Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
LÊ ĐĂNG KHOA
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
THEO TIÉP CẬN NĂNG Lực Ở CÁC TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN MỸ ĐỨC THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 01 14
LUẬN VĂN THẠC sĩ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Bùi Minh Đức
HÀ NỘI - 2016
Tác giả luận văn trân trọng cảm ơn các nhà khoa học, các giảng viên trong và ngoài Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
và PGS.TS. Bùi Minh Đức đã trực tiếp giảng dạy và hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu, triển khai đề
tài luận văn.
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn sự quan tâm của lãnh đạo, cán bộ quản lý và giáo viên các trường THPT trên địa bàn
huyện Mỹ Đức thành phố Hà Nội đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để tác giả hoàn thành luận văn.
Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng do hạn chế về nguồn lực và thời gian, cho nên nội dung luận văn không thể tránh khỏi
những thiếu sót. Tôi xin trân trọng tiếp thu và cảm ơn những chỉ bảo của các thầy, cô giáo và bạn đọc.
Xin được trân trọng cảm ơn !
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
LÊ ĐĂNG KHOA
TBDH
Chương trình
CT
Giáo dục
GD
Giáo dục và Đào tạo
GD&ĐT
Giáo viên
GV
Học sinh
Kiểm tra đánh giá
HS
KTĐG
Phương pháp dạy học
PPDH
Quản lý giáo dục
dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học
theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng
kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều,
ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo
cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực.
Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý
các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng
công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”. Định hướng quan trọng
trong đổi mới PPDH là phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo, phát triển
năng lực hành động, năng lực cộng tác làm việc của người học. Đó cũng là
những xu hướng quốc tế trong cải cách PPDH ở nhà trường phổ thông.
1.2.
Đổi mới PPDH đã được triển khai sâu rộng ở tất cả các cấp học và nhà
trường từ nhiều năm qua và đến nay vẫn là một yêu cầu tất yếu, có vai trò then
chốt trong sự nghiệp đổi mới giáo dục. Với những tác động tích cực từ các cấp
quản lý giáo dục, nhận thức và chất lượng đổi mới PPDH, KTĐG của đội ngũ
giáo viên trong các trường THPT đã có những chuyển biến tích cực, góp phần
làm cho chất lượng giáo dục và dạy học từng bước được cải thiện. Tuy nhiên,
quá trình đổi mới PPDH ở trường phổ thông nói chung, ở các trường THPT nói
riêng còn nhiều bất cập và chưa đáp ứng các mục tiêu nâng cao chất lượng giáo
dục - dạy học. Bên cạnh những kết quả bước đầu đã đạt được, việc đổi mới
6
PPDH, KTĐG ở trường THPT vẫn còn những hạn chế cần khắc phục đó là:
+ PPDH truyền thống vẫn là phương pháp chủ đạo của nhiều giáo viên.
+ Số giáo viên thường xuyên phối hợp các PPDH phát huy tính tích cực, chủ
động và sáng tạo của học sinh chưa nhiều.
7
phụ huynh HS bước dần vào quỹ đạo đổi mới, đổi mới dần dần từng bước, tiếp cận với
xu thế mới trong CT, SGK, PPDH, kiểm tra, đánh giá để khi thực hiện CT mới không
bỡ ngỡ. Thực tế này đang đặt ra những yêu cầu mới đối với công tác quản lý trong các
nhà trường THPT : cần có những điều chỉnh, những thay đổi để pp quản lý thích ứng
với PPDH mới.
1.4.
