Quản lý hoạt động giáo dục trẻ tự kỷ dưới 6 tuổi tại trung tâm công tác xã hội tỉnh thái nguyên - Pdf 39

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

ĐÀO DUY TÂN

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
TRẺ TỰ KỶ DƯỚI 6 TUỔI TẠI TRUNG TÂM
CÔNG TÁC XÃ HỘI TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN - 2015
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

ĐÀO DUY TÂN

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
TRẺ TỰ KỶ DƯỚI 6 TUỔI TẠI TRUNG TÂM
CÔNG TÁC XÃ HỘI TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS. LÊ THÙY LINH

Xã hội đã giúp tôi thực hiện khảo sát, điều tra, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
này.
Do thời gian nghiên cứu không nhiều và chưa có kinh nghiệm, mặc dù bản
thân đã rất cố gắng, song không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế. Tôi rất mong
nhận được sự chỉ dẫn và góp ý quý báu của các các Thầy, Cô, quý anh chị để tôi hoàn
thiện nghiên cứu của mình.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2015
Tác giả luận văn

Đào Duy Tân

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
ii




MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ..........................................................................................................i
LỜI CẢM ƠN.............................................................................................................. ii
MỤC LỤC .................................................................................................................. iii
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT .....................................................................iv
DANH MỤC BẢNG.....................................................................................................v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ ................................................................................vi
MỞ ĐẦU .......................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài .......................................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu .................................................................................................2
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu ...........................................................................2
4. Giả thuyết khoa học ...................................................................................................2

1.4.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình quản lý hoạt động giáo dục trẻ tự kỷ ở cơ
sở giáo dục chuyên biệt................................................................................................34
Kết luận chương 1 ........................................................................................................38
Chương 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC TRẺ TỰ
KỶ DƯỚI 6 TUỔI TẠI TRUNG TÂM CÔNG TÁC XÃ HỘI TỈNH
THÁI NGUYÊN ............................................................................. 39
2.1. Một vài nét về hoạt động của Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Thái Nguyên ......39
2.2. Một số vấn đề chung về khảo sát thực trạng ........................................................43
2.2.1. Mục đích khảo sát ..............................................................................................43
2.2.2. Nội dung khảo sát ..............................................................................................43
2.2.3. Phương pháp khảo sát ........................................................................................43
2.2.4. Đối tượng khảo sát .............................................................................................44
2.3. Kết quả khảo sát thực trạng ..................................................................................45
2.3.1. Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên về trẻ tự kỷ, hoạt động giáo
dục trẻ tự kỷ và quản lý hoạt động giáo dục trẻ tự kỷ .................................................45
2.3.2. Thực trạng hoạt động giáo dục trẻ tự kỷ dưới 6 tuổi tại Trung tâm Công tác xã
hội tỉnh Thái Nguyên ...................................................................................................56
2.3.3. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục trẻ tự kỷ dưới 6 tuổi tại Trung tâm Công
tác xã hội tỉnh Thái Nguyên .........................................................................................63
2.3.4. Sự phối hợp giữa Trung tâm với gia đình trong việc can thiệp, giáo dục cho trẻ
tự kỷ .............................................................................................................................72
2.3.5. Sự phối hợp giữa Trung tâm với các phòng chức năng giám sát, hướng dẫn trực
tiếp của Sở LĐ-TB&XH tỉnh Thái Nguyên trong hoạt động giáo dục trẻ tự kỷ .........72
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
iv




2.3.6. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục trẻ tự kỷ dưới

v




3.4. Khảo nghiệm sự phù hợp và khả thi của các biện pháp .......................................90
3.4.1. Khái quát về quá trình khảo nghiệm ..................................................................90
3.4.2. Kết quả khảo nghiệm .........................................................................................91
Kết luận chương 3 ........................................................................................................96
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ............................................................................97
1. Kết luận ....................................................................................................................97
2. Khuyến nghị .............................................................................................................99
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................................101
PHỤ LỤC

