NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH LÝ, LÂM SÀNG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC
THÁI NGUYÊN


••

NGUYỄN THỊ NGÂN

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ,
7
BỆNH LÝ, LÂM SÀNG VÀ
BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
• • •



_
_

«

_
____Ầ

_

7

• •


1

2. Mục tiêu của đề tài
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3

4. Những đóng góp mới của đề tài

3

Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

4

1.1. SÁN DÂY KÝ SINH Ở GÀ

4

1.1.1. Vị trí của sán dây ký sinh ở gà trong hệ thống phân loại động vật

4

1.1.2. Thành phần loài sán dây ký sinh ở gà Việt Nam

5

1.1.3. Đặc điểm hình thái, cấu tạo một số loài sán dây ký sinh ở gà

6


27

1.2.7. Điều trị và phòng bệnh sán dây cho gà

28

Chương 2. ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 34
2.1. ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

34

2.2. VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU

34

2.3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

35

2.3.1. Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh sán dây ở gà thả vườn tại tỉnh Thái
Nguyên
35
2.3.2. Nghiên cứu bệnh lý, lâm sàng bệnh sán dây gà
35
2.3.3. Nghiên cứu biện pháp phòng, trị bệnh sán dây gà
2.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.4.1. Phương pháp lấy mẫu, xét nghiệm và đánh giá tỷ lệ, cường độ
nhiễm sán dây

47

Chương 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

48

3.1. NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH SÁN DÂY Ở GÀ THẢ
VƯỜN TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN
48
3.1.1. Tình hình nhiễm sán dây ở gà thả vườn của tỉnh Thái Nguyên

48

3.1.1.1.Thành phần loài sán dây ký sinh ở gà thả vườn của tỉnh Thái Nguyên48
3.1.1.2.Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây ở gà thả vườn của các huyện, thành - tỉnh
Thái Nguyên

50

3.1.1.3. Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây theo tuổi gà

55

3.1.1.4. Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây ở gà theo vùng sinh thái

57

3.1.1.5. Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây theo mùa vụ

60


5.1.5.5. Đặc điểm hoạt động của kiến - ký chủ trung gian của sán dây
Raillietina spp. theo mùa
S.2. NGHIÊN CỨU BỆNH LÝ, LÂM SÀNG CỦA BỆNH SÁN DÂY GÀ

74
7B

5.2.1. Nghiên cứu bệnh lý, lâm sàng của gà gây nhiễm sán dây Raillietina spp. 7 G
5.2.1.1.Gây nhiễm cho kiến Tetramorium caespitum bằng trứng sán dây
Raillietina spp.

7G

5.2.1.2. Thời gian gà gây nhiễm bắt đầu thải đốt sán dây

77

5.2.1.5. Diễn biến thải đốt sán của gà sau gây nhiễm

7S

5.2.1.4. Sự thải đốt sán theo thời gian trong ngày của gà gây nhiễm

79

5.2.1.5. Triệu chứng lâm sàng của gà sau gây nhiễm sán dây

SO


92
92


- iv 3.3.1.1. Xác định hiệu lực của thuốc tẩy sán dây cho gà trên diện hẹp 92
3.3.1.2. Hiệu lực của thuốc tẩy sán dây cho gà trên diện rộng

96

3.3.1.3. Sử dụng thuốc tẩy sán dây đại trà cho gà

97

3.3.2. Xác định tác dụng của một số biện pháp phòng bệnh sán dây cho gà
thả vườn

99

3.3.2.1.Xác định tác dụng diệt trứng sán dây gà bằng thuốc sát trùng trong điều kiện
phòng thí nghiệm

99

3.3.2.2.Xác định tác dụng diệt kiến của một số thuốc diệt côn trùng trong điều kiện
phòng thí nghiệm và ở thực địa
3.3.3. Thử nghiệm và đề xuất quy trình phòng trị bệnh sán dây cho gà