Những năm qua, các trường THPT ở huyện Mỹ Đức đã có nhiều nỗ lực
trong việc tổ chức quản lý nâng cao chất lượng các hoạt động dạy học và đặc
biệt là quản lý đổi mới PPDH góp phần đưa công tác quản lý nhà trường từng
bước đi vào ổn định, đáp ứng xu thế phát triển giáo dục chung của cả nước. Tuy
nhiên, trước những yêu cầu mới của sự phát triển giáo dục, việc quản lý đổi mới
PPDH ở các trường THPT huyện Mỹ Đức vẫn còn nhiều bất cập ngay trong
từng khâu thực hiện chức năng quản lý: Kế hoạch - tổ chức - chỉ đạo - kiểm
tra,... cũng như vai trò chủ thể quản lý của người Hiệu trưởng nhà trường. Thực
trạng quản lý và cung cách quản lý hoạt động đổi mới PPDH ở các trường
THPT nhìn chung chưa thích ứng được với sự thay đổi của xã hội và yêu cầu
đổi mới Giáo dục trong giai đoạn hiện nay.
Từ thực tế trên, việc nghiên cứu, đề xuất các biện pháp quản lý đổi mói PPDH
nhằm nâng cao chất lượng các hoạt động dạy học đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục là
một việc làm quan trọng và cần thiết. Xuất phát từ những lý do trên tôi quyết định chọn
đề tài “Quản lý hoạt động đổi mới PPDH theo tiếp cận năng lực ở các trường THPT
huyện Mỹ Đức, Hà Nội ” làm đề tài luận văn Thạc sĩ của mình.
2. Mục đích nghiền cứu
Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động đổi mới PPDH theo tiếp cận năng lực,
nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới CT, SGK sau năm 2018 và góp phần nâng cao chất
lượng dạy học của các nhà trường THPT.
1. Nhiệm vụ nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu
03 trường THPT trên địa bàn huyện Mỹ Đức, Hà Nội.
3. Phương pháp nghiền cứu
-
Phương pháp phân tích, tổng họp lý thuyết: Hệ thống hóa các văn bản, tài liệu
có liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm xây dựng khung lí thuyết cho lãnh
đạo quản lý đánh giá kết quả học tập của HS THPT theo tiếp cận năng lực.
-
Phương pháp điều tra thực tiễn: Dùng phiếu hỏi để trưng cầu ý kiến khảo sát
đánh giá kết quả học tập của HS theo hướng tiếp cận năng lực của Hiệu trưởng,
Phó Hiệu trưởng, Tổ trưởng chuyên môn, giáo viên đang công tác tại các
trường THPT ưên địa bàn huyện Mỹ Đức , Hà Nội.
-
Phương pháp chuyên gia: Trao đổi, tọa đàm, xin ý kiến đánh giá của các chuyên
gia, các nhà quản lý có trình độ, nhiều kinh nghiệm về công tác QLGD. Trên cơ
sở phân tích, đánh giá đó kết họp với thực trạng nghiên cứu rút ra kết luận họp
lý nhất cho vấn đề nghiên cứu đề tài.
Ngoài ra còn sử dụng phương pháp quan sát, phương pháp phỏng vấn,...
4. Giả thuyết khoa học
Hiện nay công tác quản lý thực hiện đổi mới PPDH ở các trường THPT nói
chung và trên địa bàn huyện Mỹ Đức, Hà Nội nói riêng vẫn còn những hạn chế, bất cập
do đó chưa đạt được các mục tiêu đề ra. Nếu áp dụng một cách khoa học và sáng tạo
các biện pháp quản lý đổi mới PPDH theo tiếp cận năng lực mà tác giả luận văn nghiên
công trình nghiên cứu nổi tiếng đề cập đến hoạt động dạy học gắn với các tên tuổi của
Pi-a-giet, Le-on-chi-ep, Đan-nhi-lop, E-xi-pop,....
Theo Ko-men-sky, để người học thích thú học tập và có những cố gắng bản
thân để nắm lấy tri thức. Ông nói: “Tôi thường bồi dưỡng cho học sinh của tôi tinh
thần độc lập trong quan sát, trong đàm thoại và trong việc ứng dụng tri thức vào thực
tiễn”. Ông còn viết: “GD có mục đích đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán đúng
đắn, phát triển nhân cách... Hãy tìm ra phương pháp cho giáo viên (GV) dạy ít hơn,
học sinh (HS) học được nhiều hơn”.
