LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng mình.
Các số liệu nêu trong Luận văn là hoàn toàn trung thực. Các đánh giá, kết luận khoa
học của Luận văn chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu Hiền
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong quá trình hội nhập mở cửa thị trường trong nước và Quốc tế,
khuôn khổ pháp lý sẽ dần hoàn thiện và phù hợp dần với thông lệ Quốc tế,
dẫn đến sự hình thành môi trường kinh doanh bình đẳng và từng bước phân
chia lại thị phần giữa các doanh nghiệp theo hướng cân bằng hơn, thị phần
của từng doanh nghiệp có thể giảm và nhường chỗ cho các nhóm doanh
nghiệp khác. Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên thị trường trở nên khốc
liệt hơn bao giờ hết, kinh doanh theo nguyên tắc thị trường cũng bắt buộc
doanh nghiệp phải có cơ chế quản lý và sử dụng lao động thích hợp, đặc biệt
là hoạt động quản trị doanh nghiệp, qua đó nâng cao hiệu quả hoạt động và
sức cạnh tranh trên thị trường.
Nhà quản trị doanh nghiệp luôn mong muốn nắm được các số liệu tài
chính để từ đó có thể nắm bắt được tình trạng thực tế của doanh nghiệp, cũng
như tiên lượng được triển vọng phát triển của doanh nghiệp mình trong thời
gian tới và công tác phân tích báo cáo tài chính là một công cụ hỗ trợ đắc lực
giúp doanh nghiệp hiện thực hóa mục tiêu trên.
Tổng công ty Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp Quốc Phòng (GAET) được
thành lập từ năm 2011, về cơ bản hoạt động kinh doanh đã đi vào ổn định
song vẫn phải đối mặt với rất nhiều những khó khăn và sự cạnh tranh khốc
liệt của thị trường. Để tồn tại và phát triển mạnh trong nền kinh tế thị trường
thì công tác phân tích báo cáo tài chính giúp Tổng công ty đảm bảo các mục
tích báo cáo tài chính theo quy định và quy chế hiện hành.
- Nghiên cứu đánh giá thực trạng công tác phân tích báo cáo tài chính tại
Tổng Công ty Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp Quốc phòng. Xác định điểm
mạnh điểm yếu về công tác phân tích báo cáo tài chính.
- Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện phân tích báo
cáo tài chính tại Tổng công ty Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp Quốc phòng.
3. Câu hỏi nghiên cứu
- Cơ sở lý luận chung về công tác phân tích báo cáo tài chính doanh
nghiệp gồm những nội dung gì?
- Thực trạng công tác phân tích báo cáo tài chính tại Tổng công ty Kinh
tế Kỹ thuật Công nghiệp Quốc phòng?
- Kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện Phân tích báo cáo tài chính tại
Tổng công ty Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp Quốc phòng?
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu công tác phân tích Báo
cáo tài chính của Tổng công ty Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp Quốc phòng.
- Phạm vi nghiên cứu: Thông tin, dữ liệu cho phân tích là hệ thống báo
cáo tài chính riêng của Tổng công ty Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp Quốc
phòng năm 2013 - 2014 đã được kiểm toán.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã sử dụng các phương pháp định
hướng và định tính nhằm mục đích nghiên cứu các tình huống:
- Nguồn dữ liệu và phương pháp thu thập dữ liệu bao gồm dữ liệu thứ
cấp và dữ liệu sơ cấp.