100

thả vườn

126

MỘT SỐ HÌNH ẢNH CỦA ĐỀ TÀI

127

PHỤ LỤC

141


-v-vi -

MỤCTẮT
CÁCTRONG
BẢNG LUẬN ÁN
DANH MỤC CÁC DANH
CHỮ VIẾT
Trang
0

độvườn
ẩm của tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.1. Những loài sánAdây ký sinh ở gà thả
cs
cộng sự
Bảng 3.2a. Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây ở gà thả vườn của các huyện, thành
ĐC
(qua
xét nghiệm phân) đối chứng

gà thả plural
vườn theo mùa vụ
t0 xét nghiệm phân) nhiệt độ
(qua

GO

Bảng 3.6. Sự ô nhiễm đốtTN
và trứng sán dây ởthí
nềnnghiệm
chuồng, xung quanh chuồng
và vườn thả TP.


thành phố

G2

TX.trong phân gà phân
thị xã
Bảng 3.7. Thời gian đốt sán
huỷ giải phóng trứng sán dây

GS

Bảng 3.8. Thời gian sống của trứng sán dây trong phân gà

GG

Bảng 3.9. Thời gian phân huỷ đốt giải phóng trứng sán dây ở lớp đất bề mặt

78

Bảng 3.17. Sự thải đốt sán theo thời gian trong ngày của gà gây nhiễm

79

Bảng 3.18. Trạng thái phân của gà sau gây nhiễm sán dây

80

Bảng 3.19. Kết quả mổ khám bệnh tích gà gây nhiễm sán dây

82

Bảng 3.20. Một số chỉ số máu của gà gây nhiễm sán dây và gà đối chứng

83

Bảng 3.21. Công thức bạch cầu của gà gây nhiễm sán dây và gà đối chứng

85

Bảng 3.23. Sự thải đốt sán dây ở các khoảng thời gian trong ngày theo mùa

88

Bảng 3.24. Bệnh tích đại thể và số lượng sán dây ký sinh ở gà bị bệnh

89


100

Bảng 3.31. Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây ở gà thả vườn sau 1,5 và 3 tháng
thử nghiệm biện pháp phòng trị bệnh

102

Bảng 3.32. Khối lượng gà ở lô thí nghiệm và đối chứng

103

Bảng 3.33. Thử nghiệm quy trình phòng bệnh sán dây cho gà ở tỉnh Thái Nguyên 104


- viii -

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ


7



Trang
Biểu đồ 3.1. Tỷ lệ nhiễm sán dây ở gà thả vườn tại tỉnh Thái Nguyên

S4

Biểu đồ 3.2. Cường độ nhiễm sán dây/ gà theo lứa tuổi (qua xét nghiệm phân)


quá nhiều, sán lòng thòng ở hậu môn

127

Ảnh 3. Đốt sán dây thải ra ngoài theo phân gà, phân lầy nhầy lẫn máu
Ảnh 4. Thu thập mẫu phân, mẫu đất và bố trí các thí nghiệm

128

128 Ảnh 5. Thời gian đốt sán

phân hủy ra trứng và diễn biến của trứng trong điều
kiện phân khô tự nhiên

129

Ảnh 6. Chuẩn bị mẫu tìm đốt và soi mẫu tìm trứng sán dây

130

Ảnh 7. Mổ khám gà gây nhiễm sán dây đợt I và đợt II

130

Ảnh 8. Sán dây ký sinh dày đặc trong ruột gà

130

Ảnh 9. Sán dây ký sinh gây xuất huyết, làm chất chứa ở ruột có màu nâu hồng



Ảnh 17. Các loài kiến - KCTG của sán dây Raillietina spp.

134

Ảnh 18. Đàn kiến đang ăn đốt sán và tha về tổ135 Ảnh 19. Âu trùng Cysticercoid của sán dây
Raillietina spp. ở ngày thứ 20 và
ngày thứ 28 trong kiến Tetramorium caespitum 135 Ảnh 20. Theo dõi sự thải đốt sán
của gà gây nhiễm sán dây Raillietina spp.
đợt I và đợt II
Ảnh 21. Lấy máu gà nhiễm sán dây để xét nghiệm máu

