Nâng cao năng lực hỗ trợ kỹ thuật của TAC đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Hà Nội. - Pdf 39

Tóm tắt Luận văn thạc sỹ

i

LỜI MỞ ĐẦU
Các hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) đã và đang
góp một phần không nhỏ vào sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Tuy
nhiên, các doanh nghiệp này lại gặp phải những khó khăn như thị trường,
nguồn vốn, nhân lực, địa điểm hoạt động kinh doanh, hệ thống quản lý chất
lượng. Hiện nay phần lớn công nghệ do các DNNVV đang sử dụng đã lạc hậu
hàng chục năm. Thêm vào nữa, kỹ năng, nghiệp vụ quản lý cũng như tay nghề
của lực lượng lao động trong các DNNVV của chúng ta hiện nay cũng được
đánh giá là thấp so với nhu cầu, chứ không phải là ưu điểm như chúng ta vẫn
tưởng... Thực tiễn yêu cầu phải có sự tư vấn, hướng dẫn, tìm giải pháp hỗ trợ
kỹ thuật giúp các DNNVV tăng khả năng cạnh tranh, khả năng tiếp xúc
thương mại, tiếp cận với thị trường quốc tế về tiến bộ công nghệ ...
Trung tâm Hỗ trợ kỹ thuật DNNVV (TAC) tại Hà Nội là đầu mối tư vấn
về công nghệ và kỹ thuật, cải tiến trang thiết bị, hướng dẫn quản lý kỹ thuật
và bảo dưỡng trang thiết bị, tạo điều kiện tiếp cận công nghệ trang thiết bị
mới cho DNNVV. Trong bối cảnh hiện nay của thị trường kỹ thuật công nghệ
cũng như đòi hỏi của các DN về hỗ trợ kỹ thuật thì vấn đề về cách thức hỗ
trợ, phương pháp hỗ trợ kỹ thuật của TAC có ý nghĩa quan trọng, quyết định
tính thực thi và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt là nhu cầu áp
dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật phải phù hợp với từng yêu cầu cụ thể của
DN. Do vậy việc nghiên cứu một cách nghiêm túc thực trạng vấn đề xác định
cách thức hỗ trợ kỹ thuật cho DNNVV để có thể đưa ra các kiến nghị và giải
pháp là một vấn đề hết sức cần thiết.
Xuất phát từ suy nghĩ đó, tôi đã chọn đề tài “NÂNG CAO NĂNG LỰC
HỖ TRỢ KỸ THUẬT CỦA TAC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ
VÀ VỪA TẠI HÀ NỘI” để nghiên cứu.


trình độ công nghệ tiên tiến mà phần lớn là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài (FDI). Doanh nghiệp trong nước đang sử dụng công nghệ cũ, lạc hậu và
khả năng cạnh tranh về công nghệ của các doanh nghiệp phía bắc là rất thấp.
Cuộc điều tra cũng chỉ ra một nghịch lý; trong khi trình độ về kỹ thuật

Bùi Thị Hoàng Mai


Tóm tắt Luận văn thạc sỹ

iii

công nghệ còn thấp nhưng nhu cầu đào tạo về kỹ thuật và công nghệ của
doanh nghiệp có tỷ lệ rất thấp; chỉ 25,9 % doanh nghiệp được điều tra có nhu
cầu về đào tạo công nghệ.
1.1.4 Sự cần thiết phải tăng cường hỗ trợ kỹ thuật đối với DNNVV:
Theo một số chuyên gia thì doanh nghiệp là chủ thể thực hiện. Chính
sách nhập công nghệ cần nêu bật vai trò chủ thể của DN. Bởi chính DN mới
là người quyết định nhập công nghệ nào, là người làm chủ, nắm bắt và phát
triển công nghệ. Nhà nước không thể làm thay DN mà chỉ có thể hỗ trợ họ
thông qua đào tạo nâng cao năng lực của doanh nghiệp và các chính sách tài
chính như ưu đãi thuế, hỗ trợ vốn đầu tư đổi mới công nghệ. Ngoài ra, DN sẽ
tự chịu trách nhiệm nhập công nghệ căn cứ theo tín hiệu của thị trường và
chiến lược kinh doanh của DN, Nhà nước chỉ đứng ra hỗ trợ cho DN nếu thấy
cần thiết. Nên tránh quan điểm kế hoạch hóa tập trung khi xây dựng chính
sách. Vì vậy chính sách cũng phải phù hợp với nền kinh tế thị trường.
Chúng ta cần đi tắt đón đầu các công nghệ mới, tiên tiến của nước ngoài,
tránh phải nghiên cứu lại những cái đã có. Muốn vậy Nhà nước cần có chính
sách thu hút, đặc biệt cần phải có chính sách hỗ trợ, đào tạo nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực trong nước, nhất là nhân lực trong hai khu vực ưu tiên là cộng