Nhà nghiên cứu về quản lý giáo dục NgaV.AKhu-đô-min-ki đã tổng kết những
thành công, thất bại của mình trong hơn 25 năm làm Hiệu trưởng cùng với nhiều tác
giả đã đưa ra một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở trường THPT. Đó là sự
phân công hợp lý trong Ban giám hiệu, xây dựng và bồi dưỡng giáo viên, tổ chức hội
thảo khoa học,...
1.1.2.
Ở trong nước
Giáo dục Việt Nam từ khi đất nước tiến hành sự nghiệp đổi mới đến nay do sự
phát triển của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đòi hỏi ngành Giáo
dục và Đào tạo phải đáp ứng cho xã hội nguồn nhân lực có chất lượng cao có đủ năng
lực đáp ứng yêu cầu của xã hội. Do đó nhu cầu quản lý hoạt động đổi mới phương
pháp dạy học ở các nhà trường nói chung và các nhà trường THPT nói riêng ngày
càng cấp thiết.
Nhiều nhà nghiên cứu và làm công tác quản lý ở Việt Nam đã đề cập đến sự
cần thiết phải đổi mới trong hoạt động dạy học để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn giáo
dục.Tiêu biểu là các công trình của các tác giả Bemd Meier, Nguyễn văn Cường (“Lý
luận dạy học hiện đại ", NXB ĐHSP Hà Nội, 2014),Trần Bá Hoành (“Đổi mới
phương pháp dạy học, chương trình và SGK ", NXB ĐHSP Hà Nội, 2007), Thái Duy
Nghiên cứu về thực tiễn quản lý các mặt hoạt động dạy học có các luận văn:
Luận văn thạc sĩ QLGD của tác giả Lê Thành Hiếu ( “Những biện pháp quản lý của
Hiệu trưởng nhằm đổi mới phương pháp dạy học ở các trường trung học phổ thông tại
quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh”, năm 2006); Luận văn thạc sĩ QLGD của
tác giả Ngô Hoàng Gia ( “Những biện pháp quản lý đổi mới hoạt động dạy học của
Hiệu trưởng các trường THCS huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ”, năm 2007); Luận
văn thạc sĩ QLGD của Lê Sĩ Hải ( “Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học của
Hiệu trưởng nhằm phát huy vai trò tích cực, chủ động trong học tập của HS THPT
huyện Thọ Xuân- Thanh Hoá” 2007); Luận văn thạc sĩ QLGD của Trần Thị Bích Vân
với đề tài ( “Biện pháp quản lý hoạt động dạy học của Hiệu trưởng trường THPT
Huyện Vũ Thư- tỉnh Thái Bình, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay”, 2011)
Nhìn chung tất cả các công trình nêu trên đều đã đề cập đến vấn đề đổi mới
PPDH trong nhà trường phổ thông hiện nay, và đã chỉ ra được sự cần thiết cũng như
những nguyên nhân ảnh hưởng đến quá trình thực hiện đổi mới PPDH. Đồng thời
cũng đã khẳng định được thay đổi nhà trường và thay đổi PPDH là điều tất yếu trong
sự phát triển của xã hội hiện nay. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về
quản lý hoạt động đổi mới PPDH dạy học theo tiếp cận năng lực tại các trường THPT
ở huyện Mỹ Đức, Hà Nội.
1.2.
Năng lực và tiếp cận năng lực trong giáo dục
1.2.1.
Khái niệm
Khái niệm năng lực (competency) có nguồn gốc tiếng Latinh “competentia”.