136
136


Ảnh 22. Mổ khám gà gây nhiễm sán dây Raillietina spp. và gà đối chứng

1SG

Ảnh 23. Các biến đổi vi thể chủ yếu ở ruột non có sán dây ký sinh

1S7

Ảnh 24. Bố trí thí nghiệm thử hiệu lực của thuốc tẩy sán dây

1SS

Ảnh 25. Các loại thuốc tẩy sán dây cho gà


PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Lan - người đã hướng dẫn, chỉ bảo tôi hết sức tận tình trong suốt quá trình
nghiên cứu và hoàn thành Luận án.
Trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành Luận án, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ
và tạo điều kiện về cơ sở vật chất, nhân lực, vật lực của Ban Giám đốc, Ban Đào tạo Sau Đại học - Đại
học Thái Nguyên, Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học, Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú ỵ, Bộ môn
Bệnh động vật, Bộ môn Dược lý - Vệ sinh an toàn thực phẩm, cùng các thầy cô giáo, các em sinh viên
Khoa Chăn nuôi Thúy - Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên. Tôi xin trân trọng cảm ơn
tới những sự quan tâm giúp đỡ quý báu đó.
Tôi xin trân trọng cảm ơn: Chi cục Thú y tỉnh Thái Nguyên, các Trạm Thúỵ, Phòng Nông
nghiệp - Phát triển Nông thôn của 9 huyện, thành, thị và các trang trại, hộ chăn nuôi gà thả vườn trên địa
bàn tỉnh Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Tôi xin trân trọng cảm ơn: PGS.TS. Phạm Ngọc Thạch, PGS.TS. Nguyễn Hữu Nam - Khoa
Thú y - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội; TS. Bùi Tuấn Việt - Viện Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam;
ThS. Trần Thị Bính, TS. Nguyễn Văn Đức - Phòng Ký sinh trùng - Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật,
đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn các em sinh viên: Nguyễn Thị Thơm, Lê Thị Thuyết, Hoàng Vân
Thanh, Nguyễn Thị Tuyến, Ngô Thị Chang, Vũ Thị Kim Hương, Phan Thanh Tùng, Vũ Minh Quân, Vũ
Minh Đức, Nguyễn Thị Thùy Dương, Diệp Thị Huyền Trang, Nguyễn Thị Thanh Thủy, Trần Thị Khánh,
Nguyễn Thị Huế, Nguyễn Thị Thanh Hà, Nguyễn Thị Thúy Lâm (Khóa 37, 38 - TY, CNTY) đã giúp tôi
thực hiện đề tài.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Công ty BIO - Pharmachemie đã hỗ trợ tôi về thuốc thú y trong quá
trình thực hiện đề tài.
Tôi vô cùng biết ơn các thành viên trong gia đình và bạn bè đã luôn ở bên tôi, giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận án.
Thái Nguyên, ngày 2 tháng 2 năm 2012 NGHIÊN CỨU SINH