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
vi




DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

CB

: Cán bộ

CCXH

: Câu chuyện xã hội


: Trẻ tự kỷ

UBND

: Ủy ban nhân dân

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
iv




DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Mong muốn của giáo viên về tài liệu hướng dẫn ........................................49
Bảng 2.2. Nhận thức của cán bộ, giáo viên về ý nghĩa của quản lý HĐGD trẻ tự kỷ
dưới 6 tuổi tại Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Thái Nguyên ....................50
Bảng 2.3. Nhận thức của cán bộ, giáo viên về tầm quan trọng của các nội dung quản
lý hoạt động giáo dục trẻ tự kỷ dưới 6 tuổi ................................................52
Bảng 2.4. Đánh giá của CB, GV về nội dung giáo dục trẻ tự kỷ dưới 6 tuổi ..............58
Bảng 2.5. Đánh giá của cán bộ, giáo viên về các phương pháp giáo dục trẻ tự kỷ dưới
6 tuổi ...........................................................................................................61
Bảng 2.6. Đánh giá của cán bộ, giáo viên về mức độ thực hiện quy trình giáo dục trẻ
tự kỷ dưới 6 tuổi .........................................................................................63
Bảng 2.7. Đánh giá của cán bộ, giáo viên về mức độ thực hiện nội dung quản lý hoạt
động giáo dục trẻ tự kỷ dưới 6 tuổi của Giám đốc trung tâm ....................66
Bảng 2.8. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục trẻ tự kỷ dưới 6 tuổi
tại Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Thái Nguyên.......................................73
Bảng 3.1. Xin ý kiến khảo nghiệm ..............................................................................91


khác, con người cũng phải đương đầu với nhiều nguy cơ, thách thức, đe doạ trực tiếp
đến sức khoẻ cộng động như: ô nhiễm môi trường, bệnh tật, rối nhiễu tâm lý,…Ngày
nay, tự kỷ được coi là “căn bệnh của thời đại”, số lượng trẻ tự kỷ tăng lên nhanh
chóng ở tất cả các quốc gia trên thế giới, trẻ tự kỷ được báo cáo xảy ra trong tất cả
các nhóm chủng tộc, màu da, các dân tộc và nền kinh tế xã hội khác nhau. Ngày
30/3/2012 trên trang tin của Trung tâm phòng chống dịch bệnh của Mỹ (CDC Centers for disease control and prevention) chính thức công bố số liệu thống kê mới
về Tự kỷ là hiện cứ 88 trẻ có 1 trẻ được xác định với một rối loạn phổ Tự kỷ (ASD Autism Spectrum Disorder); tỷ lệ trẻ trai mắc chứng Tự kỷ cao gấp 5 lần so với bé
gái. Tại Mỹ, số trẻ được chẩn đoán mắc chứng Tự kỷ cao hơn so với tổng số trẻ bệnh
ung thư, tiểu đường và AIDS cộng lại [27].
1.2. Tự kỷ là dạng khuyết tật phát triển phức tạp, được đặc trưng bởi ba khiếm
khuyết: về giao tiếp, về tương tác xã hội và có hành vi, sở thích, hoạt động mang tính
hạn hẹp, lặp đi lặp lại. Nguyên nhân của tự kỷ chưa rõ ràng nhưng những ảnh hưởng
của nó đến trẻ, gia đình trẻ và xã hội rất nặng nề. Để giảm thiểu những ảnh hưởng
tiêu cực, trẻ cần được phát hiện, chẩn đoán và can thiệp giáo dục sớm. Can thiệp giáo
dục trẻ tự kỷ cần có sự phối hợp thống nhất tác động bởi gia đình và cơ sở giáo dục
chuyên biệt. Trong đó mô hình giáo dục trẻ tự kỷ ở các trung tâm có nhiều ưu điểm
trong việc giáo dục, can thiệp và trị liệu cho trẻ.
1.3. Hiện nay, Trung tâm Công tác xã hội của tỉnh Thái Nguyên có phát triển
mô hình giáo dục chuyên biệt và can thiệp trẻ tự kỷ tại Trung tâm. Số lượng trẻ chưa
nhiều, giáo viên thực hiện giáo dục, can thiệp trẻ chưa nhiều nhưng Trung tâm đang
có xu hướng phát triển và mở rộng mô hình chuyên biệt này. Quá trình tổ chức các
hoạt động giáo dục trẻ tự kỷ ở đây còn nhiều bất cập và chưa thực sự phát huy được
nhiều hiệu quả.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
1