Ngày nay khái niệm năng lực được hiểu nhiều nghĩa khác nhau. Năng lực được hiểu
như sự thành thạo, khả năng thực hiện của cá nhân đối với một công việc. Năng lực
cũng được hiểu là khả năng, công suất của một doanh nghiệp, thẩm quyền pháp lý của
•
Trong các môn học, những nội dung và hoạt động cơ bản được hên kết với
nhau nhằm hình thành các năng lực;
•
Năng lực là sự kết hợp của tri thức, hiểu biết, khả năng, mong muốn...;
•
Mục tiêu hình thành năng lực định hướng cho việc lựa chọn, đánh giá mức độ
quan trọng; cấu trúc hóa các nội dung và hoạt động dạy học về mặt phưoug
pháp;
•
Năng lực mô tả việc giải quyết những nhiệm vụ trong các tình huống: ví dụ
như đọc một văn bản cụ thể ... Nắm vững và vận dụng được các phép tính cơ
bản ...;
•
Các năng lực chung cùng với các năng lực chuyên môn tạo thành cơ sở chung
trong việc giáo dục và dạy học;
•
Mức độ đối với sự phát triển năng lực có thể được xác định ữong các chuẩn:
tư duy lôgic, phân tích, tổng họp, trừu tượng hoá, khả năng nhận biết các mối quan hệ
hệ thống và quá trình. Năng lực chuyên môn hiểu theo nghĩa hẹp là năng lực “nội
dung chuyên môn”, theo nghĩa rộng bao gồm cả năng lực phương pháp chuyên môn.
Năng lực phương pháp (Methodical competency): Là khả năng đối với những
hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và
vấn đề. Năng lực phương pháp bao gồm năng lực phương pháp chung và phương pháp
chuyên môn.
Trung tâm của phương pháp nhận thức là những khả năng tiếp nhận, xử lý,
đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức.
Năng lực xã hội (Social competency): Là khả năng đạt được mục đích trong
những tình huống xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau trong sự phối họp
chặt chẽ với những thành viên khác.
Năng lực cá thể (Induvidual competency): Là khả năng xác định, đánh giá
được những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của cá nhân, phát triển năng
khiếu, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, những quan điểm, chuẩn giá
trị đạo đức và động cơ chi phối các thái độ và hành vi ứng xử .
Mô hình cấu trúc năng lực trên đây có thể cụ thể hoá trong từng lũih vực
chuyên môn, nghề nghiệp khác nhau. Mặt khác, ữong mỗi lĩnh vực nghề nghiệp người
ta cũng mô tả các loại năng lực khác nhau. Ví dụ năng lực của GV bao gồm những
nhóm cơ bản sau: năng lực dạy học; năng lực giáo dục; năng lực đánh giá, chẩn đoán
và tư vẩn; năng lực phát triển nghề nghiệp và phát triển trường học.
Từ cấu trúc của khái niệm năng lực cho thấy giáo dục định hướng phát triển
năng lực không chỉ nhằm mục tiêu phát triển năng lực chuyên môn bao gồm tri thức,
kỹ năng chuyên môn mà còn phát triển năng lực phương pháp, năng lực xã hội và
năng lực cá thể. Những năng lực này không tách rời nhau mà có mối quan hệ chặt chẽ.
Năng lực hành động được hình thành trên cơ sở có sự kết họp các năng lực này.
Trong các chương trình dạy học hiện nay của các nước thuộc khối OECD,
người ta cũng sử dụng mô hình đơn giản hơn, phân chia năng lực thành hai nhóm
Giao tiếp toán học;
•
Tranh luận về các nội dung toán học;
•
Vận dụng các cách trình bày toán học;
•
Sử dụng các ký hiệu, công thức, các yêu tố thuật toán.
1.2.3.
Tiếp cận năng lực trong giáo dục
Tiếp cận theo hướng năng lực thực chất là tiếp cận đầu ra, có điều đầu ra là các
năng lực chung, tiếp cận về mặt kiến thức hay về mặt năng lực. Xu hướng mới nhất
hiện nay là tiếp cận theo hướng năng lực, họ hình dung ra HS tốt nghiệp phổ thông
phải có được những năng lực như thế nào để nó ứng phó được với cuộc sống bên
ngoài bên cạnh năng lực chung mà ai cũng phải có, cần có những năng lực chuyên
biệt: âm nhạc, vẽ, văn, năng lực toán học, năng lực sáng tạo... w tư duy phê phán, năng
lực chung ai cũng cần có trong cuộc sống.