-1-

MỞ ĐẦU

dây tiết ra độc tố tác động đến hệ thần kinh, làm cho gà mệt mỏi, ít vận động, ủ rũ. Gà con
bị bệnh thể cấp tính có thể bỏ ăn, hôn mê, lên cơn động kinh và chết (Phạm Sỹ Lăng và
Phan Địch Lân, 2002 [14]).
Ở nước ta, trung bình có 68,8 % gà bị nhiễm sán dây, thường thấy các loài sau: R.
echinobothrida, R. cesticillus, Spirocrynacei, Cotugnia digonopora, Fimbriaria fasciolasis,
Dilipisdoides bauchei và Diorchis americana, Davainea proglottina (Phạm Văn Khuê và Phan Lục,
1996 [7]).
Theo số liệu của Trung tâm tin học và thống kê (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn, 2011) [35], tại thời điểm tháng 4/2011 tổng số gia cầm nước ta có khoảng 293,7 triệu
con, tăng 5,87 % cùng kỳ năm 2010 và sản lượng thịt hơi tăng
16,8 % so cùng kỳ năm 2010. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2008) [2] đã định
hướng trong chiến lược phát triển chăn nuôi: đàn gia cầm nước ta phấn đấu tăng bình quân
5 %/năm, đến năm 2020 có trên 300 triệu con, trong đó gà nuôi công nghiệp chiếm khoảng
33 %. Như vậy, ở thời điểm hiện nay cũng như định hướng đến năm 2020, gà thả vườn vẫn
chiếm ưu thế.
Thái Nguyên là tỉnh trung du nên có nhiều đồi, núi, bãi chăn thả rộng, rất thuận lợi
cho phát triển chăn nuôi gia cầm nói chung và gà thả vườn nói riêng. Đàn gà của tỉnh Thái
Nguyên năm 2011 có trên 7.600.000 con (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thái
Nguyên, 2011) [23]. Kết quả điều tra tại 5 xã phía Tây của thành phố Thái Nguyên cho
thấy: gà chủ yếu được nuôi theo phương thức chăn thả tự do, chiếm 79,34 %; bán chăn thả
là 17,56 %; hình thức nuôi nhốt chỉ chiếm 3,10 % (Nguyễn Thị Thuý Mỵ và cs, 2011 [18]).
Việc phòng, trị ký sinh trùng cho gà thả vườn nhìn chung chưa được chú ý, hầu hết người
chăn nuôi chưa sử dụng thuốc tẩy sán dây cho gà nên năng suất chăn nuôi giảm, hiệu quả
kinh tế thấp.
Trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về bệnh ký sinh trùng
ở gà, nhưng các công trình nghiên cứu về sán dây và bệnh do sán dây gây ra còn ít, chưa có
công trình nào nghiên cứu đầy đủ và có hệ thống về bệnh và quy trình phòng, trị bệnh sán
dây ở gà thả vườn.



Skrjabin K. I. đã giới thiệu hệ thống phân loại bộ Cyclophyllidea, tác giả đã chia bộ này
thành một số phân bộ (Anoplocephalata, Davaineata, Hymenolepidata, Taeniata...). Sán
dây ký sinh ở động vật Việt Nam được phân loại theo hệ thống phân loại của Schulz và
Gvozdev (1970) (Đặng Ngọc Thanh và cs, 2008 [25]).
Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [37], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [9], Nguyễn Thị Lê
và cs (1996) [15], sán dây gà có vị trí như sau:
Ngành Plathelminthes Schnerder, 1873 Lớp
Cestoda Rudolphi, 1808 Phân lớp Eucestoda
Southwell, 1930 Bộ Cyclophyllidea Beneden in
Braun, 1900 Phân bộ Davaineata Skrjabin, 1940
Họ Davaineidae Braun, 1900 Giống Cotugnia
Diamare, 1893
Loài Cotugnia digonopora Pasquale, 1890
Giống Davainea Blanchard, 1891
Loài Davainea proglottina Davaine, 1860 Giống
Raillietina Fuhrmann, 1920 Phân giống
Raillietina Stiles et Orleman, 1926 Loài R.
echinobothrida Megnin, 1881 Loài R. penetrans
Baczyncka, 1914 Loài R. penetrans novo Johri,
1934 Loài R. peradenica Sawada, 1957 Loài R.
tetragona Dolin, 1858 Loài R. volzi Fuhrmann,
1905


- 56 PhânThị
giống
(Paroniella)
Fuhrmann,
1920ởLoài
R. tìm thấy ở Việt

(Skrjabinia)
1920
LoàiPhạm
R. (S.)Sỹ
cesticillus
[14] cho biết: sán
dâyFuhrmann,
thường gặp
1858)
1920ở gà gồm những loài chính là: R. tetragona, R.
echinobothrida,
cesticillus,
Cotugnia
Davainea
1.1.2. ThànhR.phần
loài sán
dây ký digonopora,
sinh ở gà Việt
Nam proglottina. Trong đó, có 3 loài
nhiễm phổ
biến ởThị
gà Kỳ
là: R.
tetragona,
echinobothrida
và R.kýcesticillus.
Nguyễn
(1994)
[9] R.
cho

trước 1893
cơ thể có đầu (Scolex), có cơ Cotugnia
quan bám,
giúp sán(Pasquale,
dây bám 1890)
chặt vào
thành
ruột Fuhrmann,
của vật chủ.1920
Raillietina