1.4. Từ những phân tích lý luận và thực tiễn trên, tôi thực hiện nghiên cứu đề

2




6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu, đánh giá công tác quản lý hoạt động
giáo dục cho trẻ tự kỷ dưới 6 tuổi tại Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Thái Nguyên.
- Về địa bàn nghiên cứu: Do thời gian và điều kiện cũng như năng lực nghiên
cứu của bản thân còn hạn chế nên tôi chỉ xin nghiên cứu trong phạm vi Trung tâm
Công tác xã hội tỉnh Thái Nguyên thông qua những điều tra được tiến hành với các
cán bộ, giáo viên, cộng tác viên và trẻ tự kỷ tại Trung tâm.
- Thời gian nghiên cứu: Phân tích thực trạng và đánh giá công tác quản lý hoạt
động giáo dục trẻ tự kỷ dưới 6 tuổi tại Trung tâm công tác xã hội tỉnh Thái Nguyên
trong năm 2015.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Sử dụng kết hợp các phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích tài liệu,
phân loại và hệ thống hóa lý thuyết để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp điều tra
Điều tra bằng phiếu hỏi trên đối tượng cán bộ quản lý và giáo viên của Trung
tâm Công tác xã hội tỉnh Thái Nguyên để tìm hiểu thực trạng của vấn đề nghiên cứu.
7.2.2. Phương pháp quan sát
Quan sát hoạt động giáo dục trẻ tự kỷ ở Trung tâm để thu thập thông tin về
thực trạng của vấn đề nghiên cứu.
7.2.3. Phương pháp phỏng vấn
Trao đổi, trò chuyện với cán bộ quản lý và giáo viên của Trung tâm để tìm
hiểu về thực trạng của vấn đề nghiên cứu.
7.2.4. Phương pháp chuyên gia: Hỏi ý kiến chuyên gia, các đồng nghiệp,

