2. 1 C
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hải quan Việt Nam được thành lập ngày 10/9/1945. Trải qua hơn 60
năm xây dựng trưởng thành, Hải quan Việt Nam đã hoàn thành các nhiệm vụ
chính trị được Đảng và Nhà nước giao cho là: thực hiện kiểm tra, giám sát
hàng hóa phương tiện vận tải; phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép
hàng hóa qua biên giới; tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hóa
xuất khẩu, nhập khẩu; kiến nghị chủ trương, biện pháp quản lý nhà nước về
hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh nhập cảnh, quá
cảnh và chính sách thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu. Kết quả hoàn thành
nhiệm vụ của Hải quan Việt Nam đã góp phần quan trọng trong công cuộc đấu
tranh giải phóng đất nước cũng như trong công cuộc xây dựng bảo vệ Tổ quốc.
Từ nay đến năm 2020, sẽ có rất nhiều sự kiện lớn trong đời sống kinh
tế - xã hội của nước ta. Đây là giai đoạn đất nước thực hiện Chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội 10 năm đầu của thế kỷ XXI- Chiến lược đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền
tảng để đến 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp, là mốc thời
gian Việt Nam đã hội nhập tương đối toàn diện vào kinh tế thế giới và khu
vực, khi đó đã là Khu vực tự do thương mại ASEAN (AFTA) bao gồm tất cả
10 thành viên ASEAN, là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới
(WTO), của Diễn đàn Kinh tế khu vực châu Á - Thái Bình Dương (APEC),
của Diễn đàn hợp tác toàn diện Á - Âu (ASEM). Thời kỳ đổi mới, hội nhập
quốc tế, đòi hỏi ngành Hải quan phát triển hơn nữa, hoạt động có tính định
hướng với các kế hoạch dài hạn và ngắn hạn; nhanh chóng hiện đại hóa, tự
động hóa các mặt công tác, nhất là trong thủ tục thông quan hàng hóa, đổi
mới hệ thống tổ chức nhằm thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ được giao.
1. d
một số Cục hải quan tỉnh quá nhỏ; Cục Hải quan là cấp trung gian, chủ yếu
1. d
2. 3 C
quản lý cán bộ; còn công tác nghiệp vụ chủ yếu do Hải quan cấp Chi cục thực
hiện. Bộ máy tham mưu giúp việc của cơ quan Tổng cục được hình thành và
tổ chức nhằm thực hiện phương thức quản lý cũ, thủ công, trước yêu cầu đổi
mới tinh giảm và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các tổ chức bộ máy
cũng như đáp ứng các yêu cầu quản lý của mô hình hải quan hiện đại trong lộ
trình cải cách và hiện đại hóa cần phải đổi mới tổ chức các cơ quan này cho
phù hợp.
Từ những lý do nêu trên cho thấy đổi mới hệ thống tổ chức của Hải
quan Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và đáp ứng các yêu cầu
hiện đại hóa là một yêu cầu cấp thiết mang tính khách quan. Nhưng đổi mới
xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn như thế nào là vấn đề cần nghiên cứu
một cách đầy đủ và nghiêm túc. Vì vậy, tác giả chọn đề tài "Cơ sở lý luận đổi
mới tổ chức hải quan theo mô hình hải quan hiện đại ở Việt Nam hiện nay"
để nghiên cứu viết luận văn thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu
Hiện nay hiện đại hóa hải quan, ứng dụng công nghệ tiến tiến trong
các lĩnh vực công tác hải quan là những vấn đề mang tính thời sự. Chỉ tính từ
năm 2003 đến nay đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu khoa học, nhiều đề án, kế
hoạch đã được nghiên cứu và triển khai ứng dụng trong lĩnh vực hoạt động
của ngành Hải quan, cụ thể:
- Đề tài khoa học cấp Bộ: Xây dựng chiến lược phát triển ngành hải
quan đến năm 2010 (Mã số 01-N2003, Chủ nhiệm đề tài: ThS. Trương Chí
Trung - Thứ trưởng Bộ Tài chính, kiêm Tổng Cục trưởng Tổng cục Hải
quan);
sau thông quan (Mã số 07-N2005; Chủ nhiệm đề tài: ThS. Nguyễn Viết Hồng Cục trưởng Cục kiểm tra sau thông quan);
1. d
2. 5 C
- Kế hoạch cải cách, phát triển và hiện đại hóa Hải quan giai đoạn
2004 - 2006, ban hành kèm theo Quyết định 810/QĐ-BTC, ngày 16/3/2004
của Bộ trưởng Bộ Tài chính;
- Đề án thực hiện thí điểm thủ tục Hải quan điện tử tại Cục Hải quan
thành phố Hải Phòng và Cục Hải quan Thành phố Hồ Chí Minh theo Quyết
định số 149/2005/QĐ-TTg, ngày20/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ;
- Một số suy nghĩ về việc sắp xếp lại mạng lưới tổ chức Chi cục Hải
quan cửa khẩu, của ThS. Chu Văn Nhân - Cục trưởng Cục Hải quan Bình
Định đăng trên Bản tin Nghiên cứu Hải quan, số 12/2005
Tất cả các công trình nghiên cứu, đề án và các bài viết trên tuy chưa
đề cập một cách trực tiếp đến đổi mới tổ chức của Hải quan theo mô hình Hải
quan hiện đại, nhưng đã gián tiếp đưa ra các mục tiêu, phương hướng, luận cứ
khoa học, các giải pháp nhằm từng bước cải cách, chuẩn hóa hoạt động Hải
quan mang tính chuyên nghiệp chuyên sâu, hoạt động minh bạch có hiệu quả
theo yêu cầu hội nhập quốc tế.
Đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu trực diện nội dung:
Cơ sở lý luận đổi mới tổ chức Hải quan theo mô hình hải quan hiện đại ở
Việt Nam hiện nay. Các công trình đã nghiên cứu trên sẽ tạo thuận lợi cho tác
giả trong việc tiếp cận với mô hình Hải quan hiện đại; có cách nhìn nhận đúng
đắn, đầy đủ về sự cần thiết phải đổi mới tổ chức Hải quan; sẽ cung cấp những
thông tin quan trọng trong đề ra các giải pháp đổi mới tổ chức Hải quan theo
mô hình Hải quan hiện đại ở Việt Nam hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Luận văn xác định nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của tổ
duy vật lịch sử mácxít, trong đó chú trọng các phương pháp kết hợp giữa lý
luận và thực tiễn, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp lịch sử cụ
1. d
2. 7 C
thể. Ngoài ra, còn sử dụng các phương pháp của các bộ môn khoa học khác
như phương pháp thống kê, so sánh.
6. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Luận văn làm nổi bật đặc điểm, nội dung, yêu cầu khách quan của đổi
mới tổ chức Hải quan theo mô hình hải quan hiện đại ở Việt Nam hiện nay;
- Đánh giá đúng thực trạng về hệ thống tổ chức của Hải quan Việt Nam,
chỉ ra những bất cập trước yêu cầu, đòi hỏi của tình hình mới theo các tiêu chí
của mô hình hải quan hiện đại.
- Đưa ra các luận chứng trong việc đổi mới tổ chức Hải quan theo mô
hình hải quan hiện đại ở Việt Nam.
7. Ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn là tư liệu tham khảo phục vụ cho yêu
cầu thực tiễn của việc đổi mới hệ tổ chức của Hải quan theo mô hình Hải
quan hiện đại đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, cụ thể là tổ
chức bộ máy Hải quan Vùng; quy hoạch lại mạng lưới cấp Chi cục hải quan
cửa khẩu; tổ chức lại các đơn vị Vụ, Cục giúp việc thuộc Tổng cục Hải quan.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương, 9 tiết.
1. d
2. 9 C
Hình thái các loại tổ chức trên thế giới rất đa dạng, nhưng có một nét
khái quát có tính phổ biến mang một tên gọi chung: tổ chức là một nhóm sự
vật kết hợp lại theo hình thức cơ cấu và quy luật vận động đã định. Gọi là cơ
cấu đã định là chỉ quan hệ hay hình thức liên kết giữa bộ phận và tổng thể,
giữa các bộ phận với nhau trong nội bộ tổ chức. Gọi là quy luật vận động là
chỉ ảnh hưởng trao đổi thông tin, năng lượng và vật chất giữa bộ phận và tổng
thể, giữa tổ chức với sự vận động bên ngoài. Tình hình này đều thích ứng với
giới tự nhiên, giới sinh vật và xã hội loài người.
Theo nghĩa thứ hai, tổ chức là một chức năng của quản lý thể hiện ở việc
thực hiện các chức năng nhất định, chủ yếu là kế hoạch hóa, tổ chức, lãnh đạo và
kiểm tra. Chức năng tổ chức gắn bó chặt chẽ với chức năng kế hoạch. Chức năng
kế hoạch xác định cần làm gì, tổ chức tạo điều kiện để thực hiện kế hoạch.
Nghĩa là xem tổ chức là phương tiện hay yếu tố cho các tài nguyên nhân lực
hay vật lực gắn liền với nhau để tạo ra một hệ thống nhất định, ấn định những
hoạt động cần thiết nhằm đạt mục tiêu đã định như chỉ huy, phối hợp, kiểm tra.
