Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng do sán lá gan (fasciola spp ) gây ra ở trâu, bò tỉnh quảng ninh và biện pháp phòng, trị - Pdf 39

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

PHẠM MINH HẢI

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, BỆNH LÝ,
LÂM SÀNG DO SÁN LÁ GAN (FASCIOLA SPP.)
GÂY RA Ở TRÂU, BÒ TỈNH QUẢNG NINH
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG, TRỊ

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y

Thái Nguyên - 2015



ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

PHẠM MINH HẢI

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, BỆNH LÝ,
LÂM SÀNG DO SÁN LÁ GAN (FASCIOLA SPP.)
GÂY RA Ở TRÂU, BÒ TỈNH QUẢNG NINH
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG, TRỊ
Chuyên ngành: Thú y
Mã số ngành: 60 64 01 01

LUẬN VĂN THẠC SỸ THÚ Y
Người hướng dẫn khoa học: 1. TS. SA ĐÌNH CHIẾN
2. TS. NGÔ NHẬT THẮNG

nghiên cứu và hoàn thành Luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý Đào tạo – Sau Đại
học, Ban chủ nhiệm khoa và các thầy cô giáo Khoa Chăn nuôi Thú y- Trường Đại
học Nông lâm - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình học tập.
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các hộ gia đình nuôi trâu, bò tại huyện Đồng
Triều, Ba Chẽ, Vân Đồn và Thị xã Quảng Yên - tỉnh Quảng Ninh và các đồng
nghiệp trong ngành đã giúp tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Cuối cùng Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về sự ủng hộ, động viên, giúp đỡ
của gia đình, bạn bè và đồng nghiệp trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và
hoàn thành tốt luận văn này.

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2015.
Tác giả

Phạm Minh Hải


iii

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Tên bảng
Bảng 3.1. Phân chia các huyện, thành phố của tỉnh Quảng Ninh theo vùng

Trang
38

sinh thái chăn nuôi
Bảng 3.2. Số lượng trâu, bò của tỉnh Quảng Ninh năm 2010 - 2014


50

Bảng 3.10. Tỷ lệ nhiễm sán lá gan theo tuổi trâu, bò

52

Bảng 3.11. Tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở trâu, bò theo mùa vụ

54

Bảng 3.12. Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan lớn ở trâu, bò

56

Bảng 3.13. Sự ô nhiễm trứng sán lá gan ở chuồng và khu vực xung quanh
chuồng nuôi trâu, bò

58

Bảng 3.14. Sự ô nhiễm trứng sán lá gan ở khu vực bãi chăn thả trâu, bò

60

Bảng 3.15. Kết quả định loài ốc nước ngọt – ký chủ trung gian của sán lá
gan Fasciola sp.

61

Bảng 3.16. Tần suất xuất hiện của các loài ốc - ký chủ trung gian của sán

55

Hình 3.5. Biểu đồ về tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở trâu, bò theo mùa vụ

57


v

DANH MỤC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT

STT

Tên viết tắt

Tên đầy đủ

1

%

Phần trăm

2

ºC

Độ C

3


cs

Cộng sự

10

g

Gam

11

kg

Kilogam

12

m

Mét

13

mg

Miligam

14


VN²

Vòng ngực bình phương

20

mx

Sai số trung bình mẫu

21

Sx

Độ lệch tiêu chuẩn

22

P

Trọng lượng trâu, bò

23

VT

Vi trường



bò ở tỉnh Quảng Ninh ................................................................................................28