thuật được thực hiện thông qua việc cung cấp tài chính một phần cho các
chương trình đào tạo nguồn nhân lực, xúc tiến xuất khẩu, triển khai hệ thống
quản lý chất lượng tại DNNVV.
- Hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ.
- Hỗ trợ các dịch vụ tư vấn và tham vấn.
- Hỗ trợ thông tin thị trường, marketing và xúc tiến thương mại.
- Hỗ trợ quản lý chất lượng.
1.2.3 Các phương thức hỗ trợ kỹ thuật DNNVV:
1.2.3.1 Hỗ trợ trực tiếp:
Nhà nước ban hành các chính sách, pháp luật thiết thực đối với
DNNVV, đơn giản hoá thủ tục cấp giấy phép; cấp vốn trực tiếp, cung cấp mặt
bằng kinh doanh - sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng...
Ngoài ra, hỗ trợ trực tiếp có thể là hỗ trợ các yếu tố đầu vào như: vốn,

Bùi Thị Hoàng Mai


Tóm tắt Luận văn thạc sỹ

v

công nghệ, lao động, quản lý. Hỗ trợ các yếu tố đầu ra liên quan tới tiêu thụ
hàng hoá, dịch vụ…
1.2.3.3 Hỗ trợ gián tiếp chủ yếu thông qua cơ chế, chính sách tác động
vào môi trường kinh doanh để điều chỉnh hoạt động của DN; ổn định chính
trị-xã hội, tạo lập thị trường, khuyến khích thành lập các hội nghề nghiệp,
các trung tâm hỗ trợ, đào tạo nguồn nhân lực, tạo điều kiện để DNNVV hợp
tác liên doanh với nước ngoài, …
Hiện nay theo hoạt động trợ giúp của Nhà nước chuyển dần từ hỗ trợ
trực tiếp sang hỗ trợ gián tiếp, hỗ trợ một phần sang nâng cao năng lực thực

* Ứng dụng và hợp tác nghiên cứu ứng dụng công nghệ, chuyển giao
công nghệ, giúp các DNNVV tiếp cận công nghệ mới (kể cả công nghệ thứ
cấp và sản phẩm mới).
* Tham gia thực hiện các chương trình trợ giúp của Nhà nước cho
DNNVV.
* Thực hiện các nhiệm vụ khác do Cục trưởng Cục phát triển DNNVV giao.
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của TAC:
Giám đốc: là người điều hành hoạt động tư vấn, hỗ trợ của TAC.
Phó giám đốc phụ trách hành chính điều hành văn phòng và phòng kế
hoạch tổng hợp.
Phó giám đc phụ trách kỹ thuật điều hành phòng tư vấn, phòng kỹ thuật
công nghệ (đào tạo, tư vấn, nâng cao, công nghệ cao, cơ khí, điện tử, công
nghệ, bộ phận thí nghiệm, xưởng thiết bị).
2.1.4 Thực trạng hoạt động của các tổ chức hỗ trợ DNNVV tại Hà Nội:
- Hỗ trợ pháp lý: giúp DN tìm hiểu các chính sách và luật pháp liên quan
đến hoạt động kinh doanh của mình.
- Hỗ trợ kinh doanh, đa số các Trung tâm hỗ trợ mới chỉ dừng ở đào tạo
ngắn hạn và cung cấp những thông tin cơ bản, cung cấp dịch vụ hỗ trợ kinh
doanh. Còn các dịch vụ khác như: dịch vụ cung cấp thông tin, kỹ thuật - công
nghệ; hỗ trợ tiếp cận thị trường xuất khẩu; giới thiệu tiếp cận nguồn vốn;
tranh thủ hợp tác quốc tế, thu hút các nguồn tài trợ thì hầu như chưa tiếp cận
được, ...