Định nghĩa nói trên, thường thiên về tổ chức xã hội - một tập thể được
hình thành theo quan hệ qua lại và nguyên tắc hoạt động đã định, để quản lý
một mục tiêu nào đó. Hàm nghĩa của tổ chức xã hội dựa trên nội dung của các
điểm sau:
- Xây dựng tổ chức là một hành vi có mục đích, là để thỏa mãn một
nhu cầu nào đó. Con người là động vật cao cấp có tư tưởng, có ý chí, hành vi
của con người luôn có tính mục đích rõ ràng, vì thế nếu không có mục tiêu
chung thì không thể hình thành tập thể.
- Tất cả các tổ chức đều tồn tại trong môi trường bên ngoài riêng biệt;
môi trường này ảnh hưởng rất lớn đến hình thái, công năng, kết cấu, sự vận
hành của tổ chức, tiến hành trao đổi vật chất, năng lượng và thông tin với tổ
chức. Môi trường bên ngoài, về cơ bản quyết định địa vị, giá trị và phạm vi
là cơ quan chấp hành chính trong chính phủ. Tổ chức hành chính theo nghĩa
rộng được lý giải khác nhau về mức độ rộng của nó. Tổ chức hành chính theo
nghĩa rộng là tất cả bộ máy làm việc công của quốc gia. Nếu quan niệm rộng
1. d
2. 11 C
hơn nữa thì bao gồm mọi cơ cấu tổ chức công, tư có quy mô tương đối lớn trừ
những đơn vị tiến hành thao tác nghiệp vụ cụ thể như: phân xưởng, tổ nhóm,
quầy hàng, phòng thí nghiệm... Như vậy, những cơ quan quản lý đảm nhiệm
việc quyết định chính sách và chấp hành chức năng đều được coi là tổ chức
hành chính.
1.1.2.2. Các đặc điểm cơ bản của tổ chức hành chính
- Tính chính trị: Tổ chức hành chính nhà nước là bộ phận tổ thành
quan trọng của Nhà nước, đại diện cho Nhà nước, là chủ thể chấp hành quyền
lực quốc gia, thực hiện quản lý các công việc kinh tế xã hội, nó còn là bộ
phận tổ thành quan trọng của thể chế chính trị xã hội, thể hiện sự tốt xấu của
thể chế chính trị. Vì thế, xét về tổng thể, tổ chức hành chính đều mang tình
chính trị, V.I. Lênin đã từng cho rằng "chính trị" là tiến hành một loạt hoạt động
quản lý đối với công việc của Nhà nước và xã hội. Theo ý nghĩa đó, tính
chính trị của tổ chức hành chính càng thêm rõ ràng. Tổ chức hành chính của
Nhà nước xã hội chủ nghĩa là cái nút của mối liên hệ trực tiếp giữa Đảng và
Nhà nước với quần chúng nhân dân. Vấn đề ăn mặc, đi ở, sinh lão bệnh tử
cho đến giáo dục, văn hóa, vệ sinh và các mặt sản xuất và đời sống nhân dân
đều có mối liên hệ trực tiếp hay gián tiếp với các loại tổ chức hành chính của
Nhà nước; hiệu suất của tổ chức hành chính tốt hay xấu đều trực tiếp liên
quan đến sự hơn thiệt của quần chúng nhân dân, quan hệ đến sự hưng thịnh,
suy thoái của đất nước và sự ổn định về cục diện chính trị. Tính ưu việt của
chế độ xã hội chủ nghĩa cần được thể hiện ở tính ưu việt của tổ chức hành
chấp hành của tổ chức lập pháp, hành chính phải phục vụ lập pháp, tổ chức
hành chính phải phục vụ việc chấp hành Hiến pháp và pháp luật. Đặt hành
chính cao hơn pháp chế là một tệ xấu mà xã hội pháp chế không thể chấp
nhận. Đặc biệt, tổ chức hành chính và nhân viên của Nhà nước xã hội chủ
nghĩa phải là "đày tớ, công bộc" của nhân dân, lấy phục vụ nhân dân, phục vụ
lợi ích quốc gia, phục vụ lợi ích xã hội làm tôn chỉ. Tính phục vụ là thuộc tính
cơ bản của tổ chức hành chính.
