TIỂU LUẬN cơ cấu xã hội, BIẾN đổi cơ cấu xã hội ở nước TA TRONG GIAI đoạn HIỆN NAY và tác ĐỘNG của nó đối với xây DỰNG nền QUỐC PHÒNG TOÀN dân - Pdf 39

MỞ ĐẦU
`

Trong thời kỳ trước đổi mới, ở nước ta tồn tại nền kinh tế tập trung

quan liêu, bao cấp, dựa trên chế độ sở hữu toàn dân và tập thể với hai thành
phần kinh tế chủ yếu: kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể. Trên nền tảng kinh
tế đó, hình thành cơ cấu xã hội giản đơn - "hai giai, một tầng” ("hai giai": chỉ
có giai cấp công nhân và giai cấp nông dân; "một tầng": tầng lớp trí thức).
Bước vào thời kỳ đổi mới, nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế này ở nước ta được dựa trên 3 chế độ sở
hữu (toàn dân, tập thể, tư nhân) với nền kinh tế nhiều thành phần. Sự biến đổi
của cơ cấu kinh tế tất yếu dẫn tới sự biến đồi của cơ cấu xã hội, cơ cấu xã hội
- giai cấp.
Sau 30 năm thực hiện đổi mới đất nước, cùng với những thành tựu to
lớn trên các lĩnh vực, những biến đổi mạnh mẽ của xã hội thời gian qua cũng
đang đặt ra nhiều vấn đề, thách thức gay gắt. Đó là, sự mất cân đối về cơ cấu
của nền kinh tế, cơ cấu giai cấp, cơ cấu dân cư, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu
dân tộc, tôn giáo…; sự phân hoá giữa thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng
và miền núi, giữa giàu và nghèo trong phát triển; sự bất bình đẳng giữa các
tầng lớp, các giới, các nhóm xã hội. Điều này tác động không nhỏ đến xây
dựng và củng cố nền quốc phòng toàn dân, sức mạnh bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa.
Nghiên cứu cơ cấu xã hội, sự biến đổi cơ cấu xã hội giúp chúng ta hiểu
được những đặc trưng, đặc tính của xã hội, đánh giá được trình độ phát triển
của xã hội, chỉ ra được sự cân bằng hay những sai lệch trong xã hội, từ đó đưa
ra được những dự báo xã hội. Đây là những cơ sở khoa học cần thiết giúp cho
Đảng, Nhà nước và các tổ chức đoàn thể xã hội đề ra các chính sách, giải
pháp nhằm thúc đẩy xã hội phát triển theo hướng tích cực, tiến bộ. Với ý
nghĩa đó, tôi chọn vấn đề“Cơ cấu xã hội, biến đổi cơ cấu xã hội của nước
ta trong giai đoạn hiện nay và tác động của nó đối với xây dựng nền