+ Dữ liệu thứ cấp: Là nguồn dữ liệu tác giả thu thập liên quan đến công
tác phân tích Báo cáo tài chính có sẵn do doanh nghiệp công bố hoặc do các
phương tiện thông tin đại chúng cung cấp (chủ yếu là giáo trình, sách báo, tài
liệu học tập, hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp qua các năm, các số
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về công tác phân tích báo cáo tài
chính doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng phân tích báo cáo tài chính tại Tổng công ty
Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp Quốc phòng
Chương 3: Một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện công tác phân tích báo
cáo tài chính tại Tổng công ty Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp Quốc phòng
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC PHÂN TÍCH
BÁO CÁO TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1. Báo cáo tài chính và ý nghĩa phân tích báo cáo tài chính tại
Doanh nghiệp
1.1.1. Báo cáo tài chính
Hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam, Báo cáo tài chính (BCTC) là
loại báo cáo kế toán, phản ánh một cách tổng quát toàn diện tình hình tài sản,
nguồn vốn, tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp trong một thời kỳ nhất định, được thể hiện thông qua một hệ thống các
chỉ tiêu có mối liên hệ với nhau do Nhà nước quy định thống nhất và mang
tính pháp lệnh. Như vậy, báo cáo tài chính không phải chỉ cung cấp những
thông tin chủ yếu cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp như: Các nhà
đầu tư, các nhà cho vay, các cơ quan quản lý cấp trên, các cơ quan thuế, cơ
quan kế hoạch và đầu tư,…..mà còn cung cấp thông tin cho các nhà quản trị
doanh nghiệp, giúp họ đánh giá, phân tích tình hình tài chính cũng như kết
quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
BCTC dùng để cung cấp thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh
doanh và các luồng tiền của một doanh nghiệp về: Tài sản, nợ phải trả, doanh
thu, thu nhập khác, chi phí kinh doanh và chi phí khác; lãi, lỗ và phân chia kết
quả kinh doanh, thuế và các khoản phải nộp Nhà nước, tài sản khác có liên
quan đến đơn vị kế toán.
Hoạt động phân tích báo cáo tài chính có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối
với các doanh nghiệp. Thường xuyên phân tích báo cáo tài chính sẽ giúp cho
nhà quản trị có những đánh giá khách quan về sức mạnh tài chính của doanh
nghiệp, khả năng sinh lời và triển vọng phát triển sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Từ đó cung cấp những thông tin đáng tin cậy giúp nhà quản trị
có cái nhìn chính xác, toàn diện về các nguồn lực của doanh nghiệp và đề ra
các kế hoạch phát triển một cách hợp lý. Các chỉ số tài chính cho phép chúng
ta so sánh các mặt khác nhau của các BCTC trong một doanh nghiệp và với
các doanh nghiệp khác trong toàn ngành để xem xét khả năng chi trả cổ tức
cũng như khả năng chi trả nợ vay… Chỉ số tài chính giúp nhà quản trị có thể
tìm ra xu hướng phát triển của doanh nghiệp cũng như giúp nhà đầu tư, các
chủ nợ kiểm tra được tình hình sức khỏe tài chính của doanh nghiệp.
Phân tích Báo cáo tài chính còn cung cấp các thông tin cho nhiều đối
tượng như nhà đầu tư, cổ đông, các tổ chức tín dụng, ngân hàng, các cơ quan
chức năng của Nhà nước, công ty kiểm toán, cán bộ Công nhân viên.... Cụ thể
như sau:
* Đối với nhà quản lý doanh nghiệp, báo cáo tài chính cung cấp thông tin
tổng hợp về tình hình tài sản, nguồn hình thành tài sản cũng như tình hình và
kết quả kinh doanh sau một kỳ hoạt động, trên cơ sở đó các nhà quản lý sẽ
phân tích đánh giá và đề ra được các giải pháp, quyết định quản lý kịp thời,
phù hợp cho sự phát triển của doanh nghiệp trong tương lai.
* Đối với các nhà đầu tư, những người cho vay, các tổ chức tín dụng:
Phân tích Báo cáo tài chính sẽ cung cấp cho các nhà đầu tư thông tin về giá trị
doanh nghiệp, khả năng sinh lời của vốn, tỷ suất lợi nhuận của vốn cổ phần,
tỷ suất lợi nhuận của vốn đầu tư và khả năng thanh toán. Ngoài ra, Phân tích
Báo cáo tài chính còn giúp cho các nhà đầu tư dự đoán giá doanh nghiệp, dự
đoán giá trị cổ phiếu, dự đoán khả năng sinh lời của vốn, hạn chế các rủi ro có
thể xẩy ra. Đồng thời, thông tin từ phân tích báo cáo tài chính sẽ hỗ trợ những
thông tin gì và phục vụ cho đối tượng nào. Sau khi xác định rõ mục tiêu phân
tích, ta sẽ nắm được những nội dung cần phân tích để đạt mục tiêu trên. Với
những nội dung phân tích đã đặt ra, người phân tích xác định phạm vi phân
tích, thời gian phân tích để thu thập được những tài liệu phục vụ cho hoạt
động phân tích của mình. Tài liệu cần phải được thu thập đầy đủ, có trọng
tâm, trọng điểm hướng vào vấn đề phân tích.
