Trờng Đại học KINH Tế QuốC DÂN
------------
nguyễn phơng hoa
chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ
ngành dệt may việt nam
Chuyên ngành: quản lý kinh tế và chính sách
Ngời hớng dẫn khoa học:
PGS.TS. MAI VĂN BƯU
Hµ néi – 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng
tôi. Các số liệu sử dụng phân tích trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố
theo quy định. Những kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là hoàn
toàn trung thực, khách quan, không vi phạm bất cứ điều gì trong Luật sở hữu trí tuệ
và pháp luật Việt Nam.
Hà Nội, ngày
tháng
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Phương Hoa
CCN
CLKN
CNHT
CNH - HĐH
CSDL
DNNN
DNVVN
ĐTNN
FDI
FTA
GTGT
GTSX
KCN
KH&CN
NĐT
NSNN
TNDN
TPP
Chú thích (Tiếng việt)
Cụm công nghiệp
Cụm liên kết ngành
Công nghiệp hỗ trợ
Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
Cơ sở dữ liệu
Doanh nghiệp Nhà nước
Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Đầu tư nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Hiệp định thương mại tự do
Apparel Association
Trờng Đại học KINH Tế QuốC DÂN
------------
nguyễn phơng hoa
chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ
ngành dệt may việt nam
Chuyên ngành: quản lý kinh tế và chính sách
Ngời hớng dẫn khoa học:
PGS.TS. MAI VĂN BƯU
Hµ néi – 2015
i
TÓM TẮT LUẬN VĂN
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ NGÀNH DỆT MAY
Chương này của luận văn đã làm rõ khái niệm và đặc điểm, vai trò của CNHT
ngành dệt may; khái niệm, mục tiêu, tiêu chí đánh giá, một số chính sách của chính
sách phát triển CNHT ngành dệt may và những yếu tố ảnh hưởng đến chính sách phát
sách thu hút FDI, chính sách phát triển KH&CN, chính sách phát triển nguồn nhân
lực, chính sách tăng cường thông tin, liên kết doanh nghiệp, chính sách tài chính.
Luận văn cũng thực hiện đánh giá chính sách phát triển CNHT dệt may theo hai
hướng: đánh giá kết quả thực hiện mục tiêu chính sách (theo tiêu chí đánh giá) và
đánh giá các chính sách phát triển CNHT ngành dệt may (điểm mạnh, điểm yếu,
nguyên nhân).
Đánh giá kết quả thực hiện mục tiêu chính sách phát triển CNHT ngành dệt may:
Thành công của chính sách: Tỷ lệ nội địa hóa ngành dệt may đang dần được
nâng lên, góp phần xây dựng ngành dệt may trở thành ngành công nghiệp mũi nhọn,
phát triển bền vững. Đồng thời, từ năm 2012 Việt Nam đã bắt đầu xuất khẩu các sản
phẩm CNHT dệt may có chất lượng cao.
Hạn chế: là tỷ lệ nội địa hóa của ngành dệt may vẫn còn thấp, chưa đạt được
mức kỳ vọng đặt ra. Giá trị xuất khẩu các sản phẩm CNHT dệt may còn rất nhỏ
(chiếm khoảng 10% tổng giá trị xuất khẩu toàn ngành dệt may), chủng loại còn
khiêm tốn (chủ yếu là xơ sợi).
Đánh giá các chính sách phát triển CNHT ngành dệt may
Những điểm mạnh của chính sách
- Chính sách phát triển CNHT dệt may Việt Nam đang dần được hình thành
và hoàn thiện, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư và sản xuất các sản
phẩm CNHT dệt may.
- Chính sách thu hút FDI vào lĩnh vực CNHT dệt may đã có nhiều giải pháp
ưu đãi về cơ sở hạ tầng, công nghệ, thu hút được số lượng lớn vốn đầu tư từ nhiều
NĐT nước ngoài.