Quan niệm của V.A.Dobrianov (nhà XHH người Bungaria)
2


Theo Dobrianov, cơ cấu xã hội theo giác độ phân tích của xã hội học
chính là cơ cấu xã hội nhiều chiều, nhiều khía cạnh, và sự trừu tượng hóa
phạm trù cơ cấu xã hội là tiêu chuẩn “ba ngôi một thể” gồm hoạt động xã hội,
quan hệ xã hội và thiết chế xã hội.
Quan niệm của I.Robertsons (nhà XHH người Mỹ)
Theo I.Robertsons, cơ cấu xã hội là mô hình của mối quan hệ giữa các
thành phần cơ bản trong một hệ thống xã hội. Những thành phần này tạo ra bộ
khung cho tất cả các xã hội loài người. Mặc dầu tính chất của các thành phần
và các quan hệ giữa chúng biến đổi từ xã hội này đến xã hội khác. Những thành
phần quan trọng nhất của cơ cấu xã hội là vị thế, vai trò, nhóm và các thiết chế.
Quan niệm của Viện Xã hội học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc
gia Hồ Chí Minh
Trên cơ sở tổng kết, khái quát, phê phán và tiếp thu các quan niệm đã
có về cơ cấu xã hội, các nhà khoa học xã hội Việt Nam đã đưa ra định nghĩa
về cơ cấu xã hội như sau: Cơ cấu xã hội là một “mô hình cấu trúc”, một
chỉnh thể thống nhất, “động”, tương đối ổn định giữa các quan hệ xã hội và
các nhóm xã hội cơ bản (giai cấp, nghề nghiệp, nhân khẩu, dân tộc, tôn
giáo), đan kết vào nhau, và được sắp xếp theo cấu trúc “ngang” và cấu trúc
“dọc” tạo ra “bộ khung” cho sự vận động và phát triển của xã hội. Những
thành tố cơ bản của cơ cấu xã hội là nhóm, vị thế, vai trò, mạng lưới và các
thiết chế.
Như vậy, cơ cấu xã hội phải được hiểu như là mô hình cấu trúc, trong đó
các đơn vị cấu thành của nó được sắp xếp, phân bố, liên hệ với nhau không phải
một cách ngẫu nhiên mà theo một trật tự cấu trúc nhất định được hiểu như một
“hình mẫu”, một mô hình cấu trúc tương đối xác định, được sắp xếp hợp lý và có
khả năng lặp lại ở những khách thể vật chất xã hội đa dạng. Bài viết cũng cho

Phân tích cơ cấu xã hội của bất kỳ một hệ thống xã hội nào cũng đi từ
sự phân tích các nhóm xã hội với vai trò, vị thế, các thiết chế và mạng lưới xã
4


hội. Đó là bộ khung, là mô hình, khuôn mẫu cho sự phân tích cơ cấu xã hội.
Cơ cấu xã hội luôn vận động và biến đổi. Sự vận động và biến đổi này
có nguồn gốc từ sự thống nhất và đấu tranh của các thành phần xã hội và các
quan hệ xã hội. Nghiên cứu cơ cấu xã hội một mặt chỉ ra được bức tranh về
thực trạng xã hội, mặt khác cũng cần thiết phải chỉ ra những đặc trưng xu
hướng vận động, biến đổi của xã hội đó. Tuy nhiên nếu chỉ nhấn mạnh một
chiều hoặc là các thực trạng xã hội hoặc chỉ là xu hướng vận động biến đổi
của xã hội thì sẽ là khiếm khuyết trong việc nghiên cứu cơ cấu xã hội.
Nghiên cứu xã hội học chỉ ra rằng cơ cấu xã hội là kết cấu và hình thức
tổ chức bên trong của một hệ thống nhất định – biểu hiện là sự thống nhất
tương đối bền vững của các nhân tố, các mối liên hệ, các thành phần cơ bản
nhất của hệ thống xã hội. Các thành phần này tạo ra bộ khung cho tất cả các
xã hội loài người. Mỗi xã hội luôn luôn là một hệ thống đa cơ cấu. Các nhà xã
hội học thường nghiên cứu 5 phân hệ cơ cấu xã hội cơ bản; đó là: Cơ cấu giai
cấp - xã hội, cơ cấu nghề nghiệp - xã hội, cơ cấu xã hội - dân số, cơ cấu xã hội
- dân tộc, cơ cấu xã hội - lãnh thổ.
Cơ cấu XH giai cấp: Cơ cấu xã hội giai cấp là cơ cấu xã hội mà trong
đó các nhóm xã hội được xem xét dưới góc độ giai tầng, tầng lớp.Theo quan
điểm xã hội học Mác xít cơ cấu xã hội – giai cấp có thể được xem xét ở 2
phương diện sau:
Một là: Đòi hỏi phải được xem xét không chỉ các giai cấp xã hội mà
còn tất cả các tầng lớp các tập đoàn xã hội khác. Vai trò của chế độ sở hữu tư
liệu sản xuất được coi trọng đặc biệt khi xem xét cơ cấu giai cấp xã hội.
Hai là: Nhấn mạnh đến việc nghiên cứu những tập đoàn người hợp
thành những giai cấp cơ bản, chiếm vị trí quyết định đến sự phát triển và biến