Việc xác định mục tiêu phân tích hệ thống BCTC doanh nghiệp hoàn
toàn phụ thuộc vào mục đích cụ thể của từng đối tượng sử dụng thông tin. Đối
với nhà quản trị, mục tiêu phân tích là kinh doanh có lãi và thanh toán được
nợ. Đối với người cho vay, mục tiêu là xác định khả năng hoàn trả nợ. Đặc
biệt, họ chú ý tới số lượng tiền và tài sản có thể chuyển thành tiền nhanh, từ
đó so sánh với nợ ngắn hạn để biết được khả năng thanh toán tức thời của
doanh nghiệp. Bên cạnh đó chủ nợ cũng quan tâm tới tỷ suất tự tài trợ. Riêng
nhà đầu tư và cổ đông tương lai, mối quan tâm hàng đầu của họ là hướng vào
các mặt hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Bởi vậy, họ cần những thông
tin về điều kiện tài chính, tình hình hoạt động và kết quả kinh doanh, các
nguồn lực tăng trưởng của doanh nghiệp. Với các nhà cung cấp, mục tiêu
phân tích là khả năng thanh toán nợ hiện tại và trong tương lai của các doanh
nghiệp. Ngoài ra, người lao động cũng cần những thông tin về tình hình ổn
định về thu nhập, phương hướng phát triển của doanh nghiệp họ định hướng
việc làm ổn định, hoạt động tích cực, tăng năng suất lao động.
Xây dựng chương trình phân tích BCTC doanh nghiệp. Đây là công việc
đầu tiên của tổ chức phân tích BCTC. Bởi vậy, chương trình phân tích được
xây dựng càng tỉ mỉ, chi tiết thì kết quả phân tích càng cao. Khi xây dựng
chương trình phân tích, cần nêu rõ những vấn đề cơ bản sau:
Sau khi thu thập được đầy đủ các tài liệu cần thiết, bước tiếp theo là xây
dựng các chỉ tiêu phân tích, hệ thống hóa các phương pháp phân tích thích
hợp cho từng đối tượng cụ thể, kết hợp các loại hình phân tích phù hợp với
Phân tích BCTC bao gồm một nội dung quan trọng là dự báo xu thế phát
triển tình hình tài chính doanh nghiệp trong tương lai. Để tiến hành dự đoán
người ta có thể áp dụng nhiều phương pháp khác nhau: Phương pháp nội suy,
phương pháp tương quan và hồi quy bội.... Ngoài ra, còn phải lưu ý tới các
yếu tố kinh tế ngoại sinh khác: Quan hệ cung cầu, giá cả thị trường.....
Sau khi tổng hợp, phân tích số liệu, cuối giai đoạn của quá trình phân
tích cần tổng hợp lại, đưa ra một số chỉ tiêu tổng hợp để đánh giá chung toàn
bộ hoạt động tài chính doanh nghiệp, rút ra những nhận xét, đánh giá, những
thành quả đạt được, hạn chế còn tồn tại.
1.2.3. Kết thúc phân tích
Sản phẩm cuối cùng của quá trình phân tích BCTC là báo cáo kết quả
phân tích. Đây là bảng tổng hợp những đánh giá cơ bản cùng những tài liệu
chọn lọc minh họa, rút ra từ quá trình phân tích. Báo cáo phải nêu rõ những
thực trạng tồn tại cũng như những tiềm năng cần khai thác. Từ đó, nêu rõ
những phương hướng và biện pháp cần thực hiện trong kỳ kinh doanh sắp tới.
Cuối báo cáo phân tích cần đề xuất những kiến nghị liên quan tới việc phân
tích. Sau khi hoàn thiện Báo cáo phân tích tài chính, cần hoàn thiện hồ sơ
phân tích để đưa vào lưu trữ.