Bùi Thị Hoàng Mai


Tóm tắt Luận văn thạc sỹ

vii



Tóm tắt Luận văn thạc sỹ

viii

cấp dịch vụ kỹ thuật khi các doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng mà không có
điều kiện đầu tư mua sắm.
2.2.4 Hỗ trợ các nghiên cứu tại doanh nghiệp:
Hoạt động thăm và tư vấn đều được chuẩn bị kỹ càng và được tiến hành
theo các bước. Trước hết, các thông tin chung và nhu cầu hỗ trợ kỹ thuật của
DN được đến thăm đều được thu thập thông qua việc cử các cán bộ tìm hiểu
thông tin sơ bộ. Sau đó, việc tiến hành phân loại và xác định nhu cầu kỹ thuật
cần trợ giúp sẽ giúp cho việc chọn chuyên gia có chuyên môn kỹ thuật phù
hợp với nhu cầu của DN.
2.2.5 Hoạt động kết nối doanh nghiệp:
* Thường xuyên tổ chức các buổi hội thảo, diễn đàn doanh nghiệp để các
Doanh nghiệp trong cùng ngành hoặc khác ngành gặp gỡ nhau tạo ra các cơ
hội liên kết kinh doanh cho doanh nghiệp.
* TAC Hà Nội cũng sẽ là cầu nối giữa các nhà khoa học với DNNVV
trong và ngoài nước.
2.2.6 Hỗ trợ khác về kỹ thuật công nghệ:
Cung cấp các dịch vụ Kiểm tra -Đo lường- Kiểm định nguyên vật liệu
cho doanh nghiệp:Để làm được sản phẩm có chất lượng cao cần kiểm định
nguyên vật liệu đưa vào sản xuất cũng như các bước gia công sản xuất sản
phẩm. Với sự giúp đỡ của Chính phủ Nhật Bản, TAC Hà Nội sẽ trang bị một
số thiết bị hiện đại để cho các doanh nghiệp thuê thông qua các hợp đồng
cung cấp dịch vụ kỹ thuật khi các doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng mà không
có điều kiện đầu tư mua sắm.

2.3. Đánh giá chung về hoạt động hỗ trợ kỹ thuật DNNVV của TAC:

năng này vẫn chưa được triển khai.
- Cung cấp thông tin khoa học kỹ thuật: còn bị phân tán, chưa thực sự là
đầu mối thông tin liên kết giữa DN với các Bộ, Ngành liên quan. Nhận thức
của DNNVV về khai thác và sử dụng thông tin còn hạn chế.
- Hoạt động kết nối: một trong những hạn chế đó là có rất nhiều chủ
doanh nghiệp Việt Nam còn nhận thức rất kém về vấn đề hợp tác. TAC rất

Bùi Thị Hoàng Mai


Tóm tắt Luận văn thạc sỹ

x

khó khăn trong việc lựa chọn các DN đạt đủ tiêu chuẩn và năng lực để giới
thiệu kết nối với DN nước ngoài.
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế:
- Về nguyên nhân khách quan
+ Do tỷ lệ các tổ chức, trung tâm hỗ trợ DN còn hạn chế;
+ Do thói quen của DN hoặc cũng có thể do dịch vụ tư vấn hỗ trợ DN
chưa phát triển,
+ Hạn chế trong nhận thức của DN về vấn đề kết nối DN.
- Về nguyên nhân chủ quan
+ Sự non trẻ của TAC.
+ Cán bộ, chuyên gia kỹ thuật đầu vào chưa có thời gian đủ dài để xác định
cụ thể những tiêu chí cơ bản như khả năng cũng như kinh nghiệm thực tế.

CHƢƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM
NÂNG CAO NĂNG LỰC HỖ TRỢ KỸ THUẬT CỦA TAC ĐỐI
VỚI DNNVV TẠI HÀ NỘI

- Phối kết hợp với các tổ chức nhà nước và tư nhân trong lĩnh vực công
nghệ, thiết bị hiện đại, tổ chức việc đào tạo về công nghệ thông tin nói chung
và nâng cao nhận thức, kỹ năng tiếp cận kỹ thuật mới cho các doanh nghiệp.
- Triển khai các hoạt động hỗ trợ tư vấn cho các doanh nghiệp về việc
cung cấp các thông tin thương mại, thông tin thị trường và việc tham gia sàn
giao dịch thương mại điện tử.
- Vận động, thu hút các DN đăng ký tham gia các chương trình đào tạo
thông qua các hình thức như miễn phí đào tạo, nội dung chương trình đổi mới
phù hợp với sự phát triển của xã hội, của thế giới. Tạo động lực để bản thân
doanh nghiệp chủ động tìm hiểu, nghiên cứu đầu tư và ứng dụng ngay những
công đoạn phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh của mình để tiếp cận rộng
rãi với các đối tác trong và ngoài nước nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và
mở rộng thị trường đặc biệt là những thị trường truyền thống và tiềm năng.