cơ cấu xã hội - giai cấp là quan trọng nhất giữ vị trí then chốt nhất.
Tính đa dạng, đa chiều nhiều khía cạnh, nhiều cấp độ của cơ cấu xã hội
một mặt thể hiện sự phong phú, đa dạng của các phân hệ cơ cấu xã hội, mặt
6


khác mỗi phân hệ lại chính là một hệ thống trong đó chứa đựng các yếu tố cấu
thành nó.
Nghiên cứu biến đổi cơ cấu xã hội ở nước ta hiện nay, chúng ta phải chỉ
ra được những nguyên nhân của sự biến đổi cơ cấu xã hội, điều này chỉ có thể
thấy được khi chúng ta phân tích mối quan hệ giữa cơ cấu xã hội và cơ cấu
kinh tế, có quan hệ biện chứng với nhau. Cơ cấu xã hội được hình thành trên
cơ sở của sản xuất, cơ cấu kinh tế. Sự biến đổi của cơ cấu xã hội có nguyên
nhân sâu xa từ những biến đổi trong sản xuất, trong cơ cấu kinh tế. Sản xuất
phát triển dẫn đến cơ cấu kinh tế biến bổi, sẽ kéo theo sự biến đổi của cơ cấu
xã hội. Cơ cấu xã hội cũng có sự tác động trở lại đến cơ cấu kinh tế, đến sản
xuất cũng như cơ cấu quyền lực chính trị và các yếu tố khác của thượng tầng
kiến trúc. Cơ cấu xã hội có thể tham gia tích cực vào quá trình phân bố lại
kinh tế, kích thích tính tích cực của người lao động, điều hòa các quan hệ lợi
ích, tạo ra sự liên doanh liên kết và sự thống nhất, đồng bộ trong lao động,
thúc đẩy việc nghiên cứu và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đổi mới cơ
chế quản lý và vận hành kinh tế. Nó cũng có thể góp phần hình thành nên một
cơ cấu quyền lực chính trị mới, hướng tới sự công bằng, tiến bộ, văn minh xã
hội. Ngược lại, nó có thể kìm hãm sự phát triển của sản xuất, làm méo mó cơ
chế kinh tế, quan liêu hóa, xơ cứng bộ máy, nuôi dưỡng sự bất bình, xung đột,
tích tụ nguy cơ rối loại, đổ vỡ xã hội.
Sự phát triển hay thoái bộ của xã hội có nguồn gốc nội sinh từ những
biến đổi của cơ cấu xã hội mà nguyên nhân sâu xa suy cho cùng là những biến
đổi trong sản xuất, trong kinh tế, sự thống nhất và đấu tranh của những mặt
đối lập, xung đột lợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp, tập đoàn xã hội.

cũng có những mâu thuẫn khác nhau.
Vai trò xã hội
I.Robertsons cho rằng, vai trò là một tập hợp các chuẩn mực, hành vi,
nghĩa vụ và quyền lợi gắn với một vị thế nhất định.Vị thế và vai trò gắn bó
mật thiết với nhau. Không thể nói tới vị thế mà không nói tới vai trò và ngược
lại. Vai trò và vị thế là hai mặt của cùng một vấn đề. Trong mối quan hệ giữa
8