Xu thế năng lực trong nhà trường để hình thành năng lực đó mình phải lựa
chọn những môn học có vai trò chủ đạo để giảm đầu môn học đừng bắt HS phải học
quá nhiều môn học, hình thành năng lực là không cần nhồi nhét, cách dạy và yêu cầu
HS vận dụng kiến thức vào giải quyết các tình huống đời sống tránh chạy theo nội
Thực hiện các PPDH là nhà giáo đem đến cơ hội cho HS các con đường khám
phá tri thức, nhận biết và lý giải tồn tại khách quan, đồng thời nhà giáo cũng được
củng cố vốn tri thức, phát hiện ra những mặt mạnh, yếu của kiến thức bản thân mình,
của PPDH hiện có để rồi tự học, tự bồi dưỡng, thay đổi, điều chỉnh cách tiếp cận nội
dung bài học, cách tiếp cận người học. Dạy học như thế là dạy học đồng sáng tạo,
đồng hiện hai chủ thể thầy và trò, tương tác phát triển và thống nhất trong tổ chức
hành động chiếm lũih tri thức bài học. PPDH nên lấy tự học làm trọng, quản lý dạy
học cũng đề cao quá trình mỗi chủ thể tự quản lý, lập kế hoạch, tổ chức thực hiện hiệu
quả các mục tiêu dạy học.
1.3.2.
Quan niệm về đỗi mới phương pháp dạy học
Đổi mới PPDH được tiếp cận theo nhiều khía canh khác nhau, tùy theo mỗi
cách tiếp cận sẽ có những quan niệm khác nhau về đổi mới PPDH. Tuy nhiên có thể
hiểu một cách chung nhất: Đổi mới PPDH là cải tiến những hình thức và cách thức
làm việc kém hiệu quả của giáo viên và học sinh, sử dụng những hình thức và cách
thức hiệu quả hơn, nhằm nâng cao chất lượng dạy và học, phát huy tính tích cực, sáng
tạo, phát triển năng lực của học sinh, phù họp với đặc điểm của môn học.
Như vậy có thể hiểu đổi mới PPDH không phải là phủ định các PPDH truyền
thống và tuyệt đối hóa các phương PPDH hiện đại. Trong đổi mới PPDH cần khai thác
những yếu tố tích cực của các PPDH truyền thống, sử dụng chúng một cách họp lí, có
hiệu quả trong sự kết họp hài hòa với các PPDH hiện đại.
Đổi mới PPDH không phải là hoạt động đơn lập từ phía thầy- ừò mà hiệu quả
của nó phụ thuộc rất nhiều vào tu duy, năng lực lãnh đạo của người quản lý trường
học. Người Hiệu trưởng có vai trò quan trọng trong việc lập kế hoạch, triển khai thực
thi, kiểm tra đánh giá chất lượng hoạt động đổi mới PPDH trong nhà trường.
Những hoạt động chỉ đạo của Hiệu trưởng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”. [4]
Thực tế, xã hội Việt Nam đang không ngừng thay đổi, hội nhập kinh tế toàn
cầu. Điều này đòi hỏi phải xây dựng được lực lượng lao động có tri thức, có năng lực
để đáp ứng với yêu cầu của xã hội. Trường học chính là nơi xây dựng và bồi dưỡng
nguồn lực lao động đó. Nhu cầu xã hội thay đổi đã đặt ra yêu cầu cho nhà trường cần
phải đào tạo được những HS có tri thức và kỹ năng thực hành. Vậy làm thế nào để có
được những HS đáp ứng được yêu cầu đó của xã hội? chúng ta đều biết rằng việc học
tập chỉ có kết quả khi người học phát huy được nội lực để phát triển chính mình. Nếu
trong quá trình học tập HS không tích cực suy nghĩ, tự tìm tòi, không có sự nỗ lực cao
để tự chiếm lĩnh tri thức, thì HS chỉ có thể tiếp thu được những gì thầy truyền thụ. Và
như vậy người học khó có thể phát huy được tính chủ động, tích cực, độc lập, sáng tạo
và khả năng ứng dụng tri thức vào thực tiễn cuộc sống.