TRẺ TỰ KỶ TẠI CƠ SỞ GIÁO DỤC CHUYÊN BIỆT
1.1. Lịch sử nghiên cứu
1.1.1. Trên thế giới
TTK được phát hiện vào những năm 40 của thế kỷ trước nhưng thực ra đã
có từ rất lâu trong lịch sử loài người. Trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói
riêng số lượng TTK ngày càng được phát hiện nhiều tại các thành phố lớn, các khu
đô thị. Hiện nay Tự kỷ trở thành "căn bệnh của thời đại" và đã có rất nhiều nhà
khoa học nghiên cứu về trẻ tự kỷ. Dưới đây chúng tôi xin tổng hợp những nghiên
cứu về TTK từ các nguồn tài liệu của các nước trên thế giới. Các công trình nghiên
cứu về vấn đề này rất đa dạng và được xem xét ở nhiều khía cạnh khác nhau.
- Nghiên cứu về phát hiện trẻ Tự kỷ
Jean Marc Itard (1774 - 1838) đã tiếp nhận một cậu bé “hoang dã” tên là
Victor. Những mô tả cho thấy, cậu bé không có khả năng hiểu và biểu đạt ngôn ngữ,
không có khả năng giao tiếp hoặc nhận thức, cách ứng xử xa lạ với cuộc sống của
xã hội loài người. Victor bị mất khả năng giao tiếp về mặt xã hội và không có khả
năng nhận thức như trẻ bình thường. Ngày nay, người ta cho rằng Victor chính là
TTK. Để khắc phục tình trạng này Itard đã nghĩ rằng giáo dục TTK khác với những
trẻ khác [1, trg.11].
Thuật ngữ Tự kỷ (Autism) được bác sỹ tâm thần người Thụy Sỹ Engen
Bleuler (1857 - 1940) đưa ra năm 1919 để mô tả giai đoạn bắt đầu của rối loạn thần
kinh ở người lớn, đây là hiện tượng mất nhận thức thực tế của người bệnh khi cách
ly với đời sống thực tại hằng ngày và nhận thức của người bệnh có xu hướng không
thống nhất với kinh nghiệm thông thường của họ [1, trg.12].
Cho đến năm 1943 bác sỹ tâm thần người Mỹ là Leo Kanner mô tả trong
một bài báo với nhan đề “Autism Disturbance of Effective Contract”. Ông cho rằng
TTK là trẻ thiếu quan hệ tiếp xúc về mặt tình cảm với người khác; cách thể hiện các
thói quen hằng ngày rất giống nhau, tỉ mỉ và có tính rập khuôn; không có ngôn ngữ
nói hoặc ngôn ngữ nói thể hiện sự bất thường rõ rệt (nói nhại lời, nói lí nhí, không
nhìn vào mắt khi giao tiếp); rất thích xoay tròn các đồ vật và thao tác rất khéo; có
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

Trong những năm 70 và 80 của thế kỷ XX, người ta bắt đầu xem xét đến
khái niệm phổ tự kỷ. Trong cuốn sách “Hiện tượng Tự kỷ”, Lorna Wing (1978)
đã tìm ra những dấu hiệu rối loạn tự kỷ liên quan đến nhân vật “sư huynh
Juniper”[21].
- Nghiên cứu về công cụ chẩn đoán, đánh giá trẻ tự kỷ
Năm 1996, Baron- Cohen, Allen và Gilber nghiên cứu công cụ sàng lọc Tự
kỷ. Bộ câu hỏi này có tên “Bảng đánh giá tự kỷ ở trẻ nhỏ” (Checklist for Autism
in Toddler - CHAT). Bộ câu hỏi CHAT này (gồm 9 dấu hiệu) có tính đặc hiệu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
6




cao[20, trg.22, 23].
Năm 2001 Robin, Fein, Barton & Green bổ sung vào công cụ sàng lọc này
thêm 14 câu hỏi thuộc các lĩnh vực rối loạn vận động, quan hệ xã hội, bắt chước và
định hướng. Bộ câu hỏi bổ sung có tên là M-CHAT 2001, được dùng để sàng lọc
TTK trong độ tuổi 18 - 24 tháng [20].
Hội tâm thần học Mỹ, sau nhiều năm nghiên cứu năm 1994 đưa ra Sổ tay
chẩn đoán và thống kê các rối nhiễu tâm thần DSM-IV, bao gồm các tiêu chuẩn
chẩn đoán tự kỷ tìm ra những biểu hiện khiếm khuyết về chất lượng quan hệ xã hội,
chất lượng giao tiếp và mẫu một số hành vi bất thường.
Tiếp theo đó, tổ chức y tế thế giới (WHO) cũng đưa ra Bảng phân loại quốc tế
ICD (International Classification of Diseases) qui định những tiêu chuẩn chẩn đoán
các bệnh tâm thần trong đó bao gồm các tiêu chí đánh giá để chẩn đoán tự kỷ [23].
- Nghiên cứu về phương pháp dạy trẻ tự kỷ
Một nghiên cứu có ứng dụng tích cực trong can thiệp sớm cho TTK là
Ứng dụng phân tích hành vi (Aplied Behavior Analyis-ABA). Đây là kết quả nghiên
cứu của Ivar Lovaas vào năm 1990 ở Đại học Los Angeles - California[25].

