xét theo cách hiểu của mình
Bước 6: Kết luận của giáo viên
+ Nước không màu không mùi không vị.
+ Nước có thể hòa tan với dung dịch có màu khác.
+ Nước có thể thấm trên giấy ăn va truyền nước đến nơi không có nước.
+ Màu đỏ và màu vàng hòa chung thành màu cam. Màu vàng và màu xanh
nước bốc hơi ( chứ không phải do cá uống hết )
+ Nhiệt độ càng cao, nước bốc hơi càng nhanh.
- Bước 7 : ghi nhận, chia sẻ kết quả.
Thí nghiệm 3: Chai nước thần kì.
( hình ảnh minh hoa cho thí nghiệm )
Mục đích:- cho trẻ hân biệt được giữa nước và giấm.
Cho trẻ biết thêm tính chất của nước khi hòa tan với giấm phản ứng với bột soda là
có thể tạo thành bọt khí dư.
Chuẩn bị: 1 chai nước lớn, 1 cái thìa, 2 cái phễu nhựa, 1 quả bong bóng ( chưa thổi
), nước ( có thể uống được ), ít màu nước, nước giấm 1 chén bột soda.
Cách tiến hành:
- Bước 1: Xác định câu hỏi:
+ Theo các con biết gì về nước? Nước có những đặc điểm gì?
+ Giấm có mùi vị thế nào?
+ Sẽ ra sao nếu như đổ bột soda vào trong nước đã hòa với giấm?
+ sẽ có hiện tượng gì?
- Bước 2: Cho trẻ dự đoán phán đoán về tình huống của câu hỏi cô đưa ra.
- Bước 3: Tiến hành.
+ Đặt ống phễu thứ nhất vào trong miệng chai nước lớn và đổ nước vào ¼ chai.
+ Cho vào trong nước thêm 1 lượng giấm
+ Hòa vào trong hỗn hợp nước và giấm một số màu mà bé thích.
+ Đặt ống phễu còn lại vào trong miệng quả bóng và dần cho vào 2 muỗng bột
soda.
+ Rút 2 ống phễu ra và đặt miệng quả bóng vừa kín với miệng chai nước.
+ Dần dần đổ bột soda có trong bong bóng vào nước.
- Bước 4: Quan sát hiện tượng, kết quả thí nghiệm.
+ Càng đổ thêm bột soda , hỗn hợp giấm và nước sẽ có phản ứng nổi bọt trắng
đĩa).
+ Dùng tăm bông 2 đầu nhúng nhẹ vào chén xà phong rửa chén.
+ Ấn nhẹ tăm bông đó vào điểm màu đã cố định trước.
- Bước 4: Quan sát kết qua thí nghiệm.
-
+ Khi tăm bông được nhấn vào trong điểm màu , các khôi màu sẽ loan ra thành
vòng vòng theo đường mặt đĩa , hòa quyện vào nhau tạo thành một mảng màu
hỗn hợp ( rất đẹp ).
+ Phản ứng sẽ tiếp tục xảy ra nếu ta nhấn tiếp tăm bông đã được nhúng bọt xàng
bông rửa chén.
Bước 5: cho trẻ giải thích theo cách nghĩ của mình.
Bước 6: Củng cố cung cấp kiến thức.
+ sữa cũng là một loại dung môi dễ hòa tan và có thể hòa tan được với màu
nước, nhưng khi phán ứng với nước rửa chén chúng sẽ loang lỗ ra thành từng
mảng nhỏ, mà không bị hòa tan tạo thành cầu vông trên mặt nước.
Bước 7: Quan sát, ghi nhận kết quả thí nghiệm
Thí nghiệm 5: Cùng làm nước sạch.
Mục đích : Nhận biết được bông cũng có thể lọc nước sạch
Kĩ năng lọc nước đơn giản.
Có ý thức bảo vệ nước dùng cho sạch.
Chuẩn bị :
- Một bình đựng nước.
- Một chiếc phễu và 1 chút bông để trên miệng phễu.
- Một bình nước không sạch.
Cách tiến hành:
- Bước 1: Xác định câu hỏi :
- Có ý thức giữ gìn và bảo vệ đồ dùng trong cuộc sống.
Chuẩn bị:
- Chậu nước sạch.
- Một số đồ dùng vật dụng thấm nước: Phấn bông, vải mút, giấy báo cũ, giấy vệ
sinh.
- Một số vật dụng không thấm nước: Bát, đồ nhựa, đồ thủy tinh, đồ sứ….) đũa,
xốp…
Cách tiến hành :
- Bước 1: xác định câu hỏi:
+ Các con có bao giờ thả một vật gì vào nước chưa? Nó như thế nào?
+ Vậy theo các con nước có thể thấm tất cả mọi thứ?
- Bước 2: Cho trẻ phán đoán
- Bước 3: tiến hành thí nghiệm.