vị thế và vai trò thì vị thế thường ổn định hơn, ít biến đổi hơn, còn vai trò thì
động hơn, hay biến đổi hơn.
Sự biến đổi của vai trò phụ thuộc vào sự biến đổi của vị thế. Vị thế biến
đổi thì vai trò cũng biến đổi… Sự biến đổi của vai trò phụ thuộc vào sự biến
đổi của vị thế qua mỗi giai đoạn cụ thể của từng cá nhân cũng như nhóm xã
hội. Vai trò và vị thế thường thống nhất với nhau song đôi khi cũng có mâu
thuẫn. Về phân loại vai trò thì tùy theo những dấu hiệu phân tích khác nhau
mà có vai trò chỉ định, vai trò lựa chọn, vai trò then chốt, vai trò tổng quát.
Mạng lưới xã hội
Mạng lưới xã hội là phức hợp các mối quan hệ của các cá nhân trong
các nhóm, các tổ chức, các cộng đồng. Các mạng lưới xã hội bao gồm các
quan hệ đan chéo chằng chịt từ quan hệ gia đình, thân tộc, bè bạn, láng giềng,
cho tới các quan hệ trong tổ chức, đoàn thể, tầng lớp, hiệp hội, đảng phái,
nghề nghiệp…
Trong các nhóm xã hội, mỗi thành viên luôn có một vị thế, vai trò và
những nghĩa vụ, quyền lợi hoặc những định hướng giá trị nhất định. Đặc biệt
là trong các nhóm nhỏ, mỗi cá nhân luôn có sự phối hợp, trao đổi hành động
với nhau, gắn bó trực tiếp với nhau… Trong mạng lưới xã hội, con người phải
xử lý một phức hợp rất nhiều các quan hệ xã hội, mà phần lớn các quan hệ đó
không mang tính bắt buộc và đòi hỏi phải thực hiện một cách cứng nhắc. Tuy
nhiên, không một cá nhân nào có thể đứng ngoài các mạng lưới xã hội.

Thiết chế có tính bền vững tương đối và thường biến đổi chậm. Các
thiết chế có mối quan hệ tương tác qua lại với nhau và có xu hướng phụ thuộc
vào nhau, đặc biệt là các thiết chế cơ bản. Sự lạc hậu và biến đổi chậm chễ
của thiết chế thường trở thành tiêu điểm của những vấn đề xã hội bức xúc.
Trong mỗi xã hội nhất định có nhiều loại thiết chế, trong đó những thiết
chế quan trọng là thiết chế chính trị, pháp luật, kinh tế, gia đình, giáo dục.
Ngoài ra, còn có một loạt thiết chế xã hội cơ bản khác như: thiết chế khoa
học, quân đội thể thao, y tế, đạo đức, dư luận xã hội… Mỗi một loại thiết chế
lại có những đặc điểm và chức năng riêng.
2. Sự biến đổi cơ cấu xã hội ở nước ta trong giai đoạn giai đoạn hiện nay.
10


Trải qua gần 30 năm đổi mới, cơ cấu xã hội nước ta đã có những thay
đổi đáng kể theo chiều hướng tiến bộ, cả từ giác độ nhận thức lẫn giác độ thực
tế. Tuy nhiên, cho đến nay, cơ cấu ấy vẫn chưa đáp ứng được những chuẩn
mực của một cơ cấu xã hội hiện đại. Trong quá trình hình thành và phát triển,
cơ cấu ấy còn ít nhiều chịu ảnh hưởng của những yếu tố mang tính cố hữu của
nền kinh tế tiểu nông, tâm lý của người sản xuất nhỏ, sự phân tầng xã hội
không hợp thức, sự phân bố dân cư và cơ cấu lao động xã hội chưa hợp lý,
nguồn lực con người chưa hội tụ đủ các tố chất cần thiết cho sự phát triển và
hội nhập.
Về cơ cấu kinh tế chúng ta đang trong quá trình chuyển từ nền kinh tế
nông nghiệp lạc hậu sang nền kinh tế công nghiệp, dịch vụ theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và phấn đấu chuyển sang một nền kinh tế tri thức.
Về cơ chế quản lý chúng ta đã từ bỏ quản lý nền kinh tế kế hoạch hóa tập
trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Về
thành phần kinh tế chúng ta đã chuyển sang một nền kinh tế có nhiều thành
phần, nhiều hình thức sở hữu. Các chủ thể kinh tế nhà nước, tập thể, tư nhân,
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài v.v...xuất hiện và cạnh tranh với nhau trên