1.3. Cơ sở dữ liệu và phương pháp phân tích Báo cáo tài chính
1.3.1. Cơ sở dữ liệu cho phân tích Báo cáo tài chính
Cơ sở dữ liệu của việc phân tích Báo cáo tài chính là hệ thống BCTC của
doanh nghiệp được lập theo chuẩn mực kiểm toán và chế độ kiểm toán hiện
hành phản ánh các thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu của doanh nghiệp. Hệ
thống Báo cáo tài chính được hình thành dựa trên cơ sở tổng hợp những số
liệu từ các sổ kế toán tổng hợp, chi tiết của doanh nghiệp. Báo cáo tài chính
phản ánh tình hình tài sản, nguồn vốn, các quan hệ tài chính của doanh nghiệp
tại thời điểm nhất định, đồng thời phản ánh doanh thu, chi phí và kết quả kinh
định mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích, khi so sánh thường đối
chiếu các chỉ tiêu tài chính với nhau để biết được mức độ biến động của
các đối tượng đang nghiên cứu. Để kết quả so sánh có ý nghĩa, đảm bảo
tính chất so sánh được của các chỉ tiêu qua thời gian thì các chỉ tiêu so sánh
phải thống nhất về nội dung kinh tế, đơn vị tính, cách tính và các điều kiện
môi trường của chỉ tiêu so sánh. Thông thường khi sử dụng phương pháp
so sánh ta thường so sánh số thực hiện với số kế hoạch, số thực tế của các
thời kỳ với nhau, so sánh số thực hiện với tiêu chuẩn, định mức được ban
hành, so sánh số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình tiên tiến của
ngành, của doanh nghiệp khác... Kết quả thường thể hiện số tuyệt đối, số
tương đối, số trung bình....
Phương pháp so sánh thường được sử dụng ở dưới dạng:
So sánh theo chiều ngang trên các báo cáo tài chính: Là so sánh đối
chiếu tình hình biến động cả về số tuyệt đối và số tương đối trên từng chỉ tiêu,
từng báo cáo tài chính.
So sánh theo chiều dọc: Là việc sử dụng các tỉ lệ, các hệ số thể hiện mối
tương quan giữa các chỉ tiêu trong báo cáo tài chính và các báo cáo tài chính
với nhau.
So sánh xác định xu hướng và tính chất liên hệ giữa các chỉ tiêu
Phương pháp so sánh là một trong những phương pháp rất quan trọng.
Nó được sử dụng thường xuyên và phổ biến trong bất kỳ một hoạt động phân
tích nào của doanh nghiệp.
* Phương pháp chi tiết chỉ tiêu phân tích
Trong tổng thể các phương pháp phân tích Báo cáo tài chính, phương
pháp chi tiết chỉ tiêu phân tích giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Các chỉ tiêu tài
chính trong kinh doanh thường đa dạng phong phú, thường được chi tiết theo
không gian, thời gian và các yếu tố cấu thành.
Phân tích chỉ tiêu tài chính được chi tiết theo thời gian cho biết được
trình tự sau:
+ Xác định chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu;
+ Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phản ánh đối tượng
nghiên cứu. Các nhân tố này phải có quan hệ chặt chẽ với chỉ tiêu phản ánh
đối tượng nghiên cứu dưới dạng tích số hoặc thương số.
+ Sắp xếp các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phản ánh đối tượng
nghiên cứu vào một công thức toán học theo thứ tự từ nhân tố số lượng đến
chất lượng.
+ Thay thế giá trị của từng nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu nghiên cứu.
Có bao nhiêu nhân tố thì có bấy nhiêu lần và nhân tố nào đã thay thế thì giữ
nguyên giá trị đã thay thế (kỳ phân tích) cho đến lần thay thế cuối cùng. Sau
mỗi lần thay thế trị số của từng nhân tố, phải xác định mức độ ảnh hưởng của
từng nhân tố vừa thay thế đến sự biến động của chỉ tiêu phản ánh đối tượng
(nếu có);
Tổng hợp ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến động của các chỉ tiêu
nghiên cứu giữa kỳ phân tích và kỳ gốc.
* Phương pháp số chênh lệch:
Phương pháp số chênh lệch là phương pháp dựa vào sự ảnh hưởng trực
tiếp của từng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích. Trước hết cần biết được số lượng
các chỉ tiêu nhân tố ảnh hưởng, mối quan hệ giữa chỉ tiêu nhân tố với chỉ tiêu
phân tích, từ dó xác định được công thức lượng hóa sự ảnh hưởng của nhân tố
đó. Phải xắp xếp trình tự xác định ảnh hưởng của từng nhân tố đến chỉ tiêu
phân tích cần tuân theo từ số lượng cho đến chất lượng. Trên cơ sở xác định
sự ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố cần rút ra những kết
luận và kiến nghị.