Tác giả Vũ Thị Bích Hạnh trong cuốn sách “Trẻ tự kỷ - phát hiện sớm và
can thiệp sớm” [4] đã nêu ra những vấn đề cơ bản, chung nhất về cách phát hiện
sớm và can thiệp sớm mà chưa nêu ra cách làm cụ thể ở một nội dung nào trong can
thiệp sớm cho TTK.
Tác giả Võ Nguyễn Tinh Vân người Úc gốc Việt đã xuất bản cuốn sách
"Nuôi con bị tự kỷ" [11], "Để hiểu tự kỷ" [12], "Tự kỷ và trị liệu" [14], giúp hiểu rõ về
Tự kỷ ở trẻ em và giúp cho các phụ huynh biết cách chăm sóc, nuôi con Tự kỷ
cũng như cách trị liệu cho TTK.
Câu lạc bộ gia đình TTK Hà Nội được thành lập năm 2002 và mở trang web có
tên là www.tretuky.com. Đây là nơi chia sẻ thông tin, tài liệu và kinh nghiệm chăm sóc,
giáo dục TTK của phụ huynh và các cán bộ chuyên môn. Bên cạnh đó, Câu lạc bộ còn
Tổ chức nhiều các khóa tập huấn do các chuyên gia trong nước và nước ngoài giảng dạy
nhằm giúp cho mọi người hiểu rõ hơn về Tự kỷ, giúp TTK hòa nhập cộng đồng….
- Nghiên cứu về phương pháp dạy trẻ tự kỷ
Năm 2004, tác giả Đỗ Thị Thảo với đề tài “Xây dựng kế hoạch hỗ trợ giáo
viên và cha mẹ có con tự kỷ trong chương trình Can thiệp sớm tại Hà Nội” [9]
Năm 2007, tác giả Nguyễn Nữ Tâm An với đề tài “Sử dụng phương pháp
TEACCH trong giáo dục trẻ tự kỷ tại Hà Nội” [8] cho thấy được một góc nhìn về
vấn đề định hướng và điều trị trẻ Tự kỷ thông qua giao tiếp, cách vận dụng phương
pháp TEACCH (Treatment and Education of Autistic and related Communication
handicapped Children) vào trong quá trình can thiệp sớm cho trẻ tự kỷ.
Năm 2009, tác giả Ngô Xuân Điệp trong đề tài “Nghiên cứu nhận thức trẻ tự
kỷ tại Thành Phố Hồ Chí Minh” [1] đã cho thấy được thực trạng mức độ nhận thức
của trẻ Tự kỷ và mức độ ảnh hưởng của một số yếu tố chủ quan và khách quan đến
nhận thức của TTK.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
8




về sinh hóa và chuyển hóa ở những đối tượng này. Do đó, những TTK không có
khả năng liên kết các kích thích thành kinh nghiệm của bản thân; không giao tiếp
được vì thiếu khả năng khái quát hóa những điều cụ thể.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
9