vii

2.3.2. Điều tra các yếu tố ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển sán lá Fasciola và
bệnh do chúng gây ra ................................................................................................28
2.3.3. Nghiên cứu tình hình nhiễm sán lá gan ở trâu, bò tại một số huyện, thị xã
thuộc tỉnh Quảng Ninh ..............................................................................................28
2.3.4. Nghiên cứu về ký chủ trung gian của sán lá gan ............................................29
2.3.5. Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh sán lá gan cho trâu, bò ........................29
2.4. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................................29
2.4.1. Điều tra về điều kiện tự nhiên, xã hộ và tình hình phát triển chăn nuôi trâu, bò
ở tỉnh Quảng Ninh trong 5 năm gần đây ...................................................................29
2.4.2. Điều tra các yếu tố ảnh hưởng đến sự lưu tồn và phát triển của Fasciola spp.
ở các địa điểm nghiên cứu.........................................................................................29
2.4.3. Phương pháp mổ khám, thu thập và định loại sán lá Fasciola spp. ký sinh ở
trâu, bò .......................................................................................................................30
2.4.4. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá Fasciola spp. ở trâu,
bò ...............................................................................................................................30
2.4.5. Phương pháp nghiên cứu trứng và ấu trùng sán lá Fasciola spp. ở ngoại cảnh
và trong ký chủ trung gian ........................................................................................31
2.4.6. Phương pháp xác định hiệu lực của thuốc tẩy sán lá Fasciola spp.................33
2.5. Phương pháp xử lý số liệu ..................................................................................34
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ..............................35
3.1. Điều tra về điều kiện tự nhiên, xã hội và tình hình phát triển chăn nuôi trâu, bò
ở tỉnh Quảng Ninh .....................................................................................................35
3.1.1. Điều kiện tự nhiên ...........................................................................................35
3.1.2. Tình hình phát triển chăn nuôi trâu, bò của tỉnh Quảng Ninh ........................39
3.2. Điều tra các yếu tố ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển sán lá Fasciola spp.

1. Kết luận .................................................................................................................66
2. Đề nghị………………………………………………………………………….66


1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngành chăn nuôi nước ta phát triển khá mạnh trong những năm gần đây, góp
phần quan trọng vào việc ổn định đời sống nhân dân và phát triển kinh tế - xã hội.
Trong đó, chăn nuôi trâu, bò có vai trò không thể thiếu trong việc giải quyết nhu cầu
thực phẩm, sức cày kéo và tăng thêm thu nhập cho người chăn nuôi, đặc biệt đối với
cư dân vùng cao, vùng trung du, miền núi. Tuy nhiên, ngành chăn nuôi trâu, bò vẫn
đang phải đối mặt với không ít khó khăn, trong đó có vấn đề dịch bệnh. Ngoài các
bệnh truyền nhiễm thì bệnh ký sinh trùng cũng là một trong những nguyên nhân làm
giảm năng suất chăn nuôi. Ký sinh trùng ký sinh trên cơ thể gia súc, chiếm đoạt chất
dinh dưỡng làm cho vật nuôi gày yếu. Một trong những bệnh ký sinh trùng thường
xảy ra và gây tác hại lớn đối với đàn trâu, bò là bệnh sán lá gan lớn (Fasciolosis).
Bệnh sán lá gan trâu, bò do các loài sán thuộc giống Fasciola gây nên. Các
loài sán này ký sinh chủ yếu ở trâu, bò và một số động vật ăn cỏ khác như dê, cừu,
ngựa, thỏ... Ngoài ra, sán lá gan còn ký sinh và gây bệnh cho người. Sán lá gan ký
sinh gây nhiều tác động xấu như làm giảm sức sinh trưởng, sinh sản ở trâu, bò: mỗi
sán ký sinh làm khả năng tăng khối lượng giảm 200 gam /năm (Sewell M. M. H.,
1966 [80]), tăng trọng hàng năm giảm 20 - 40 kg, tỷ lệ có thai giảm 10% (Sothoeun
S., 2007 [81]).
Ở nước ta, bệnh sán lá gan ở trâu, bò được phát hiện ở khắp các tỉnh từ Bắc
đến Nam. Tỷ lệ trâu, bò nhiễm sán lá gan thường cao và nhiều con nhiễm ở cường
độ nặng. Bệnh thường tiến triển chậm với biểu hiện không rõ ràng, không gây chết
hàng loạt nhưng làm giảm quá trình sinh trưởng và sinh sản của trâu, bò, tác động

3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học có giá trị về đặc điểm dịch tễ,
bệnh lý, lâm sàng và quy trình phòng chống bệnh sán lá gan cho trâu, bò.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu là những thông tin có giá trị khoa học và thực tiễn, làm
cơ sở để khuyến cáo người chăn nuôi trâu, bò thực hiện các biện pháp phòng và trị
sán lá gan lớn, nhằm đảm bảo sức khỏe đàn trâu, bò, góp phần phát triển chăn nuôi,
từ đó góp phần phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương ở tỉnh Quảng Ninh.