- Tính pháp chế: Tổ chức hành chính nhà nước là cơ cấu thay mặt Nhà
nước hành xử quyền hành chính theo luật, có tính pháp chế. Đó là đặc điểm rõ
1. d
2. 13 C
ràng mà tổ chức hành chính khác với các tổ chức xã hội khác. Pháp chế hóa tổ
chức hành chính là một tiêu chí của sự tiến bộ của xã hội loài người. Tổ chức
hành chính Việt Nam được xây dựng theo quy định của "Luật tổ chức Nhà
nước". Tổ chức hành chính phải căn cứ vào quy định của pháp luật hành xử
chức quyền. Người lãnh đạo chủ yếu của tổ chức hành chính được bầu và bổ
nhiệm theo pháp luật, tác động của nhân viên công chức phải tuân theo các
quy định của "Pháp lệnh công chức". Tổ chức hành chính trong quá trình
hành xử quyền hành chính phải áp dụng biện pháp, các biện pháp hành chính
và kinh tế theo quy định của pháp luật. Tóm lại, pháp chế được quán triệt
trong tất cả các khâu của quá trình quản lý hành chính.
- Tính quyền uy: Tổ chức hành chính dựa trên cơ sở Hiến pháp và
pháp luật, hành xử quyền hành chính theo Hiến pháp và pháp luật, bao gồm
chế định các văn bản hành chính, áp dụng các biện pháp hành chính đối với
xã hội, thực hiện quản lý hành chính các công việc của xã hội. Điều đó làm
cho việc quản lý có tính ràng buộc phổ biến và tính cưỡng chế chung. Các
loại tổ chức các cấp và công dân thuộc phạm vi quản lý của tổ chức hành
thành nên tổ chức. Tổ chức hành chính nhà nước với tính cách là một thực thể
của thượng tầng kiến trúc, ban đầu nảy sinh từ nhu cầu phát triển của hoạt
động kinh tế và hoạt động xã hội khác. Chức năng cơ bản của nó là cung cấp
dịch vụ mang tính chất quản lý cho các hoạt động để chúng phát triển một
cách nhịp nhàng và có hiệu quả hơn. Vì thế, tổ chức hành chính là một loại
phương tiện cho sự vận hành và phát triển của xã hội. Tổ chức hành chính
phải thích ứng và phục vụ cho cơ sở kinh tế, phục vụ sự ổn định và phát triển
của nền kinh tế quốc dân và của cả xã hội. Đồng thời, xét từ quan hệ giữa
hành chính và lập pháp trong thể chế chính trị nhà nước, tổ chức lập pháp là
cơ quan quyền lực của Nhà nước, tổ chức hành chính là cơ quan chấp hành
của tổ chức lập pháp, hành chính phải phục vụ lập pháp, tổ chức hành chính
phải phục vụ việc chấp hành Hiến pháp và pháp luật.
- Dưới góc độ pháp lý: Tổ chức hành chính nhà nước là cơ cấu thay
mặt Nhà nước hành xử quyền hành chính theo luật, có tính pháp chế. Đó là
đặc điểm rõ ràng mà tổ chức hành chính khác với các tổ chức xã hội khác.. Tổ
1. d
2. 15 C
chức hành chính Việt Nam được thành lập theo quy định của "Luật tổ chức
Nhà nước". Tổ chức hành chính được hình thành và trở thành một thực thể
thực sự trong một hệ thống tổ chức hoàn chỉnh phải bắt nguồn dựa trên cơ sở
một quyết định mang tính pháp lý. Dưới góc độ pháp lý cơ sở hình thành nên
tổ chức sẽ phải trả lời các câu hỏi: căn cứ vào đâu để thành lập? Tổ chức được
thành lập là loại tổ chức gì? Chức năng nhiệm vụ ra làm sao? Việc tổ chức
thực hiện nhiệm vụ như thế nào? Địa vị pháp lý của tổ chức là thế nào?...
1.2. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VỊ TRÍ VÀ VAI TRÒ CỦA TỔ CHỨC
HẢI QUAN
động của hải quan các cấp; chế độ phục vụ, chức danh, tiêu chuẩn,
lương, phụ cấp thâm niên, chế độ đãi ngộ khác đối với công chức
hải quan; hải quan hiệu, cờ hiệu, cấp hiệu, trang phục, giấy chứng
minh hải quan [26].
Từ khái niệm cũng như nhiệm vụ của tổ chức hải quan được pháp luận
quy định, đối chiếu, so sánh với các tổ chức hành chính nhà nước khác thì ngoài
các đặc điểm chung của tổ chức hành chính nhà nước, tổ chức hải quan có đặc
điểm mang tính riêng biệt và đặc thù như sau:
- Tính thống nhất cao: Toàn bộ hệ thống tổ chức của hải quan từ trung
ương đến các địa phương có tổ chức Hải quan được tổ chức theo một hệ
thống thống nhất. Hoạt động theo nguyên tắc tập trung. Chính sách quản lý
là thống nhất.