Năm 1996 Từ điển bách khoa Columbia cho rằng: Tự kỷ là một khuyết tật
phát triển có nguyên nhân từ những rối loạn thần kinh ảnh hưởng đến chức năng cơ
bản của não bộ. Tự kỷ được xác định bởi sự phát triển không bình thường về
KNGT, kỹ năng tương tác xã hội và suy luận. Nam nhiều gấp 4 lần nữ. Trẻ có thể
phát triển bình thường cho đến tận 30 tháng tuổi.
Năm 1999 tại Hội nghị toàn quốc về tự kỷ của Mỹ, các chuyên gia cho rằng
tự kỷ là một bệnh lý đi kèm với tổn thương chức năng của não [4, trg.8]. tự kỷ là một
dạng rối loạn trong nhóm rối loạn phát triển diện rộng, ảnh hưởng đến nhiều mặt
của sự phát triển nhưng ảnh hưởng nhiều nhất đến KNGT và quan hệ xã hội.
Năm 2008 Liên hiệp quốc đưa ra khái niệm “Tự kỷ là một dạng khuyết tật phát
triển tồn tại suốt cuộc đời, thường xuất hiện trong 3 năm đầu đời. TK là do rối loạn
thần kinh, gây ảnh hưởng đến chức năng hoạt động của não bộ. Tự kỷ có thể xảy ra ở
bất cứ cá nhân nào không phân biệt giới tính, chủng tộc hoặc điều kiện kinh tế - xã
hội. Đặc điểm của tự kỷ là những khiếm khuyết về tương tác xã hội, giao tiếp ngôn
ngữ và phi ngôn ngữ và có hành vi, sở thích, hoạt động mang tính hạn hẹp, lặp đi lặp
lại”. Đây được coi là khái niệm tương đối đầy đủ và được sử dụng phổ biến nhất.
Năm 1944, Han Asperger bác sỹ tâm thần người Áo (1906 - 1980) sử dụng
thuật ngữ Autism trong khi mô tả những vấn đề xã hội trong nhóm trẻ trai mà ông
làm việc. Rối loạn đặc biệt nhất trong nhóm trẻ này là cách suy luận rờm rà, phức tạp,
không thích ứng với những điều kiện, hoàn cảnh xã hội. Những trẻ này có sở thích
đặc biệt về mặt kỹ thuật và toán học, đồng thời có khả năng nhớ tốt một cách lạ

nguyên tắc và các phương pháp cụ thể nhằm thực hiện các mục tiêu xác định.
Trong quá trình quản lý, chủ thể tiến hành các hoạt động cơ bản như: xác định
mục tiêu, chủ trương, chính sách, kế hoạch; tổ chức thực hiện, điều chỉnh các hoạt
động để thực hiện các mục tiêu đề ra. Trong đó, mục tiêu quan trọng nhất là nhằm tạo
ra môi trường, điều kiện cho sự phát triển của đối tượng quản lý.
Sự xuất hiện của hoạt động quản lý trong xã hội dẫn đến mối quan hệ giữa chủ
thể và khách thể quản lý và những mối quan hệ qua lại của các nhân tố trong hệ thống
quản lý. Những mối quan hệ phức tạp ấy người ta gọi là quan hệ quản lý - một kiểu
của quan hệ xã hội và là đối tượng nghiên cứu của khoa học quản lý. Khoa học quản
lý đi sâu vào nghiên cứu bản chất của các mối quan hệ quản lý và các quy luật vận
động, phát triển của chúng, trên cơ sở đó đề xuất những con đường, phương pháp tối
ưu cho sự quản lý hệ thống xã hội nhằm tạo điều kiện cho nó vận hành thuận lợi đạt
tới mục tiêu xác định.
1.2.2.2. Khái niệm quản lý giáo dục
Nếu xem quản lý là một thuộc tính bất biến, nội tại của mọi hoạt động xã hội,
thì quản lý giáo dục cùng là một thuộc tính tất yếu của mọi hoạt động giáo dục có
mục đích.
Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý giáo dục, song thường người ta
đưa ra quan niệm quản lý giáo dục theo hai cấp độ chủ yếu: cấp vĩ mô và vi mô.
a. Quản lý cấp vĩ mô
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
11




Quản lý vĩ mô tương ứng với khái niệm về quản lý một nền giáo dục (hệ thống
giáo dục) và quản lý vi mô tương ứng với khái niệm về quản lý một nhà trường.
Ở cấp độ vĩ mô, quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống tác động có mục đích,
có kế hoạch của chủ thể quản lý vào hệ thống giáo dục quốc dân nhằm huy động và