Raillietina tetragona (Dolin, 1858) R.
Ở một số loài sán dây trên giác bám có các móc bé xếp thành nhiều hàng. Giác bám
echinobothrida (Megnin, 1880)
là đặc trưng của sán dây bậc cao. Móc bám nằm ngay trên đầu hay ở phần cuối vòi, sắp xếp
R. penetrans (Barzynska, 1914)
thành một hay hai hàng. Số lượng móc ở các nhóm sán dây dao động từ vài chục đến vài
R. cesticillus (Molin, 1858)
trăm móc. Ít khi vòi thiếu móc. Kích thước, cấu tạo và số lượng móc cố định cho mỗi loài.
R. macassariensis (Yamaguti, 1956)
Cổ không phân đốt - là vùng sinh trưởng, từ đó hình thành các đốt mới, số lượng
Dilepidoides Spassky et Spaskaja, 1954
Dilepidoides bauchei (Joyeux, 1924)
các đốt dao động rất lớn tuỳ loài, từ ba đốt đến vài trăm đốt. Các đốt ở phía trước là các đốt
Echinolepis Spassky et Spaskaja, 1954
Echinolepis carioca (Magalhaes, 1898)
non và bé, càng về sau các đốt càng lớn và già.
Microsomacanthus Lopez - Neyra, 1942
Microsomacanthus (Joyeux et Baer, 1935)
Staphylepis Spassky et Oschmarin, 1954

ống dẫn tinh là cơ quan giao phối (nang lông gai) chứa gai giao phối phủ các gai nhỏ hoặc
vảy. Trước gai giao phối, ống dẫn tinh phình rộng tạo thành túi chứa tinh. Có thể có túi
chứa tinh ngoài (ở ngoài túi giao phối) và túi chứa tinh trong (nằm trong túi giao phối).
Hệ sinh dục cái có cấu tạo phức tạp hơn, gồm có buồng trứng, ống dẫn trứng,
ootyp, tuyến noãn hoàng, túi nhận tinh, tuyến vò (thể Mehlis) và tử cung, thường có hai
buồng trứng nằm giữa hoặc phía sau đốt sinh dục, ít khi ở phía trước.
Trong buồng trứng hình thành các tế bào sinh dục cái (tế bào trứng). Từ buồng
trứng có ống nối với âm đạo, mở ra ở huyệt sinh dục. ồng này phình rộng ra gọi là túi nhận
tinh. Trứng thụ tinh được đưa vào ootyp. Tuyến noãn hoàng gồm nhiều bao noãn bé nằm
trong nhu mô hoặc thành khối nằm hai bên đốt hoặc phía


-8sau buồng trứng. Từ tuyến noãn hoàng các chất dinh dưỡng đổ vào ootyp giúp cho việc
hình thành trứng.
Về đặc điểm hình thái, kích thước của một số loài sán dây ký sinh ở gà
- Các loài thuộc giống Raillietina Fuhrmann, 1920:
Chuỗi đốt có nhiều đốt. Vòi có hai hàng móc dạng búa. Bờ của giác bám có vài
hàng gai nhỏ. Tinh hoàn thường nhiều, nang lông gai nhỏ, thường không đạt tới ống bài tiết
bên, rất ít khi cắt ngang ống bài tiết. Lỗ sinh dục ở một phía hoặc xen kẽ không đều. Buồng
trứng hai thuỳ ở giữa đốt hoặc phần có lỗ. Noãn hoàng hình khối, nằm dưới buồng trứng,
có túi tinh. Mỗi nang trứng chứa từ một đến vài trứng. Sán trưởng thành ký sinh ở thú và
chim, ấu trùng ký sinh ở côn trùng (Đặng Ngọc Thanh và cs, 2008) [25].
Nguyễn Thị Kỳ (1994) [9], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [15], Nguyễn Thị Kim Lan
và cs (1999) [10], Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (2002) [14], Senlik B. (2005) [146],
Mohammad H. R. (2011) [109] đã mô tả như sau:
+ Loài R. echinobothrida:
Ký sinh ở ruột non của gà nhà, gà tây, gà rừng, chim bồ câu và các loài chim khác
thuộc bộ gà (Gallifomes). Dài 250 mm, rộng 1,2 - 4 mm, trứng: 93 X 74 ụm. Đường kính đầu
0,322 - 0,483 mm, vòi dài 0,108 - 0,159 mm.
Đầu có 4 giác bám bao gồm từ 8 - 10 dãy móc; vòi của đầu có hai dãy móc khoảng