- Chính sách phát triển KH&CN cho ngành CNHT dệt may thông qua các
Quỹ phát triển KH&CN quốc gia đã khuyến khích được các doanh nghiệp mạnh
dạn đầu tư vào khâu nghiên cứu, chế tạo ra những sản phẩm mới, có hàm lượng
công nghệ cao (đặc biệt là các sản phẩm xơ sợi tổng hợp), góp phần nâng cao năng
lực sản xuất, nâng cao năng suất, hạ giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh.
- Chính sách phát triển nguồn nhân lực đã thực hiện nhiều giải pháp thúc
đẩy hoạt động đào tạo, nâng cao tay nghề, đáp ứng kịp thời nhu cầu về nguồn
CNHT dệt may còn yếu và thiếu.
- Trong chính sách tăng cường thông tin, liên kết doanh nghiệp, các chính
sách phát triển khu, cụm công nghiệp vẫn chỉ tập trung vào số lượng, thiếu quy
hoạch đồng bộ trên phạm vi cả nước.
- Chính sách tài chính cho phát triển CNHT dệt may với nhiều công cụ thực
hiện tồn tại nhiều bất cập:
+ Chính sách hỗ trợ và bảo lãnh tín dụng đầu tư của Việt Nam tuy đã có nhưng
mang tính chất đơn lẻ, đặc biệt chưa có sự gắn kết rộng rãi quyền lợi của các bên; Lãi
suất ưu đãi trên thực tế vẫn còn cao đối với các doanh nghiệp
+ Các ưu đãi về thuế đã có nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu hỗ trợ từ các
doanh nghiệp. Ưu đãi về thuế GTGT gần như chưa có đối với sản phẩm CNHT dệt may.
+ Chính sách về ưu đãi miễn giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo pháp
luật về khuyến khích đầu tư, cho đối tượng chính sách cũng còn bất cập.
iv
Nguyên nhân của các hạn chế
- Các chính sách thay đổi quá nhanh và thiếu nhất quán, thiếu sự thông tin và
tư vấn kịp thời...; sự kết hợp giữa các chính sách hỗ trợ tác động tích cực đến ngành
dệt may còn yếu, khả năng tiếp cận các ưu đãi không dễ dàng do quy trình thường
phức tạp và thiếu tiêu chí cụ thể
- Với nguồn lực ngân sách nhà nước còn eo hẹp, phần đầu tư cho ngành
CNHT rất hạn chế. Các doanh nghiệp rất khó tiếp cận sự hỗ trợ của Nhà nước.
- Quá trình hoạch định các chính sách thiếu sự tham gia của cộng đồng kinh
doanh và cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ, ban ngành.
CHƯƠNG III
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH
SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ NGÀNH DỆT MAY
cả về công nghệ sản xuất và quản lý kinh doanh, đặc biệt tập trung việc đào tạo vào
những lĩnh vực Việt Nam còn yếu và thiếu.
Nâng cao hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực thông qua nâng cao trình độ và
chất lượng giảng dạy của giảng viên; Đổi mới tích cực chương trình đào tạo, mở các
khoa chuyên ngành về lĩnh vực CNHT dệt may; Đẩy mạnh chương trình liên kết
đào tạo với các trường đại học trong và ngoài nước, tăng cường hợp tác với các
nước có ngành CNHT dệt may phát triển như Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan,
Thái Lan… ; Tăng cường liên kết giữa các cơ sở đào tạo và cơ sở sản xuất, kết hợp
giữa học lý thuyết và học việc; Xây dựng các trung tâm đào tạo tạo tại các KCN.
Khuyến khích các doanh nghiệp FDI tham gia vào công tác đào tạo. ..
Đề xuất thành lập Quỹ Hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực phát triển CNHT.