3

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Bệnh sán lá gan do hai loài sán lá Fasciola gigantica và Fasciola hepatica
gây ra.
Ký chủ của sán lá gan gồm ký chủ cuối cùng và ký chủ trung gian.
- Ký chủ cuối cùng thường thấy là các gia súc nhai lại như trâu, bò, dê, cừu.
Người ta cũng đã thấy sán lá gan ký sinh ở lợn, ngựa, thỏ, một số động vật hoang dã
và cả người.
- Ký chủ trung gian của sán Fasciola là các loài ốc nước ngọt thuộc họ
Lymnaea: Lymnaea auricularia, L. swinhoei, L. viridis, Radix ovata...
Sán Fasciola thường ký sinh ở ống dẫn mật. Một số trường hợp thấy sán ký
sinh ở tim, phổi, hạch lâm ba, tuyến tụy.
1.1.1. Vị trí của sán lá Fasciola trong hệ thống phân loại động vật học
Theo Nguyễn Thị Lê và cs. (1996a) [23], sán lá gan ký sinh và gây bệnh cho
gia súc nhai lại được xếp trong hệ thống phân loại động vật như sau:

túi sinh dục. Phần cuối của túi sinh dục được kitin hóa, gọi là cirrus, có chức năng
như dương vật. Buồng trứng phân nhánh ở phía trước tinh hoàn. Tử cung sán chứa
đầy trứng, uốn khúc thành hình hoa ở giữa ống dẫn noãn hoàng và giác bụng. Tuyến
noãn hoàng xếp dọc 2 bên thân và phân nhánh.
Có thể phân biệt hai loài sán lá gan thuộc giống Fasciola như sau:
* Loài F. gigantica (Linnaeus, 1758):
F. gigantica có chiều dài thân gấp 3 lần chiều rộng, "vai" không có hoặc nhìn
không rõ rệt, nhánh ruột chia toả ra nhiều nhánh ngang.
F. gigantica (nghĩa là sán lá “khổng lồ”) dài 25 - 75 mm, rộng 3 - 12 mm, u
lồi hình nón của đầu là phần tiếp theo của thân, vì vậy nó không có “vai” như loài
Fasciola hepatica. Hai rìa bên thân sán song song với nhau, đầu cuối của thân tù.
Giác bụng tròn lồi ra. Ruột, tuyến noãn hoàng, buồng trứng và tinh hoàn đều phân
nhánh. Trứng hình bầu dục, màu vàng nâu, phôi bào to đều và xếp kín vỏ. Kích
thước trứng: 0,125 - 0,170 x 0,06 - 0,10 mm (Phạm Văn Khuê và Phan Lục, 1996


5

[9]; Phạm Thị Trang, 2012 [38]; Hoàng Thị Ngân, 2012 [27]; Hoàng Văn Huân,
2013 [7]).
* F. hepatica (linnaeus, 1758):
- F. hepatica khác với loài F. gigantica. Loài này thân rộng, đầu lồi và nhô ra
phía trước làm cho sán lá có "vai", nhánh ruột chia ít nhánh ngang hơn.
- Phạm Diệu Thùy (2014) [37] cho biết: F. hepatica dài 18 - 51 mm, rộng 4 13mm, phần trước thân nhô ra, tạo cho sán lá có vai bè ra hai bên. Hai rìa bên thân
sán lá không song song với nhau mà phình ra ở chỗ vai rồi thót lại ở đoạn cuối thân.
Những ống dẫn tuyến noãn hoàng chạy ngang, chia vùng giữa của sán lá thành phần
trước và phần sau thân. Phần sau thân có tinh hoàn và bộ phận sinh dục đực. Tinh
hoàn phân nhiều nhánh xếp phía sau thân. Tử cung ở phần giữa thân trước tạo nên
một mạng lưới rối như tơ vò. Buồng trứng phân nhánh nằm ở sau tử cung.
Trứng của sán F.hepatica có hình thái, màu sắc tương tự trứng của loài