12




Khái niệm giáo dục được tiếp cận ở nhiều góc độ và phạm vi khác nhau:
Về bản chất, giáo dục là quá trình truyền đạt và tiếp thu những kinh nghiệm
lịch sử xã hội của các thế hệ loài người.
Về hoạt động, giáo dục là quá trình tác động đến các đối tượng giáo dục để
hình thành cho họ những phẩm chất nhân cách.
Về mặt phạm vi, khái niệm giáo dục bao hàm nhiều cấp độ khác nhau:
+ Ở cấp độ rộng nhất, giáo dục được hiểu đó là quá trình xã hội hoá con người.
Quá trình xã hội hoá con người là quá trình hình thành nhân cách dưới ảnh hưởng của
tác động chủ quan và khách quan, có ý thức và không có ý thức của cuộc sống, của
hoàn cảnh xã hội đối với các cá nhân.
+ Ở cấp độ thứ hai, giáo dục có thể hiểu là giáo dục xã hội. Đó là hoạt động có
mục đích của xã hội, với nhiều lực lượng giáo dục, tác động có hệ thống, có kế hoạch
đến con người để hình thành cho họ những phẩm chất nhân cách.
+ Ở cấp độ thứ ba, giáo dục được hiểu là quá trình sư phạm. Quá trình sư
phạm là quá trình tác động có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học
của các nhà sư phạm trong nhà trường tới học sinh nhằm giúp học sinh nhận thức,
phát triển trí tuệ và hình thành những phẩm chất nhân cách. Ở cấp độ này, giáo dục
bao gồm: Quá trình dạy học và quá trình giáo dục theo nghĩa hẹp.
+ Ở cấp độ thứ tư, giáo dục được hiểu là quá trình bồi dưỡng để hình thành
những phẩm chất đạo đức cụ thể, thông qua việc tổ chức cuộc sống, hoạt động và
giao lưu.
Dù tiếp cận ở góc độ và phạm vi nào cũng có thể hiểu hoạt động giáo dục có
những đặc trưng sau:
- Đây là hoạt động có mục đích, có tổ chức, diễn ra trong mối quan hệ tương
tác giữa nhà giáo dục và đối tượng giáo dục.

1.3.1.2. Đặc điểm cảm giác
Ngưỡng cảm giác của TTK không bình thường. Có một số trẻ có cảm giác
dưới ngưỡng (đánh, cấu, đập đầu vào tường không biết đau; trà xát lên da không
thấy dát), một số trẻ có cảm giác trên ngưỡng (không muốn ai chạm vào cơ thể,
chạm vào da của trẻ là trẻ sởn gai ốc, không dám đi chân đất, đi trên thảm gai). Một
số trẻ quá nhạy cảm với sự kích thích có thể phản ứng mạnh mẽ với kết cấu, âm
thanh to ồn, hoặc với vị và mùi khác lạ…[19].
1.3.1.3. Đặc điểm về tư duy, tưởng tượng
TTK cũng gặp những khó khăn nhất định trong tưởng tượng. Theo Võ
Nguyễn Tinh Vân (2006), TTK có một số vấn đề về nhận thức như: trẻ không
nhận biết được những tình huống vui đùa, giả vờ, chơi tưởng tượng, chơi đóng
vai, trẻ gặp khó khăn khi thực hiện vai chơi trong các trò chơi tưởng tượng [11].
Theo sự đánh giá của hầu hết những nhà nghiên cứu về tự kỷ, trí nhớ của TTK rất
tốt và sâu sắc, nhưng độ liên kết giữa các ký ức trong trí nhớ lại rất rời rạc, không
bền vững. Do đó trẻ khó có thể hiểu trọn vẹn ý nghĩa những gì trong trí nhớ, khó
khăn trong việc tổng kết, khái quát để đưa ra kết luận, rút kinh nghiệm.
1.3.1.4. Đặc điểm về hành vi
+ Hành vi gây phiền toái nơi công cộng. TTK có những hành vi gây phiền
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
14





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status