Bên cạnh đó, nếu như bản thân người GV trong quá trình dạy học không tự
học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ năng lực chuyên môn của mình thì không đáp
ứng nhu cầu đòi hỏi của thực tiễn xã hội, không đáp ứng được nhu cầu của người học.
Chính vì vậy đổi mới PPDH theo tiếp cận năng lực cũng là một ừong những cách thức
giúp người GV nâng cao trình độ năng lực sư phạm của bản thân, qua đó nâng cao
chất lượng dạy học của nhà trường, nâng cao vị thế của nhà trường.
1.3.3.2.
Yêu cầu của việc đổi mới PPDH ở trường THPT
Bản chất của đổi mới PPDH phải bắt đầu từ đặc điểm chính chủ thể của hoạt
động học của HS, theo tinh thần: “ Phát huy triệt để tính tích cực chủ động, sáng tạo
của HS trong học tập. Phân hoá vừa sức cố gắng của từng đối tượng. Tăng cường dạy
cách tự học, tự hoàn thiện mình cho HS”.
Đổi mới PPDH phải đồng bộ với đổi mới cách tổ chức, quản lý nội dung,
chương trình dạy học để tối ưu hoá quá trình dạy học. Sử dụng phối hợp các PPDH
trong quá trình đổi mới PPDH.
Đổi mới PPDH phải đồng bộ với đổi mới cách kiểm tra, đánh giá kết quả học
hàng ngày của cả thầy và trò, vì vậy để đảm bảo đổi mới PPDH có kết quả, phải có
định hướng đúng.
1.1.
Quản lý nhà trường và quản lý hoạt động dạy học trong nhà
trường
1.4.1.
Quản lý nhà trường
1.4.1.1.
Khải niệm “Quảnlỷ”
Đã có rất nhiều người định nghĩa về quản lý. Trong Luận văn này “Quản lý’’
được hiểu theo từ điển Bách khoa Việt Nam [29]: “Quản lý là chức năng hoạt động
của hệ thống có tổ chức thuộc các giới hạn khác nhau (xã hội, sinh học, kỹ thuật) bảo
đảm giữ gìn một cơ cấu ổn định nhất định ,duy trì sự hoạt động tối ưu và bảo đảm thực
hiện những chương trình và mục tiêu của hệ thống đó” và theo tác giả Trần Kiểm:
“Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết
họp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và
ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với
hiệu quả cao nhất”[24].Mọi hoạt động quản lý được thực hiện thông qua các chức
năng quản lý nhằm thực hiện mục tiêu quản lý.
1.4.1.2.
Các chức năng cơ bản của quản lý
lạc, sai sót nảy sinh trong quá trình thực hiện, từ đó tìm hiểu các nguyên nhân
và đề ra các biện pháp khắc phục, sửa chữa, đảm bảo cho kế hoạch đề ra được
thực hiện thành công, cần có kế hoạch kiểm tra rõ ràng, sắp xếp tổ chức họp lý,
xác định rõ trách nhiệm của từng cá nhân, từng bộ phận ... thì kiểm tra mới đạt
kết quả mong muốn.
Ngoài ra, trong điều kiện xã hội thông tin ngày nay vai trò của thông tin trong
quản lý cũng được coi như một chức năng của quản lý.
1.4.1.3.
Biện pháp quản lý
Theo từ điển Bách khoa tiếng Việt [29], biện pháp là cách làm, cách thức tiến
hành giải quyết một vấn đề cụ thể .
Biện pháp quản lý là tổ họp cách thức tác động cụ thể của chủ thể quản lý đến
đối tượng quản lý để giải quyết những vấn đề cụ thể của hệ quản lý, làm cho hệ vận
hành phát triển đạt được mục tiêu mà chủ thể quản lý đã đề ra và phù họp với quy luật
khách quan. Các biện pháp quản lý có liên quan chặt chẽ với nhau tạo thành hệ thống
các biện pháp.