các tế bào ngọn lửa hoạt động hình thành hầu, ống ruột và các đám phôi. Trong 1 ốc
có thể có 1 - 2 ấu trùng. Khoảng 3 - 7 ngày, bào ấu sinh sản vô tính cho ra nhiều
Redia (lôi ấu). Một bào ấu sinh ra 5 - 15 lôi ấu.
Redia hình suốt chỉ, ít hoạt động, có miệng, hầu, ruột, hình túi đơn giản. Có
hai hệ: Redia thế hệ I và Redia thế hệ II cùng phát triển trong ốc - vật chủ trung
gian. Ở nhiệt độ 160C hoặc thấp hơn, lôi ấu chỉ sinh sản Redia I và dừng phát triển,
ở nhiệt độ phù hợp (20 - 300C), sau 29 - 35 ngày, lôi ấu biến thành vĩ ấu (Cercaria).
Một Redia có thể sinh ra 12 - 20 Cercaria.
Cercaria (vĩ ấu) là ấu trùng ở pha sống tự do của sán lá gan, có cấu tạo thân
hình tròn lệch, đuôi dài hơn thân giúp vĩ ấu vận chuyển được dễ dàng trong nước. Cấu
tạo của vĩ ấu gồm giác miệng, giác bụng, hầu, thực quản và ruột phân thành hai nhánh.
Theo Da Costa C. và cs. (1994) [49], sau gây nhiễm, Cercaria từ ốc ra môi
trường nước thành các đợt, mỗi đợt có khoảng 50 - 70 Cercaria được giải phóng ra
khỏi ốc. Dreyfuss G. và Rondelaud D. (1997) [51] cho biết, trong một lần gây nhiễm,
Cercaria thoát ra khỏi ốc có thể tới 15 đợt (thường là 3 đợt hoặc có thể ít hơn).
Dar Y. và cs. (2010) [50] đã thí nghiệm gây nhiễm 4 Miracidium/ốc Radix
natalensis - ký chủ trung gian của sán lá F. hepatica tại Ai Cập, ở điều kiện nhiệt độ
24oC. Kết quả cho thấy, sau trung bình 24,3 ngày có 90,7 Cercaria được giải phóng
/ốc và Cercaria được giải phóng ra trong 2 - 13 đợt.


7

Từ khi Miracidium chui vào ốc đến khi phát triển thành Cercaria cần khoảng
50-80 ngày. Sau khi thành thục, Cercaria thoát khỏi vỏ ốc, ra môi trường ngoài, bơi
tự do trong nước, có kích thước 0,28 - 0,30mm chiều dài và 0,23mm chiều rộng.
Sau vài giờ bơi trong nước, Cercaria rụng đuôi, tiết chất nhầy xung quanh thân,
chất nhầy gặp không khí khô rất nhanh. Lúc này Cercaria đã biến thành
Adolescaria.
Sau khi thoát khỏi ốc, Cercaria hóa nang thành Adolescaria. Khoảng 2/3 số

(Redia) cần 8 - 21 ngày. Lôi ấu (Redia) phát triển thành vĩ ấu non (Cercaria) cần 7 14 ngày, thành vĩ ấu trưởng thành cần 13 - 14 ngày.
- Ở ngoài ốc vật chủ trung gian: vĩ ấu phát triển thành kén (Adolescaria) sau
2 giờ.
- Ở trâu, bò: khi trâu bò, bê nghé nuốt phải Adolescaria, sau 79 - 88 ngày trong
ống dẫn mật của trâu bò đã có sán lá gan trưởng thành đẻ trứng theo phân ra ngoài.
Điều kiện tự nhiên ở nước ta rất thuận lợi cho sự cảm nhiễm và gây bệnh của
sán lá gan. Ở những vùng có mầm bệnh tồn tại, cứ trung bình 3 tháng sán lá gan lại
hoàn thành vòng đời trong cơ thể trâu, bò, nghĩa là trong trâu, bò lại tạo ra một đời
sán mới. Con vật đã có sán lá gan ký sinh lại tiếp tục nhiễm thêm mầm bệnh mới,
gây tình trạng bội nhiễm sán lá gan, vì vậy cường độ nhiễm tăng lên theo tuổi trâu,
bò (Nguyễn Thị Kim Lan và cs., 2008 [16]).
As, to, pH

Phân
Fasciola

Mao ấu

Trứng

(ống dẫn
mật)