(4) Hoàn thiện chính sách tăng cường thông tin, liên kết doanh nghiệp
cho CNHT ngành dệt may
- Xúc tiến thành lập một cơ quan đầu mối về CNHT trên cả nước nhằm cung
cấp thông tin mọi mặt cho các doanh nghiệp hỗ trợ nội địa khi cần thiết. Đẩy mạnh
vai trò của các Hiệp hội.
- Kết nối các doanh nghiệp thông qua các tọa đàm, hội chợ, triển lãm giới
thiệu sản phẩm. Nhà nước cần có các chính sách khuyến khích các doanh nghiệp
sản xuất các sản phẩm dệt may trong nước thu nạp các nhà cung cấp các sản phẩm
hỗ trợ dệt may và cơ khí dệt may nội địa vào chuỗi cung ứng của họ.
- Xây dựng cơ sở dữ liệu và website về danh mục các doanh nghiệp sản xuất
sản phẩm CNHT dệt may, các sản phẩm CNHT dệt may, danh mục các sản phẩm
CNHT cần ưu tiên phát triển để thu hút đầu tư từ các thành phần kinh tế, các loại
hình doanh nghiệp có quan tâm, đặc biệt là doanh nghiệp FDI.
- Phát triển các CLKN, KCN, CCN chuyên về CNHT ngành dệt may, tạo
mạng liên kết sản xuất, hình thành chuỗi giá trị.
(5) Hoàn thiện chính sách tài chính cho phát triển CNHT ngành dệt may
Thứ nhất, hoàn thiện khung chính sách hiện hành về Chính sách ưu đãi thuế
xuất khẩu, thuế nhập khẩu; thuế GTGT; Về chính sách ưu đãi tín dụng và bảo lãnh
tín dụng. Đẩy mạnh triển khai và thực hiện tốt chính sách tín dụng đầu tư của Nhà
nên những nhận xét và đánh giá còn đôi chút mang tính chủ quan, có những nội
dung chưa đi sâu vào mặt lý luận.
Những hạn chế trên cũng chính là những gợi mở để tác giả có định hướng
khắc phục, mở rộng đề tài và phạm vi áp dụng cho những nghiên cứu tiếp theo.
Trờng Đại học KINH Tế QuốC DÂN
------------
nguyễn phơng hoa
chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ
ngành dệt may việt nam
Chuyên ngành: quản lý kinh tế và chính sách
Ngời hớng dẫn khoa học:
PGS.TS. MAI VĂN BƯU
ii
Hµ néi – 2015
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hội nhập kinh tế quốc tế đang trở thành một xu thế khách quan của quá trình
* Tình hình nghiên cứu
Liên quan đến chủ đề về công nghiệp hỗ trợ, đã có một số đề tài trong nước
tiến hành nghiên cứu như:
- “Chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam đến năm 2020”,
Đề tài NCKH cấp Nhà nước năm 2010 do GS.TS Hoàng Văn Châu chủ biên. Đề tài
đã khái quát chung về chính sách phát triển CNHT, thực trạng phát triển CNHT và
chính sách phát triển CNHT các ngành chủ chốt của Việt Nam, đề xuất chính sách
phát triển CNHT của Việt Nam đến năm 2020.
- “Công nghiệp hỗ trợ - Kinh nghiệm từ các nước và giải pháp” của tập thể
giáo viên trường Đại học Ngoại thương do GS.TS Hoàng Văn Châu chủ biên năm
2009. Đề tài đã mô tả bức tranh chân thực về CNHT của Việt Nam, kinh nghiệm
phát triển CNHT của một số nước trên thế giới.
-“Phát triển công nghiệp phụ trợ trong chính sách phát triển công nghiệp
Việt Nam” – một bài viết của GS.TS Nguyễn Kế Tuấn đăng trên Tạp chí Kinh tế và
Phá triển số 85 (tháng 7, năm 2004). Trong bài viết này, tác giả đã khái quát các
nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển CNHT của các ngành công nghiệp nói chung,
trong đó có dệt may, trên cơ sở đó đưa ra các quan điểm lựa chọn chiến lược và
chính sách phát triển CNHT.