chất lượng (kể cả số lượng tuyệt đối cũng như tỷ trọng trong dân cư). Hàm
lượng lao động có trình độ công nghệ cao, tay nghề cao gia tăng một cách
đáng kể. Giai cấp nông dân vẫn tăng mạnh về mặt số lượng song tỷ trọng
trong dân cư giảm. Lao động dịch vụ tăng và sẽ còn tiếp tục tăng mạnh trong
những năm tới
Đặc biệt sự gia tăng nhanh chóng thành phần kinh tế tư nhân trong đó
có sự lớn mạnh đáng kể của tầng lớp doanh nhân. Cho đến nay, cả nước đã
có hàng trăm ngàn doanh nghiệp, có trên 3 triệu hộ sản xuất kinh doanh, trên
500000 doanh nghiệp với hàng trệu doanh nhân. Sự lớn mạnh không ngừng
của tầng lớp doanh nhân cũng như sự đa dạng, phong phú của nó (nguồn gốc
xuất thân, tuổi tác, các đặc trưng theo giới, trình độ học vấn, quy mô, loại
hình, vốn đầu tư hoạt động, liên kết tổ chức, vùng miền sản xuất đầu tư, kinh
doanh...) sẽ tạo ra một cục diện mới cho nền kinh tế cũng như đặt ra những
yêu cầu bức bách hơn đối với những thay đổi trong chính sách, thể chế pháp
13


luật cho phù hợp. Sự lớn mạnh này diễn ra không chỉ ở các địa bàn đô thị,
trong các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ tài chính, kỹ thuật, công nghệ cao mà
cả ở các địa bàn nông thôn, rừng núi, biên cương, hải đảo, cả các lĩnh vực
nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, cả những nơi chưa đòi hỏi nhiều đến công
nghệ cao, kỹ thuật cao, nguồn nhân lực chất lượng cao. Một số tác giả của các
bài báo gọi họ là "tầng lớp trung lưu” và họ nhận định rằng: Sự lớn mạnh của
tầng lớp này sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng cường sức mạnh
tổng hợp của đất nước; tạo ra được nhiều việc làm, hạn chế thất nghiệp góp
phần ổn định xã hội, giảm thiểu những căng thẳng xã hội, nhất là áp lực về
việc làm; thúc đẩy cải cách kinh tế, đổi mới thể chế, thủ tục hành chính, hoàn
thiện các chính sách, thúc đẩy sự liên kết 4 nhà: nhà nông, nhà nước, nhà
doanh nghiệp, nhà khoa học; đóng góp to lớn vào nguồn thu ngân sách nhà
nước thông qua việc nộp thuế cũng như nhiều hoạt động phúc lợi xã hội, cứu

trong các gia đình đông con, ít nhân lực lao động, đông nhân khẩu phụ thuộc,
sức khoẻ yếu, hay ốm đau, hoặc gia đình có nhiều người đau bệnh, tàn tật,
gặp nhiều rủi ro, thiên tai, địch họa... Đó là những người sống ở vùng sâu,
vùng xa, đất đai cằn cỗi, thời tiết khắc nghiệt, đia hình chia cắt, giao thông đi
lại khó khăn, cơ sở hạ tầng thấp kém, phong tục làm ăn lạc hậu... Họ có thể là
những người dân ở diện "giải toả" đất đai, nhà ở..., sang môi trường sống mới
họ chưa được đào tạo nghề nghiệp, chưa được chuẩn bị về mặt tâm lý để thích
nghi và hội nhập với nơi ở mới.
Họ có thể là những doanh nhân, những tiểu thương, tiểu chủ, thợ thủ
công làm ăn thua lỗ, tụt hậu về mặt kỹ thuật, công nghệ, không theo kịp hoặc
không đủ năng lực cạnh tranh để tồn tại và phát triển. Họ cũng có thể là
những người thuộc diện chính sách xã hội như thương binh, gia đình liệt sĩ,
những người có công với cách mạng..., nay thiếu sức khoẻ, học vấn, chuyên
môn nghề nghiệp...
Những người thuộc các nhóm xã hội, tầng lớp xã hội "yếu thế” này khá
đông đảo và đang là một hiện tượng xã hội nhức nhối, là nỗi băn khoăn, lo
lắng và mối quan ngại cho nhiều nhà lãnh đạo, quản lý ở các tổ chức, địa
phương cũng như Đảng Nhà nước và các tổ chức xã hội.
15