MT nước
Bào ấu

Trâu

nuốt
phải

tổ chức gan bị phá huỷ. Gan bị viêm từ nhẹ đến nặng tuỳ theo số lượng ấu trùng
nhiễm vào cơ thể. Trâu bò bị thiếu máu do xuất huyết, có thể chết do mất máu.
Tác động cơ giới của sán lá còn tiếp tục khi sán lá đã vào ống dẫn mật, tiếp
tục tăng lên về kích thước và phát triển thành sán lá trưởng thành. Sán lá trưởng
thành thường xuyên kích thích niêm mạc ống mật bằng các gai cutin trên cơ hể, gây
viêm ống mật. Số lượng sán lá nhiều có thể làm tắc ống mật, mật ứ lại không xuống
ruột được sẽ tràn vào máu, gây hiện tượng hoàng đản.
Trong quá trình ký sinh, sán lá thường xuyên tiết độc tố. Độc tố tác động vào
thành ống mật và mô gan, gây biến đổi đại thể và vi thể, làm tăng quá trình viêm.
Đồng thời, độc tố của sán lá còn hấp thu vào máu, gây hiện tượng trúng độc toàn
thân, gây huỷ hoại máu, làm biến chất protein trong máu, làm Albumin giảm,
Globulin tăng. Độc tố của sán lá còn làm tăng nhiệt độ cơ thể, tăng bạch cầu (đặc
biệt là bạch cầu ái toan). Độc tố của sán lá còn tác động vào thần kinh, làm cho con
vật có triệu chứng thần kinh (run rẩy, đi xiêu vẹo,…). Độc tố của sán lá gan tác
động vào thành mạch máu, làm tăng tính thẩm thấu của thành mạch, gây hiện tượng
thuỷ thũng, làm cho máu đặc lại. Cũng do tác động của độc tố nên giữa những tiểu
thuỳ gan có hiện tượng thấm nhiễm huyết thanh và tế bào, hình thành nên các mô
liên kết mới dọc theo các vách ngăn của tiểu thuỳ gan và quanh ống mật, vì vậy


10

những ống mật này cũng dày lên. Quá trình viêm kéo dài làm cho các tế bào yêu
cầu tăng sinh, thay thế những tế bào nhu mô gan, gây hiện tượng xơ gan và teo gan.
Khi trâu bò nhiễm sán lá gan nặng, hiện tượng xơ gan chiếm diện tích lớn của gan,
làm cho chức năng của gan bị phá huỷ. Từ đó dẫn đến hàng loạt rối loạn khác như:
rối loạn cơ năng dạ dày - ruột, thiếu máu, suy nhược, gầy dần, cổ chướng, xoang
phúc mạc tích nước.
Một tác động quan trọng của Fasciola spp. khi ký sinh ở vật chủ là chiếm
đoạt dinh dưỡng. Dinh dưỡng của sán lá gan là máu trâu bò mà nó ký sinh. Bằng

Vũ Đức Hạnh và Nguyễn Thị Kim Lan (2009) [4] đã xét nghiệm 1.170 mẫu
phân trâu, bò ở một số xã của huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Kết quả thấy, có
641 trâu, bò nhiễm sán lá gan, chiếm tỷ lệ 54,79%.
* Những yếu tố ảnh hưởng tới tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở gia súc nhai lại:
- Yếu tố thời tiết, khí hậu và mùa vụ: Thời tiết, khí hậu của một vùng, một khu
vực có liên quan trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của ốc - vật chủ trung gian của
sán lá gan. Điều kiện ẩm ướt, mưa nhiều tạo ra môi trường nước, giúp ốc nước ngọt
sống và sinh sản thuận lợi.
Trịnh Văn Thịnh và Đỗ Dương Thái (1978) [33], Phạm Văn Khuê và Phan
Lục (1996) [9], Nguyễn Thị Kim Lan và cs. (2012) [18] ... đều cho biết, gia súc nhai
lại nhiễm sán lá gan nhiều hơn vào mùa vật chủ trung gian phát triển. Những năm
mưa nhiều, tỷ lệ nhiễm sán lá gan tăng lên so với những năm nắng ráo và khô hạn.
Mùa vụ gắn liền với sự thay đổi thời tiết khí hậu. Mùa Hè và đầu mùa Thu, số gia
súc bị nhiễm sán lá gan tăng cao hơn các mùa khác trong năm. Cuối mùa Thu và
mùa Đông bệnh thường phát ra.
- Yếu tố vùng và địa hình: Vùng và địa hình là hai khái niệm khác nhau, song
có liên quan chặt chẽ với nhau. Các vùng khác nhau có địa hình không giống nhau.
Địa hình là yếu tố quan trọng quyết định sự khác nhau giữa các vùng.
Hầu hết các nhà ký sinh trùng học đều thống nhất rằng, gia súc nhai lại ở vùng
đồng bằng nhiễm sán lá gan nhiều nhất, tỷ lệ và cường độ nhiễm giảm dần đối với
các đàn gia súc nhai lại ở vùng ven biển, vùng trung du và vùng núi. Về nguyên
nhân dẫn đến quy luật này, tác giả Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) giải thích:
vùng đồng bằng có nhiều hồ, ao, kênh, rạch, có điều kiện cho ốc - vật chủ trung
gian của sán lá gan sống và sinh sản. Các kiểu địa hình khác thì vấn đề này hạn chế
hơn so với đồng bằng.