- Sách chuyên khảo “Phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam: Lý thuyết,
thực tiễn và chính sách” của PGS.TS Lê Thế Giới, NXB Chính trị Quốc gia 2010.
Trên cơ sở giới thiệu các khái niệm, bản chất, đặc điểm, hệ thống lý luận và hệ
thống chính sách về CNHT, tác giả đề xuất các giải pháp về chính sách vĩ mô và thị
trường nhằm thúc đẩy sự phát triển của CNHT ở Việt Nam hiện nay.
Tuy nhiên, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể, toàn diện
về Chính sách phát triển CNHT Việt Nam, đặc biệt là gắn với phân tích thực trạng
phát triển của CNHT ngành Dệt may Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế
quốc tế, chuẩn bị gia nhập TPP.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng khung lý luận về chính sách phát triển CNHT ngành dệt may;
- Chính sách thu hút vốn
FDI.
- Chính sách phát triển
KH&CN.
- Chính sách phát triển
nguồn nhân lực.
- Chính sách tăng cường
thông tin và liên kết DN.
- Chính sách tài chính
Mục tiêu CS phát
triển CNHT ngành
Dệt may:
- Phát triển hệ thống
các doanh nghiệp
CNHT.
- Xây dựng năng lực
cạnh tranh quốc tế
của ngành.
- Xây dựng nền tảng
công nghiệp, tạo
động lực phát triển
công nghiệp Việt
Nam.
4
4.2. Quy trình nghiên cứu
Bước 1: Thu thập, tổng hợp các tài liệu lý thuyết về CNHT và chính sách
5
6. Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn được trình bày thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ.
Chương 2: Thực trạng chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ Dệt may Việt Nam
giai đoạn 2010 - 2014.
Chương 3: Phương hướng và một số giải pháp chính sách phát triển công
nghiệp hỗ trợ Dệt may Việt Nam đến năm 2025.
6
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ NGÀNH DỆT MAY
1.1. Công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may
1.1.1. Khái niệm công nghiệp hỗ trợ và công nghiệp hỗ trợ dệt may
1.1.1.1. Khái niệm công nghiệp hỗ trợ
Thuật ngữ “công nghiệp hỗ trợ” (supporting industry) mặc dù đã được sử
dụng rộng rãi tại nhiều quốc gia nhưng hiện nay vẫn không có một định nghĩa thống
nhất mà mỗi quốc gia có thể đưa ra những cách hiểu theo nghĩa rộng, hẹp khác nhau.
Hình 1.1 Công nghiệp hỗ trợ theo quan điểm của Nhật Bản
Nguồn: J.Mori, 2005
Nhật Bản, nơi lần đầu tiên thuật ngữ “công nghiệp hỗ trợ” được sử dụng vào những
năm 80 của thế kỷ 19. “Công nghiệp hỗ trợ” được dịch từ thuật ngữ gốc trong tiếng
Nhật là “Suso-no San-gyou” (suso-no nghĩa là chân núi, san-gyou là công nghiệp).
Nếu hình dung toàn bộ quá trình sản xuất một sản phẩm như một quả núi thì các
xuất, cung cấp những yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất sản phẩm cuối cùng.
Trong sản xuất hiện đại, hầu hết các công đoạn sản xuất các vật liệu, linh kiện được
thực hiện bên ngoài nhà máy của nhà lắp ráp cuối cùng. Tất cả hệ thống này tạo nên
ngành CNHT.