Trong QLGD, biện pháp quản lý là tổ họp nhiều cách thức tiến hành của chủ
thể quản lý (nhà quản lý) nhằm tác động lên đối tượng quản lý để giải quyết những
vấn đề trong công tác quản lý, làm cho hệ vận hành đạt mục tiêu quản lý đã đề ra và
phù họp với qui luật khách quan.
Do vậy, người quản lý phải có kiến thức sâu rộng, có kinh nghiệm, phải nhạy
cảm, linh hoạt và mềm dẻo để tiên đoán trước hoàn cảnh, tình huống mà đối tượng
quản lý đặt ra thì mới có được các quyết định đúng trong việc lựa chọn biện pháp quản
lý hữu hiệu.
Dạy học gồm hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS, hai hoạt động
này thống nhất biện chứng với nhau: hoạt động này lẩy hoạt động kia làm tiền đề tồn
tại của mình. Nếu thiếu quan tâm đến một trong hai hoạt động đó, hoặc sự phối họp
hoạt động dạy học không họp lý thì hoạt động dạy học không thể có hiệu quả cao.
Trong đó, dưới sự lãnh đạo, tổ chức điều khiển của GV, HS tích cực, tự giác tự tổ
chức, tự điều khiển hoạt động học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy
học.
*
Mối quan hệ giữa hoạt động dạy và hoạt động học: Trong hoạt động dạy học,
hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò có mối liên hệ thống nhất
biện chứng,
*
Hoạt động dạy (của GV): là tổ chức, điều khiển hoạt động học của trò, giúp
cho người học lĩnh hội tri thức, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo và những giá trị theo
mục tiêu giáo dục đề ra. Hoạt động dạy bao gồm việc GY đề ra các yêu cầu, tổ
chức, điều khiển, hướng dẫn, điều chỉnh nhận thức học tập của HS, đảm bảo
mối liên hệ ngược thông qua kiểm tra, đánh giá kết quả.
*
Hoạt động học (của HS): là một dạng hoạt động nhận thức đặc trưng của HS,
có ý thức, có đối tượng nhằm mục đích lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, những
giá trị và phưorng thức tự học, hành động và phát triển bản thân. Thực chất
hoạt
cận năng lực
- Quản lý xây dựng kể hoạch thực hiện chưomg trình dạy học
Chương trình dạy học là một căn cứ pháp lý để Nhà nước tiến hành chỉ đạo và
giám sát hoạt động dạy học của nhà trường. Đồng thời, nó cũng là căn cứ pháp lý để
Hiệu trưởng chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá hoạt động giảng dạy và hiệu quả giảng dạy
của GY.
Chương trình dạy học theo tiếp cận năng lực không quy định những nội dung
dạy học chi tiết mà quy định kết quả đầu ra mong muốn của quá trình đào tạo, trên cơ
sở đó đưa ra những hướng dẫn chung về lựa chọn nội dung, phương pháp, tổ chức và
đánh giá kết quả dạy học nhằm đảm bảo thực hiện được mục tiêu dạy học, tức là đạt
kết quả đầu ra mong muốn.
Quản lý đổi mới PPDH theo tiếp cận năng lực là tạo điều kiện quản lý chất
lượng theo kết quả năng lực đầu ra đã quy định, nhấn manh năng lực vận dụng của học
sinh.
Quản lý xây dựng kế hoạch thực hiện chưong trình dạy học nhằm góp phần
thực hiện mục tiêu của chưong trình giáo dục phổ thông, phù họp với điều kiện thực tế
của nhà trường, địa phương và khả năng học tập của học sinh.
- Quản lỷ việc soạn bài và chuẩn bị giờ lên lớp:
Soạn bài và chuẩn bị giờ lên lớp là lao động sáng tạo của người GY nhằm tìm
tòi, suy nghĩ, lựa chọn, quyết định mục tiêu (kiến thức, kỹ năng, thái độ), nội dung,
phương tiện,phương pháp,hình thức lên lớp... của bài học phù họp với các đổi tượng
HS khác nhau. Trong quản lý dạy học theo tiếp cận năng lực người quản lý phải thực