* Phương pháp liên hệ cân đối
Cơ sở của phương pháp này là sự cân bằng về lượng giữa hai mặt của
các yếu tố của quá trình kinh doanh: Tổng số tài sản và tổng nguồn vốn, giữa
1.4. Nội dung phân tích báo cáo tài chính
1.4.1. Đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp
Khái quát quát tình hình tài chính của doanh nghiệp là một bức tranh
phản ánh trung thực và rõ nét nhất kết quả và hiệu quả của toàn bộ các hoạt
động mà doanh nghiệp tiến hành trong kỳ. Một doanh nghiệp không thể có
một tình trạng tài chính trong sáng lành mạnh, một an ninh tài chính bền vững
nếu như hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính và hoạt động đầu tư của
doanh nghiệp kém hiệu quả. Kết quả và hiệu quả hoạt động kinh doanh, hoạt
động tài chính và hoạt động đầu tư của doanh nghiệp càng lớn, khả năng
thanh toán của doanh nghiệp càng dồi dào, vốn chủ sở hữu càng tăng cả về
quy mô và tỷ trọng trong tổng số vốn, mức độ độc lập tài chính càng cao, tình
hình thanh toán càng lành mạnh, các khoản nợ nần dây dưa sẽ không còn tồn
tại.... Sự yếu kém hay giảm sút về hiệu quả của bất kỳ hoạt động nào của
doanh nghiệp cũng sẽ tác động đến tình hình tài chính, làm giảm sút khả năng
thanh toán và mức độ độc lập tài chính, khiến an ninh tài chính của doanh
nghiệp kém bền vững.
Đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp là đưa ra những
nhận định sơ bộ, ban đầu về thực trạng tài chính và sức mạnh tài chính của
doanh nghiệp. Qua đó, các nhà quản lý nắm được mức độ độc lập về mặt tài
chính; về an ninh tài chính cũng như những khó khăn mà doanh nghiệp đang
phải đương đầu.
Khi đánh giá khái quát tình hình tài chính, các nhà phân tích chỉ dừng lại
ở một số nội dung mang tính khái quát, tổng hợp, phản ánh những nét chung
nhất thực trạng hoạt động tài chính và an ninh tài chính của doanh nghiệp
như: Tình hình huy động vốn, mức độ độc lập tài chính, khả năng thanh toán
và khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Đồng thời phương pháp sử dụng để
đánh giá khái quát cũng khá đơn giản, chủ yếu sử dụng phương pháp so sánh.
Mặt khác, hệ thống chỉ tiêu sử dụng để đánh giá khái quát tình hình tài chính
Thuộc nguồn tài trợ thường xuyên trong doanh nghiệp bao gồm vốn chủ sở
hữu và vốn vay, vốn thanh toán dài hạn, trung hạn (trừ vay- nợ quá hạn).
Nguồn tài trợ tạm thời là nguồn tài trợ mà doanh nghiệp tạm thời sử dụng vào
hoạt động kinh doanh trong một khoảng thời gian ngắn. Thuộc nguồn tài trợ
tạm thời bao gồm các khoản vay ngắn hạn; nợ ngắn hạn; các khoản vay – nợ
quá hạn (kể cả vay – nợ dài hạn quá hạn); các khoản chiếm dụng bất hợp
pháp của người bán, người mua, của người lao động,...
Cân bằng tài chính được thể hiện qua đẳng thức sau:
Tài sản
ngắn hạn
+
Tài sản
dài hạn
=
Nguồn tài trợ
thường xuyên
+
Nguồn tài
trợ tạm thời
Phân tích cân bằng tài chính dưới góc độ này sẽ cung cấp cho nhà quản
trị biết được sự ổn định, bền vững, cân đối và an toàn trong tài trợ và sử dụng
vốn của doanh nghiệp cũng như những nhân tố có thể gây ảnh hưởng đến cân
bằng tài chính. Cần phải so sánh tổng nhu cầu về tài sản với nguồn tài trợ
nghiệp được sử dụng để duy trì những hoạt động diễn ra thường xuyên tại
doanh nghiệp. Với số vốn hoạt động thuần này doanh nghiệp có khả năng
đảm bảo chi trả các khoản chi tiêu mang tính chất thường xuyên cho các hoạt
động diễn ra mà không cần vay mượn hay chiếm dụng bất kỳ một khoản vay
nào khác.
Vốn hoạt động thuần còn có thể tính theo hai cách:
Vốn hoạt động thuần = Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn
Hoặc: Vốn hoạt động thuần = Nguồn tài trợ thường xuyên – Tài sản dài hạn
Theo cách tính trên chỉ tiêu vốn hoạt động thuần có thể xẩy ra 3 trường hợp:
- Vốn hoạt động thuần < 0: Trường hợp này xẩy ra khi nguồn tài trợ
thường xuyên của doanh nghiệp không đủ để tài trợ cho tài sản dài hạn nên
phần thiếu hụt doanh nghiệp phải sử dụng một phần nợ ngắn hạn để bù đắp.