+ Sauk hi phỏng đoán đồ vật nào thấm nước và không thấm nước thì cho trẻ
kiểm nghiệm ý kiến cá nhân.
+ Thả lần lượt những vật mà trẻ phỏng đoán vào nước.
- Bước 4: Quan sát hiện tượng.
+ những đồ vật như khăn, xốp lau bảng, bông gòn bị thấm nước .
+ những vật như cục tẩy, xốp, đồ nhựa thì lại không thấm nước.
- Bước 5: Cho trẻ củng cố lại sự phán đoán đọc to tên những vật thấm và không
thấm nước.
- Bước 6: ghi nhận, chia sẻ kết quả.
Thí nghiệm 7: Cát dẻo.
( Hình ảnh minh họa cho thí nghiệm )
Mục đích: Cho trẻ khám phá được đất có độ mềm dẻo không khi trộn chung và
phản ứng với bột ngô và nước. Tạo thành đất có độ kết dính và có độ bám tốt như
đất sét.
Chuẩn bị: Bột ngô, cát, nước, khay đựng lớn, khuôn hình thù biểu tượng.
+ Sẽ như thế nào nếu như cát liên kết với chất chống ẩm và phản ứng với nước.
- Bước 2: Cho trẻ phán đoán,
- Bước 3: Tiến hành thí nghiệm.
+ cho bịch cát hồng vào trong khay
+ xịt chấm chống ẩm vào khay cát.
+ Dùng thìa trộn đều.
+ cho khay cát vào trong bình nước, và vứt cát ra lại.
- Bước 4: Quan sát kết quả thí nghiệm.
+ Khi xịt chất chống ẩm vào khay cát, không thấy hiện tượng gì.
+ Chỉ khi đổ khay cát đã được xịt chat chống ẩm vào nước ta thấy cát màu hồng
bị cô đặc, thành màu bạc hồng, thể rắn.
+ Nhưng khi vớt chất cát cô đặc đó ra lại thì cát trở lại hình dạng ban đầu.
-
-
Bước 5: Cho trẻ giải thích theo cách riêng của mình
Bước 6: Củng cố cung cấp thông tin.
+ Khi cát liên kết với chất chống ẩm tạo ra một lớp màng bao bọc chống thấm
nước cực dày. Nên khi thả cát vào trong nước, cát không những không thấm
nước mà con có hiện tượng kết tủa cô đặc, nhưng khi vớt ra ngoài nước tức
thoát ra khỏi môi trường ẩm ướt thì cát trở lại vị trí hiện trạng như ban đầu.
Bước 7: Chia sẻ, ghi nhận kêt quả.
Thí nghiệm 9: Quái vật trở lại từ lòng đất.
( Hình ảnh minh họa cho thí nghiệm )
Bước 4: Quan sát kết quả thí nghiệm.
+ hỗn hợp được đổ lên tô sau khi được châm lửa vào cát hỗn hợp bốc cháy.
+ Trong 1 phút đầu hỗn hợp chuyển thành màu đen nhú lên những chất có màu
đen.
+ Trong 10ph sau từ trong hỗn hợp xuất hiện trồi lên thấy rõ một chất màu đen
trào ra ngoài tô ( Quái Vật ).
Bước 5 : Cho trẻ giải thích theo cách hiểu riêng của trẻ.
Bước 6 : Cung cấp thông tin cho trẻ.
+ Cát khi được tưới cồn làm ẩm ướt sẽ tạo môi trường thích hợp để châm lửa
cho hỗn hợp bột soda và đường bốc cháy.
+ Khi bốc cháy bột soda và đường bắt lửa tốt bột soda gặp nhiệt độ cao sẽ phản
ứng nở mạnh nên sẽ có hiện tượng chất đen từ trong hỗn hợp trồi ra.
Bước 7 : Ghi nhận, chia sẻ thí nghiệm.
Thí nghiệm 10 : Thế giới nhỏ trong chai.
Mục đích: Bằng kiến thức trẻ mình, trẻ có thể tìm hiểu thêm và dự đoán những
nguyên liệu không hòa tan nào trong nước chìm và nổi khi trộn với nhau.
Chuẩn bị : 1 chai nước trong lớn. Nước. Dầu ăn. Cát, 10-20 hạt đậu xanh và đỏ.
Cách tiến hành thí nghiệm:
- Bước 1 : xác định câu hỏi.
+ Các con đã biết gì về dầu ăn? Các con thường thấy dầu ăn ở đâu? Dầu ăn có
công dụng gì?
+ sẽ như thế nào khi cô khổ tất cả mọi thứ với nhau? Theo các con cái gì sẽ nổi
lên trên mặt nước.
- Bước 2: Cho trẻ phán đoán dự đoán.
- Bước 3: Tiến hành thí nghiệm:
Đổ nước vào trong chai lớn. Lần lượt cho cát vào. Tiếp theo cho dầu ăn lên dầu
ăn , đổ thêm vài hạt đậu nành vào.