Tầng lớp trí thức Việt Nam trong thời kỳ đổi mới cũng có những biến
đổi quan trọng. Trí thức Việt Nam tăng nhanh về số lượng, đa dạng hóa trong
cơ cấu nghề nghiệp và lĩnh vực hoạt động. Tầng lớp trí thức phát triển mạnh
trong công nghệ thông tin, lĩnh vực dầu khí, điện tử, bưu chính viễn thông.
Đánh chú ý là đã có một lực lượng lớn trí thức làm việc trong các khu vực
kinh tế tư nhân, với nước ngoài và làm việc ở ngoài nước. Trí thức không chỉ
làm việc gián tiếp mà ngày càng tăng lên nhiều hơn lực lượng tham gia lao
động trực tiếp tạo ra của cải vật chất, sản phẩm hang hóa, dịch vụ, không chỉ
làm việc trong lĩnh vực văn hóa, tinh thần, giáo dục, đào tạo mà còn trực tiếp

nhân nhóm từ khắp các giai cấp, tầng lớp, tổ chức, đoàn thể xã hội.
Ở Việt Nam hiện nay đang hình thành một mô hình cấu trúc cơ cấu xã
hội- giai tầng xã hội. Cấu trúc giai tầng xã hội ở nước ta không phải là một
cấu trúc đơn giản theo nghĩa là một giai cấp tầng lớp đó ở vị trí cao nhất, còn
các giai cấp tầng lớp khác có thứ tự thấp dần xuống dưới mà đây là một cấu
trúc tầng bậc “đan kết”.
Cùng với quá trình đổi mới, đặc biệt là sau đại hội Đảng XI bắt đầu đi
vào cuộc sống, cấu trúc “tầng bậc”sẽ còn tiếp tục diễn tiến. Tuy nhiên, quá
trình đó diễn ra không đơn giản, đơn tuyến mà có sự đan xen phức tạp giữa
hai cấu trúc phân tầng xã hội “hợp thức” và phân tầng xã hội “không hợp
thức” - một cấu trúc xã hội phù hợp với công bằng, đạo lý, pháp lý và một cấu
trúc xã hội bất công, bất đạo lý và không phù hợp với pháp luật. Chúng ta có
nhiều cơ sở để kỳ vọng vào cấu trúc phân tầng xã hội hợp thức sẽ ngự trị bởi
con đường đổi mới của chúng ta là phát triển kinh tế thị trường, giữ vững định
hướng xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, Nhà nước
Pháp quyền xã hộ chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân điều hành quản lý.
Song cũng không bì vậy mà chúng ta buông lỏng kỷ cương pháp luật,chủ
quan mất cảnh giác, xem nhẹ cuộc dấu tranh đối với những thói hư, tật xấu,
những kẻ tha hóa, tham lam, trục lợi, biến chất, tham nhũng sâu mọt đang

17


hình thành cũng như những quán tính xấu, phi đạo lý của quá khứ không dễ gì
nhổ gốc, bứt rễ trong ngày một, ngày hai được.
Ngoài những biến đổi lớn như phân tích ở trên, cũng diễn ra những
biến đổi hết sức quan trọng trong các phân hệ cơ cấu xã hội cơ bản của xã hội
Việt Nam từ khi đổi mới đến nay như sự biến đổi cơ cấu dân số, cơ cấu lãnh
thổ, cơ cấu tôn giáo, cơ cấu nghề nghiệp.
2.2. Sự biến đổi cơ cấu dân số