Cân bằng tài chính xẩy ra trong trường hợp này đặt doanh nghiệp vào tình
trạng chịu áp lực nặng nề về thanh toán nợ ngắn hạn, cán cân thanh toán mất
cân bằng. Khi vốn hoạt động thuần càng nhỏ hơn 0 doanh nghiệp càng gặp
khó khăn trong thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và có nguy cơ phá sản.
- Vốn hoạt động thuần = 0: Trường hợp này xẩy ra khi nguồn tài trợ
thường xuyên của doanh nghiệp vừa đủ để tài trợ cho tài sản dài hạn nên
doanh nghiệp không phải sử dụng nợ ngắn hạn để bù đắp. Cân bằng tài chính
trong trường hợp này đã tương đối bền vững, tuy nhiên tính ổn định vẫn chưa
cao, nguy cơ xẩy ra trường hợp trên vẫn tiềm tàng.
- Vốn hoạt động thuần > 0: Trường hợp này xẩy ra khi nguồn tài trợ
thường xuyên của doanh nghiệp không những được sử dụng để tài trợ cho tài
sản dài hạn mà còn tài trợ một phần cho tài sản ngắn hạn. Cân bằng tài chính
được coi là cân bằng tốt, an toàn, và bền vững. Một doanh nghiệp muốn hoạt
động không bị gián đoạn thì cần thiết phải duy trì một hạn mức vốn hoạt động
thuần hợp lý để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và dự trữ hàng tồn kho.
Vốn hoạt động thuần của doanh nghiệp càng lớn thì khả năng thanh toán của
Vốn chủ sở hữu
nguồn tài trợ thường xuyên
Nguồn tài trợ thường xuyên
- Hệ số nguồn tài trợ thường xuyên so với tài sản dài hạn: Chỉ tiêu này
cho biết mức độ tài trợ của tài sản dài hạn bằng nguồn tài trợ thường xuyên.
Chỉ tiêu này càng lớn thì tính ổn định và bền vững về tài chính của doanh
nghiệp càng cao và ngược lại.
Hệ số nguồn tài trợ thường
=
Nguồn tài trợ thường xuyên
Tài sản dài hạn
xuyên so với tài sản dài hạn
- Hệ số giữa tài sản ngắn hạn so với nợ ngắn hạn: Chỉ tiêu này cho biết
mức độ tài trợ ngắn hạn bằng nợ ngắn hạn là cao hay thấp. Trị số của chỉ tiêu
này càng lớn hơn 1, thể hiện tính ổn định và bền vững về tài chính của doanh
nghiệp càng cao và ngược lại.
Hệ số giữa tài sản
Tài sản ngắn hạn
Nợ ngắn hạn
ngắn hạn so với nợ
phương thức thanh toán tiền của doanh nghiệp quá chặt chẽ, khi đó sẽ ảnh
hưởng đến sản lượng hàng tiêu thụ. Chỉ tiêu này cho biết mức độ hợp lý các
khoản phải thu đối với từng mặt hàng cụ thể của doanh nghiệp trên thị trường.
Số vòng quay phải
Tổng số tiền hàng bán chịu
Số dư bình quân phải thu khách hàng
=
thu của khách hàng
Trong đó:
Số dư bình quân
Số dư phải thu khách hàng đầu kỳ và cuối kỳ
2
phải thu khách hàng
Bên cạnh đó ta còn phải xác định thời gian của một vòng quay các khoản
=
phải thu của khách hàng:
Thời gian một vòng quay
Thời gian kỳ phân tích
Số vòng quay phải thu khách hàng
phải thu khách hàng
Chỉ tiêu này càng ngắn chứng tỏ tốc độ thu hồi tiền hàng càng nhanh,
=
doanh nghiệp ít bị chiếm dụng vốn. Ngược lại, thời gian một vòng quay càng
Số dư bình quân phải
=
Số dư phải trả người bán đầu kỳ và cuối kỳ
trả người bán
2
Bên cạnh đó ta còn xác định thời gian của một vòng quay các khoản phải
trả người bán:
Thời gian một vòng quay phải
trả người bán
=
Thời gian kỳ phân tích
Số vòng quay phải trả người bán
Chỉ tiêu này càng ngắn chứng tỏ khả năng thanh toán tiền hàng càng