- Bước 4: Quan sát kết quả thí nghiệm.
Cát chìm xuống đầu tiên. Dầu ăn không chìm mà nỏi lên trên mặt nước. đặc biệt
-
Bước 3: Tiến hành thí nghiệm.
+ Trẻ dùng xẻng hoặc cào nhựa cào cát và xúc đổ đi, tạo thành đường rãnh chạy
dài theo ý thích. Khơi gợi trẻ tưởng tượng đây là rãnh của con sông chạy dài.
Hướng trẻ chia rẽ ra những nhánh đổ về các hồ nhỏ.
+ Cô đổ nước vào đầu rãnh vừa đào.
-
Bước 4: Quan sát kết quả thí nghiệm.
+ Cát ướt có thể dễ dàng giữ vững độ đứng khi đào rãnh.
+ Rãnh sau khi được đổ nước sẽ theo đưỡng rãnh đổ về nhiều nhánh khác nhau,
càng đổ nước liên tục, vì cát thấm nước nên rút đi.
-
Bước 5: Cho trẻ nêu nhận xét của mình.
-
Bước 6 : Chia sẻ, ghi nhận kết quả.
8. Khảo nghiệm tính khả thi của các thí nghiệm kích thích hứng thú cho trẻ 5-6 tuổi
khám phá thiên nhiên vô sinh.
Lập phiếu hỏi để đánh giá tính khả thi các thí nghiệm kích thích hứng thú mà tôi
đề ra tại bảng hệ thống các trò chơi để 20 giáo viên trong trường Sen Hồng tham khảo,
đánh giá ý kiến và áp dụng vào trong giảng dạy.
20%
3
Chai nước thần kỳ
17
85%
3
15%
4
Cầu vồng trên mặt nước
11
55%
9
45%
5
Cùng làm nước sạch
8
Cát ma thuật
17
85%
3
15%
9
Quái vật trở lại từ lòng đất.
17
85%
3
15%
10
Thế giới nhỏ trong chai.
16
thành công, đặc biệt là ở trẻ tỉ lệ thành công trong thí nghiệm không cao, giữ vệ sinh rất
khó quản lí từng trẻ, không những vậy ở khâu tổ chức khá phức tạp về ngoại cảnh không
gian chưa đủ điều kiện để trẻ thực hiện thí nghiệm khám phá thiên nhiên vô sinh và mức
độ khả thi về tính tích cực nhận thức chưa cao nên chưa đươc đánh giá là chưa khả thi.
8. Kết luận:
Khám phá nghiên cứu khoa học là một hoạt động quan trọng và cần thiết trong
chương trình giáo dục mầm non cho trẻ mẫu giáo nói chung và trẻ 5-6 tuổi nói riêng.
Thiên nhiên vô sinh là một cánh cửa kì thú, hấp dẫn đầy màu nhiệm không chỉ đối với
trẻ em mà còn là thế giới rộng lớn và đầy màu sắc của chúng ta. Qua quá trình khảo
nghiệm áp dụng một số thí nghiệm được hệ thống đề xuất ra nhằm giúp trẻ phtas huy
tính tích cực nhận thức khám phá thiên nhiên vô sinh Vì vậy giáo viên cần nắm vững
kiến thức, cách tổ chức, hướng dẫn, qui trình thiết kế thí nghiệm để xây dựng nên những
thí nghiệm mới lạ, hấp dẫn, phù hợp với trẻ đưa trẻ làm trung tâm của hoạt động, chủ
động khuyến khích trẻ đưa ra những ý kiến suy nghĩ của bản thân và đặt vấn đề với sự
vật hiện tượng, tạo môi trường thân thiện giúp kích thích sự hứng thú đem lại niềm say
mê trong hoạt động khám phá môi trường xung quanh.
TÀI LIỆU THAM KHẢO.
1. Nguyễn Ngọc Bảo ( 1983 ) – “ Một vài suy nghĩ về khái niệm tính tích
cực, tính độc lập nhận thức và mối quan hệ giữa chúng”, Thông tin khoa
học giáo dục, viện khoa học giáo dục Hà Nội.
2. Nguyễn Thị Thanh Giang, “ Một số hoạt động lí thú giúp trẻ Mẫu Giáo
Khám phá khoa học”.
3. Nguyễn Thị Thu Hiền - “Trò chơi, thí nghiệm tìm hiểu môi trường thiên
nhiên (trẻ 5 – 6 tuổi)” – NXB Giáo dục
4. Nguyễn Thị Hòa ( 2011 ) – “ Phát huy tính tính tich cực nhận thức của trẻ
mẫu giáo 5-6 tuổi trong trò chơi học tập “ , Nxb Đại Học Sư Phạm.
5. Hồ Lam Hồng, “ Trẻ mầm non khám phá khoa học”.
6. Minh Tân – Thanh Nghi – Xuân Lãm - Từ điển Tiếng Việt – Ngôn ngữ học
Việt Nam.