Ở một phạm vi nhỏ hơn, khi xem xét CNHT, người ta hay đề cập tới CNHT
cho một ngành cụ thể. Ví dụ: CNHT cho ngành ô tô, CNHT cho ngành điện tử,
CNHT cho ngành dệt may, CNHT cho ngành da giày…
Đối với những nước đang phát triển như Việt Nam, khái niệm về CNHT
được du nhập từ các nước phát triển, qua các nhà đầu tư và các chính sách hỗ trợ
phát triển. Cách thức chủ yếu đề phát triển công nghiệp của các nước đang phát
triển là việc phát triển sản xuất từ việc sản xuất linh kiện, tham gia vào chuỗi sản
xuất của các nhà sản xuất nước ngoài. Do đó, khái niệm CNHT được sử dụng với
mục đích định hướng chính sách phát triển công nghiệp.
Trong Quy hoạch tổng thể phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ đến năm
2010, tầm nhìn 2020 của Bộ Công Thương Việt Nam, hệ thống CNHT là hệ thống
các nhà sản xuất và công nghệ sản xuất có khả năng tích hợp theo chiều ngang,
cung cấp nguyên vật liệu, linh kiện, phụ tùng cho khâu lắp ráp cuối cùng. CNHT có
thể được phân chia thành hai thành phần chính: Phần cứng là các cơ sở sản xuất
nguyên vật liệu và linh phụ kiện lắp ráp và phần mềm bao gồm các bộ phận thiết kế
sản phẩm, mua sắm, hệ thống dịch vụ công nghiệp và maketing.
Trong Dự thảo Nghị định về phát triển công nghiệp hỗ trợ thì CNHT là các
ngành công nghiệp sản xuất từ nguyên vật liệu đến gia công chế tạo các sản phẩm,
phụ tùng, linh kiện, phụ kiện, bán thành phẩm… để nâng cấp cho ngành công
nghiệp lắp ráp các sản phẩm cuối cùng là tư liệu, công cụ sản xuất hoặc sản phẩm
tiêu dùng. Như vậy có thể thấy rằng Dự thảo nghị định tập trung vào phần cứng của
CNHT theo quan điểm trong bản quy hoạch đưa ra. Quan điểm này cũng phù hợp
với định nghĩa của Diễn đàn phát triển Việt Nam (Vietnam Development Forum)
khi cho rằng “Công nghiệp hỗ trợ gồm một nhóm các hoạt động công nghiệp cung
nghiệp hỗ trợ tham gia vào nhiều ngành sản xuất khác nhau, khó có thể xác định
nhà sản xuất tham gia một ngành đơn nhất nào. Điều này hình thành một ma trận
10
trong hệ thống CNHT, hạn chế khả năng tiếp cận các doanh nghiệp sản xuất hỗ trợ.
1.1.1.2. Khái niệm công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may
Ngành dệt may là ngành công nghiệp sản xuất ra các sản phẩm phục vụ cho
nhu cầu thiết yếu của con người như các loại vải vóc, quần áo và đồ dùng bằng vải.
Sản phẩm của công nghiệp dệt may gồm: sản phẩm may mặc cuối cùng, các loại
vải, các sản phẩm khác từ sợi… Đặc điểm của công nghiệp dệt may là ngành thuộc
lĩnh vực công nghiệp nhẹ, sử dụng nhiều lao động.
Sơ đồ 1.1. Sơ đồ mô tả toàn bộ quá trình sản xuất dệt may
Ngành dệt bao gồm các khâu sản xuất: kéo sợi, dệt vải, nhuộm và hoàn tất
vải. Ngành may sử dụng nguyên liệu chính là vải và một số phụ liệu khác (khuy,
ren, mác…), qua các khâu thiết kế, cắt, may để tạo thành các sản phẩm may mặc
cuối cùng. Hai ngành dệt và may có mối quan hệ khăng khít và gắn bó với nhau, sự
phát triển của ngành này là tiền đề đồng thời là động lực để phát triển ngành kia và
có ý nghĩa sống còn đối với ngành dệt may nói chung.
CNHT cho ngành dệt may là ngành công nghiệp chuyên sản xuất các sản
phẩm hỗ trợ cho ngành công nghiệp dệt may. CNHT cho ngành dệt may bao gồm 2