lông gai 0,172 - 0,188 x 0,072 - 0,088 mm. Có 15 - 20 tinh hoàn xếp ở nửa dưới đốt. Tử
cung phân ra thành các nang trứng, mỗi nang trứng chứa một trứng.
+ Loài R. volzi:
Ký sinh ở ruột của gà nhà, gà rừng. Sán dài 40 - 60 mm, rộng 2 mm. Đầu dài 0,3
mm, rộng 0,045 mm. Giác bám có đường kính 0,18 mm, có nhiều gai, phần trên giác có 12
- 14 hàng móc, còn ở phần dưới chỉ có 4 - 6 hàng. Gai phần ngoài giác bám lớn hơn phần
trong (0,013 và 0,018 mm), vòi nhỏ chiều ngang 0,088 mm, có hai hàng vòng móc gồm
240 móc, dài 0,04 mm. Có 30 tinh hoàn ở hai bên và phía dưới tuyến sinh dục cái. Nang
lông gai dài 0,2 mm, rộng 0,013 mm. Buồng trứng 0,20 - 0,24 mm. Noãn hoàng rộng 0,1
mm. Tử cung chia thành các nang, mỗi nang chứa 8 - 12 trứng.


- 10 + Loài R. macassarensis:
Ký sinh ở ruột của gà nhà, gà rừng. Sán dài 47 - 72 mm, đường kính đầu 0,21 - 0,25
mm. Giác bám hình bầu dục, có gai, có kích thước 0,096 - 0,100 x 0,075 - 0,085 mm, gai
xếp thành các hàng xoáy trôn ốc đều nhau, mỗi hàng 16 gai, dài 0,005 mm ở hàng ngoài,
giảm dần ở các hàng trong.
Vòi hình hạt đậu, đường kính 0,075 - 0,090 mm, có hai vòng móc, móc hàng trên
dài 0,084 mm, hàng dưới 0,072 mm. Kích thước 0,5 - 0,65 x 0,15 - 0,20 mm, chuỗi đốt có
chiều rộng lớn hơn chiều dài.
Có 20 - 28 tinh hoàn ở hai bên tuyến sinh dục cái, hình tròn hoặc hình bầu dục, kích
thước 0,045 - 0,060 x 0,042 - 0,045 mm, ống dẫn tinh rất uốn khúc. Nang lông gai hình quả
lê, kích thước 0,075 - 0,200 x 0,15 - 0,50 mm, kích thước noãn hoàng 0,033 - 0,100 x
0,075 - 0,150 mm ở giữa và dưới buồng trứng.
- Các loài thuộc giống Davainea Blanchard, 1891:
Sán có kích thước nhỏ, chuỗi đốt có ít đốt. Trên đầu có 4 giác bám nhỏ. Không có
cổ. Lỗ sinh dục thường xen kẽ, ít khi ở một phía. Có từ 4 - 50 tinh hoàn. Nang lông gai có
kích thước lớn, vượt qua ống bài tiết. Mỗi nang trứng có một trứng. Ở Việt Nam mới gặp
một loài thuộc giống này (Đặng Ngọc Thanh và cs, 2008 [25]).
Nguyễn Thị Kỳ (1994) [9], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [15], Phạm Sỹ Lăng và

có sức gây bệnh.
Đốt sán rụng theo phân ra
ngoài, trứng sán phân tán, ký chủ
trung gian ăn phải, vỏ trứng bị phân
huỷ ở ruột ký chủ trung gian, phôi 6
móc chui vào cơ thể ký chủ trung
gian tiếp tục phát triển thành ấu trùng
Cysticercoid.