12

Phan Địch Lân (2004) [22] đã xét nghiệm phân của 7.359 trâu, bò ở 26 tỉnh


13

1.1.4.3. Triệu chứng bệnh sán lá gan ở trâu bò
Triệu chứng lâm sàng là biểu hiện ra bên ngoài bởi các tác động gây bệnh
của sán lá Fasciola. Triệu chứng ở trâu, bò biểu hiện nặng hay nhẹ phụ thuộc vào
cường độ nhiễm sán lá gan, tình trạng sức khoẻ và tuổi trâu bò, tình trạng chăm sóc
quản lý,….
- Thể cấp tính thường gặp ở trâu, bò 1,5 - 2 năm tuổi (Phạm Văn Khuê và
Phan Lục, 1996 [9]) trong giai đoạn sán lá non di hành hoặc khi nuôi dưỡng, chăm
sóc kém.
Trâu bò biểu hiện: ăn uống sút kém, suy nhược, chướng bụng, ỉa chảy, miệng
hôi, sốt, gan sưng to và đau, thiếu máu, vàng da, đôi khi có triệu chứng thần kinh
(lảo đảo, xiêu vẹo). Trâu bò có thể chết do xuất huyết nặng, trúng độc và suy nhược
cơ thể.
Thể mãn tính thấy phổ biến ở trâu, bò trưởng thành, khi trâu bò được nuôi
dưỡng tốt và sán lá ở giai đoạn trưởng thành, ký sinh trong ống dẫn mật với số
lượng ít. Thể mãn tính thường xuất hiện sau thể cấp tính 1 - 2 tháng.
Phan Địch Lân (2004) [22] đã theo dõi 37 trâu bị bệnh sán lá gan nặng, thấy
các triệu chứng thường lặp đi lặp lại như: gầy rạc, suy nhược cơ thể (37/37); phân
nhão không thành khuôn, có lúc ỉa lỏng (32/37); niêm mạc mắt nhợt nhạt, thiếu máu
kéo dài (27/37); lông xù, da mốc, lông dễ rụng (26/37); phân đen, thối khắm
(22/37); mắt sâu có dử (18/37); bụng ỏng, ỉa chảy kéo dài (13/37); thuỷ thũng ở
nách, hai chân trước, gan to (11/37); thuỷ thũng ở ngực, ức liên tục (9/37).
Ngoài gan và ống mật, đôi khi còn thấy sán ở phổi trâu, bò. Trường hợp này
thấy sán ở trong những bọc to bằng quả trứng gà hoặc nhỏ hơn, trong bọc chứa dịch
màu nâu nhờn và 1 - 2 sán lá gan (Vũ Đức Hạnh, 2009 [3]).
Nguyễn Thị Kim Thành và cs. (1996) [31], Foreyt W. J. và Drew M. L. (2010)
[55] đã nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lý máu của trâu, bò bị bệnh sán lá gan, kết
quả cho thấy: số lượng hồng cầu giảm, hàm lượng huyết sắc tố giảm, số lượng bạch


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status