Bùi Thị Hoàng Mai


Tóm tắt Luận văn thạc sỹ

xii

- Xây dựng danh bạ cung cầu về dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật cho DNNVV.
- Đóng góp ý kiến, đề xuất với chính phủ và các Bộ, Ban, ngành sớm hoàn
thiện môi trường pháp lý về thương mại điện tử và hạ tầng cơ sở viễn thông.
Tóm lại, thực hiện thường xuyên, có hiệu quả công tác quảng cáo, tuyên
truyền, góp phần nâng cao nhận thức của DN về vai trò của TAC là một nội
dung quan trọng, là bước đi đầu tiên trong xây dựng, phát triển TAC.
3.3 Xây dựng và hoàn thiện quy trình hỗ trợ kỹ thuật của TAC:
Quy trình có thể chia thành 4 giai đoạn sau:
 Giai đoạn đầu tiên là hướng đến công việc và xác định những kỹ

- Thành lập Ban Chỉ đạo có nhiệm vụ kiến nghị các chính sách, biện
pháp đảm bảo triển khai có hiệu quả Chương trình hỗ trợ kỹ thuật, chỉ đạo và
tổ chức phối hợp giữa các bộ, ngành, cơ quan và UBND các tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương trong việc thực hiện các nội dung của Chương trình hỗ
trợ kỹ thuật.
- Tạo dựng một môi trường chính sách phù hợp với mục tiêu công
nghiệp hóa và hiện đại hóa;
- Chính phủ có thể ủy thác những nhiệm vụ và hoạt động khuyến khích
phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ cho các Hiệp hội doanh nghiệp.
- Đối với các Bộ, Hiệp hội khuyến khích phát triển DNNVV…tiếp tục
quán triệt và triển khai, thực hiện sâu rộng Nghị định 90/2001NĐ-CP ngày
23/10/2001 của Chính phủ về hỗ trợ giúp phát triển DNNVV, về một số vấn
đề phát triển DNNVV trong tình hình mới.
- Đối với ban Lãnh đạo Cục phát triển DNNVV cần tiếp tục quan tâm,
đẩy mạnh sự phát triển của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, lực lượng lao động kỹ
thuật, chuyên gia kỹ thuật, đặc biệt ở các Trung tâm hỗ trợ kỹ thuật trực thuộc
quản lý của Cục, về: tuyển chọn, quy hoạch, đào tạo, xây dựng đội ngũ kế
cận, có chính sách hỗ trợ và tạo điều kiện đối với các cán bộ giỏi chuyên môn.
- Thường xuyên chỉ đạo, tổ chức tốt sự phối hợp giữa các cơ quan chức
năng, làm tốt công tác kiểm tra, đánh giá theo định kỳ đối với các Hiệp hội,
trung tâm hỗ trợ DN, kịp thời đề ra những chủ trương biện pháp nâng cao chất

Bùi Thị Hoàng Mai


Tóm tắt Luận văn thạc sỹ

xiv

lượng các Hiệp hội và trung tâm đó.

xv

KẾT LUẬN
“Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ là một nhiệm vụ quan trọng trong
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước.” (Trích Nghị đinh Chính phủ về trợ giúp phát triển Doanh nghiệp
vừa và nhỏ). Hiện nay chúng ta đã có những chương trình xúc tiến thương
mại cấp quốc gia do chính phủ và các tổ chức quốc tế tài trợ.
Hỗ trợ phát triển DNNVV là một vấn đề mới đối với các cơ quan quản
lý nhà nước và chính quyền các cấp. Do vậy, khó tránh khỏi những bỡ ngỡ,
khó khăn khi triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Sự
hỗ trợ DNNVV còn mang nặng tính hành chính, chưa được xã hội hoá một
cách mạnh mẽ.
Nâng cao năng lực hỗ trợ kỹ thuật DNNVV của TAC, nhằm phát triển
cả về chất lượng và số lượng các nội dung cũng như phương thức hỗ trợ DN,
phát triển lực lượng cán bộ lãnh đạo, cán bộ, chuyên viên kỹ thuật có trình độ
và phẩm chất năng lực tốt, chuyên môn nghiệp vụ giỏi, đáp ứng yêu cầu mục
tiêu, quy mô, ngành nghề, phù hợp với sự vận động và phát triển của
DNNVV trong thời kỳ mới, phù hợp với yêu cầu phát triển KT - XH, đồng
thời nâng cao vai trò của TAC trong hoạt động hỗ trợ DN. Việc đánh giá kết
quả hỗ trợ DN của cho thấy TAC thực hiện các chức năng lập kế hoạch, tổ
chức các chương trình đã đạt những mục tiêu đề ra trong giai đoạn mới thành
lập. Chú trọng công tác bồi dưỡng, quản lý phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo,
chuyên viên kỹ thuật, xây dựng lên một đội ngũ cán bộ đồng bộ về cơ cấu, có
số lượng và chất lượng đảm bảo, phẩm chất, năng lực tốt, nguồn kế cận vững
vàng, đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp đổi mới, CNH,
HĐH đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh. Đây là yêu cầu cấp bách, là nhiệm vụ cơ bản, quan trọng, về công
tác nâng cao năng lực hỗ trợ kỹ thuật của TAC trong giai đoạn mới.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status