ăn



chủ

trung

fMss,
f \msấ

t

A

gian có mang ấu trùng này, vào
đường tiêu hoá ký chủ trung gian bị

ít

loài kiến như: Pheidole pallidula và Tetramorium caespitum (Orlov M. F., 1975 [22]). Các giai
đoạn phát triển của ấu trùng thực hiện trong các loài kiến - vật chủ trung gian để trở thành
ấu trùng cảm nhiễm. Gà ăn phải kiến có ấu trùng sẽ nhiễm sán.
+ Loài R. cesticillus:
Vòng đời có sự tham gia của vật chủ trung gian là 19 loài bọ hung (Coleoptere) thuộc
các giống Geotrupes, Carabus, Broscus, Panagatus, Ophnus, Tenebrria, Aphodius, Plastysm và
Orytes. Các loài bọ hung ăn phải trứng sán ở môi trường tự nhiên, trứng sán sẽ phát triển
qua các giai đoạn trở thành ấu trùng cảm nhiễm. Gà ăn phải vật chủ trung gian chứa ấu
trùng sẽ bị nhiễm sán.
+ Loài Davainea proglottina:
Ký chủ trung gian là nhuyễn thể cạn (ốc cạn). Vòng đời bắt đầu từ khi đốt sán chửa
rụng theo phân ra ngoài, vỡ ra, giải phóng trứng sán. Ký chủ trung gian


- 13 nuốt phải trứng sán, vào đến ruột, ấu trùng 6 móc nở ra, chui vào cơ thể ký chủ trung gian
và phát triển thành ấu trùng gây bệnh Cysticercoid. Gà ăn phải vật chủ trung gian chứa ấu
trùng sẽ bị nhiễm sán.
Theo Permin A. và Hansen J. W. (2003) [127]: thời gian phát triển thành
Cysticercoid là 3 tuần (ký chủ trung gian gồm các loài nhuyễn thể trên cạn: Limax, Cepaea,
Agriolimax và Arion), sau khi gà nuốt các ký chủ trung gian có Cysticercoid vào đường tiêu
hóa, Cysticercoid được giải phóng, sau 2 tuần phát triển thành sán dây trưởng thành.
1.2. BỆNH SÁN DÂY Ở GÀ
Cơ chế sinh bệnh
Theo Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (2002) [14]: bệnh sán dây ở gà rất phổ biến,
tuy không gây ra thể bệnh cấp tính làm chết gà hàng loạt, nhưng làm cho gà gầy yếu, giảm
tăng trọng rõ rệt đối với gà nuôi thịt và giảm sản lượng trứng đối đối với gà đẻ, gây thiệt
hại đáng kể cho chăn nuôi gà, nhất là nuôi gà thả vườn.
Nhiều gà mắc bệnh sán dây không có triệu chứng rõ rệt, bản thân chúng trở thành
nguồn gieo rắc đốt và trứng sán dây, làm ô nhiễm môi trường chăn nuôi và làm bệnh lây
lan sang những đàn gà khác.

phòng tuyến thượng bì, tạo điều kiện cho vi khuẩn (E.colli, Salmonella...) từ môi trường xâm
nhập gây nên các bệnh ghép với bệnh sán dây.
Dịch tễ học của bệnh sán dây gà
Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ học các bệnh
do sán dây gây ra. Tuy nhiên, các nghiên cứu này còn ít và chưa hệ thống nên chưa phản
ánh đầy đủ những vấn đề liên quan đến sự phát sinh và phát triển của bệnh.
Đặng Ngọc Thanh và cs (2008) [25] cho biết: Viện Động vật học Peterburg (1962)
đã công bố 9 loài sán dây, trong đó loài R. (Paroniella) tinguiana được phát hiện lần đầu tiên.
Năm 1968, Bùi Lập, Phạm Văn Khuê, Phan Văn Lục, Đoàn Tuân phát hiện được gà ở Hà
Bắc (cũ) nhiễm 4 loài: Cotugnia digonopora, R. tetragona,



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status