khoảng 1/3 mức tăng trưởng kinh tế hàng năm và kéo dài khoảng 30 năm như
những con hổ châu Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc) mấy thập kỷ trước
đây nhờ nguồn lao động dồi dào, đông đảo, lại "mang vác” nhóm dân số phụ
thuộc ít nhất.
Một số nhà khoa học cho rằng, thời kỳ vận hội do dư lợi dân số ở Việt
Nam mang lại sẽ kéo dài khoảng 30 năm: từ năm 2010 đến năm 2040. Với
vận hội này, nếu Chính phủ có chính sách tốt trên cả 3 lĩnh vực: giáo đức đào tạo, kinh tế - xã hội và quản lý thì ước mơ hoá rồng của nước ta không
còn chỉ là mong muốn mà có thể sẽ trở thành hiện thực. Chính sách giáo dục,
đào tạo tốt nhằm sớm đưa nhóm dân số trẻ nước ta trở thành một lực lượng
lao động có trình độ học vấn, tay nghề cao, chuyên môn giỏi, năng động thị
trường, lao động có năng suất cao. Chính sách kinh tế và chính sách xã hội tốt
để khuyến khích các doanh nghiệp mở mang đầu tư và tạo ra nhiều việc làm;
tạo môi trường thông thoáng, linh hoạt để lực lượng lao động trẻ tìm được
việc làm, cơ động, linh hoạt trong thị trường việc làm. Chính sách quản lý vĩ
mô và vi mô tốt nhằm tăng cường pháp luật, đổi mới thể chế, tăng hiệu lực
quản lý, giảm thiểu sự phiền hà, tham nhũng, kết hợp tốt giữa các nhà (nhà
nước, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học), kết hợp tốt giữa các chủ doanh
nghiệp với chính quyền sở tại và người lao động...
Nhưng "cơ cấu dân số vàng" của chúng ta cũng có thể sẽ là một thách
thức lớn, nếu chúng ta không làm tốt ba vấn đề nói trên. Bởi lực lượng lao
động đạt mức tối đa (ước tính mỗi năm tăng thêm khoảng 1,6 triệu lao động),
song Nhà nước, các tổ chức đoàn thể xã hội không tạo đủ việc làm cho người
19


lao động hoặc chỉ tạo ra những việc làm nhàm chán, thu nhập thấp, điều kiện
làm việc yếu kém, tham nhũng tràn lan... thì nguy cơ khủng hoảng, đổ vỡ, rối
loạn xã hội sẽ là điều bất khả kháng.
4.3 Biến đổi cơ cấu xã hội lãnh thổ và các phân hệ cơ cấu xã hội cơ bản khác
Cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, mạng lưới đô thị

độ nào sau nhiều năm tìm tòi, đổi mới.
Nghiên cứu sự biến đổi cơ cấu xã hội, chúng ta cũng cần phải xem xét
những biến đổi trong cơ cấu xã hội tôn giáo ở nước ta - một quốc gia đa tôn
giáo (với 6 tôn giáo lớn: Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Tin Lành giáo, Hồi giáo,
Hòa Hảo giáo, Cao Đài giáo) trong thời kỳ mở cửa đang có rất nhiều sự biến
đổi. Từ năm 2007 đến nay, đã có thêm nhiều tôn giáo với hàng chục các tổ
chức tôn giáo "nhánh phái tôn giáo" khác nhau được Nhà nước chính thức
thừa nhận và đi vào hoạt động. Chính trong bối cảnh này, Đảng và Nhà nước
ta cần chăm chú theo dõi và có những chính sách thông minh, trí tuệ nhằm
hoá giải được những mâu thuẫn, xung đột, tăng tính đồng thuận xã hội, xây
dựng vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp hài hoà giữa đời và
đạo, đạo pháp và CNXH.
Song hành với sự biến đổi cơ cấu xã hội tôn giáo là sự biến đổi không
kém phần quan trọng trong cơ cấu xã hội dân tộc. Một quốc gia 54 dân tộc
phải đối mặt với rất nhiều thách thức của đổi mới, mở cửa, hội nhập khu vực,
quốc tế. Các lực lượng thù địch luôn tìm mọi cách "chọc" vào những điểm
yếu, những sơ hở trong các chính sách và sự vận hành chính sách dân tộc, tôn
giáo ở nước ta để kích động chủ nghĩa dân tộc cực đoan, gây chia rẽ, mất
đoàn kết làm yếu đi sức mạnh của quốc gia, dân tộc chúng ta. Trước bối cảnh
hiện nay, việc nắm chắc các quan điểm về đoàn kết dân tộc của Đảng, những
chỉ đạo sâu sắc và chân thực trong các Di huấn tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí
Minh, tập hợp một cách thông minh, khoa học, nhất quán, trung thực các dân
tộc xung quanh ngọn cờ đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng dưới ánh sáng
của đổi mới - đó là những điều kiện tiên quyết và con đường duy nhất đúng
đắn đưa đất nước đi đến xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, một xã hội
tươi đẹp, nhân văn, "nhân đạo hoàn bị” mà chúng ta quyết tâm hướng tới.
21


Cơ cấu xã hội - nghề nghiệp: Nếu xem xét cơ cấu nghề nghiệp theo

phải không ngừng chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân làm nòng cốt
cho việc phát huy sức mạnh toàn dân tộc trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc là một nội dung trong xây
dựng cơ sở chính trị - xã hội của nền quốc phòng toàn dân. Vấn đề đố càng
phải được coi trọng trong điều kiện biến đổi cơ cấu xã hội – giai cấp, phân
hóa, phân tầng xã hội ở nước ta hiện nay. Tính đan xen, phức hợp của giai
tầng xã hội ngày càng tăng lên trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới, trong
quá trình toàn cầu hóa kinh tế. Kết cấu giai cấp – xã hội có nhiều biến động
ảnh hưởng đến liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và trí
thức, nền tảng xã hội của xã hội xã hội chủ nghĩa.Xây dựng cơ sở chính trị xã hội của nền quốc phòng toàn dân trong quá trình biến đổi cơ cấu xã hội,
phân hóa, phân tầng xã hội càng cần phải quan tâm phát triển số lượng và chất
lượng giai cấp công nhân; xây dựng và củng cố liên minh giữa giai cấp công
nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức.

23


KẾT LUẬN
Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội là những khái niệm cơ bản then chốt
của xã hội học, là chìa khóa để hiểu được những vấn đề thuộc về bản chất xã hội.
Nó không chỉ được xem như là những tiếp cận lý thuyết để nhận thức và luận
giải những vấn đề thuộc về bản chất của xã hội mà còn có thể được coi như là
khái niệm công cụ để nắm bắt và phân tích thực trạng xã hội, từ đó đưa ra những
giải pháp đối với những vấn đề bức xúc mà thực tiễn xã hội đang đặt ra.
Qua những phân tích trên đây cho chúng ta thấy chặng đường đổi mới
mà đất nước ta đã trải qua 26 năm, với biết bao thăng trầm và những thành
công đã đạt được. Những biến đổi đó đã tác động cả tích cực và tiêu cực đến
quá trình phát triển đất nước, cụ thể trên các mặt: kinh tế, văn hoá, chính trị
và xã hội.
Về mặt kinh tế: sự biến đổi cơ cấu xã hội đó đã góp phần thúc đẩy sự

giảm sút nguồn lực lao động ở nông thôn; các tệ nạn xã hội; sự bất bình đẳng
giới và nguy cơ khủng hoảng gia đình; sự thay đổi chuẩn mực đạo đức và lối
sống ở lớp trẻ…
Biến đổi cơ cấu xã hội đang làm gia tăng những mâu thuẫn và xung
đột - dù mới ở mức độ cục bộ - song cũng đã tạo ra những nguy cơ tiềm ẩn
đối với sự ổn định và phát triển của xã hội: đó là mâu thuẫn giữa chủ và thợ,
giữa thế hệ già và thế hệ trẻ, giữa chủ đầu tư và những người nông dân mất
đất, là xung đột giữa một số tổ chức tôn giáo và chính quyền địa phương, giữa
các bộ phận tộc người di dân tự do và cư dân địa phương.
Rõ ràng, cả hai mặt tích cực và tiêu cực đã, đang và sẽ còn tồn tại trong
quá trình biến đổi cơ cấu xã hội ở mô hình đổi mới ở nước ta. Đây không chỉ
là vấn đề thực tiễn, mà còn là vấn đề lý luận cần nghiên cứu và giải quyết.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status