- Hoạt động hải quan là hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật thuộc
nhiều lĩnh vực chuyên ngành khác nhau như: Kinh tế; ngân hàng; hành chính;
hình sự; tố tụng hình sự; dân sự; tố tụng dân sự; đầu tư; du lịch; môi trường;
hải quan…. Vì vậy, tính đa ngành, đa nghề trong hoạt động của tổ chức Hải
quan rất lớn.
1. d
2. 17 C
- Hoạt động Hải quan thường gắn với hoạt động giao lưu thương mại
với nước ngoài, gắn với hoạt động xuất cảnh, nhập cảnh. Vì vậy, các hoạt động
hải quan thường diễn ra tại cửa khẩu, sân bay quốc tế, cảng biển quốc tế, ga
đường sắt quốc tế. Tổ chức của hải quan được hình thành và bố trí tại nơi diễn
ra hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa; phương tiện vận tải, hành khách
xuất cảnh, nhập cảnh.
1.2.2. Vị trí và vai trò của tổ chức hải quan
Ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, lực lượng hải quan cũng là một
với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu hải quan đã đóng góp không nhỏ vào
nguồn thu cho ngân sách quốc gia.
- Hải quan được xác định là một trong những công cụ quan trọng góp
phần vào việc bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của mỗi quốc
gia. Vai trò này của hải quan được đặc biệt nhấn mạnh trong việc phát hiện và
xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật về hải quan nói riêng và vi phạm
pháp luật nói chung nhằm đảm bảo an ninh về văn hóa tư tưởng, an toàn vệ
sinh - dịch tễ, bảo vệ sức khỏe của nhân dân, bảo vệ lợi ích của người tiêu
dùng, ngăn chặn kịp thời những hành vi có nguy cơ đe dọa tới lợi ích, chủ
quyền và an ninh quốc gia.
- Ngày nay, các quốc gia đang có nhu cầu thu thút vốn đầu tư của các
nhà đầu tư nước ngoài nhằm xây dựng và phát triển nền kinh tế của quốc gia mình
đều đặc biệt quan tâm tới việc cải thiện môi trường đầu tư, trong đó phải kể đến
việc thay đổi luật lệ và chính sách về hải quan. Đây là việc làm cần thiết bởi luật
lệ, chính sách hải quan, thủ tục hải quan là những vấn đề có liên quan trực
tiếp đến lợi ích của các nhà đầu tư nước ngoài. Như vậy, vai trò của tổ chức
Hải quan, hoạt động của Hải quan có tầm quan trọng đặc biệt đối với cải thiện
môi trường đầu tư, thúc đẩy và thu hút vốn đầu tư nước ngoài đối với mỗi
quốc gia.
1.3. CÁC TIÊU CHÍ XÁC ĐỊNH TỔ CHỨC HẢI QUAN THEO MÔ HÌNH
HIỆN ĐẠI
1.3.1. Mô hình tổ chức hải quan hiện đại theo khuyến nghị của tổ
chức Hải quan thế giới (WCO)
1. d
2. 19 C
Để thực hiện các cam kết cụ thể liên quan đến Hải quan đề cập đến
2. 20 C
1. Hài hòa cấu trúc biểu thuế quan với Công ước HS.
2. Công khai hóa các thông tin về luật pháp, quy định, chỉ dẫn hành
chính và quản lý đối với doanh nghiệp.
3. Đơn giản và hài hòa thủ tục Hải quan trên cơ sở Công ước
KYOTO.
4. Áp dụng chuẩn trao đổi dữ liệu điện tử UN/EDIFACT của Liên
Hiệp quốc dùng trong hành chính, thương mại và vận tải.
5. Áp dụng trị giá GATT/WTO.
6. Áp dụng các nguyên tắc Hiệp định bảo hộ sở hữu trí tuệ (TRIPS)
của WTO.
7. Tạo cho doanh nghiệp có quyền kháng nghị các quyết định không phù
hợp của Hải quan thông qua cơ chế khiếu nại một cách công khai và độc lập.
8. Áp dụng Quy tắc phân loại trước khi hàng đến.
9. Cải tiến thủ tục hải quan về tạm nhập khẩu theo các quy định của
Công ước ATA và Công ước Istanbul.
10. Hài hòa các dữ liệu APEC: tiến tới việc các nền kinh tế thành viên
APEC có thể trao đổi dễ dàng với nhau các dữ liệu chung về hải quan, thương
mại dựa trên chuẩn chung về thương mại điện tử.
11. Áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro để tập trung các biện pháp kiểm
soát một số hàng hóa có nguy cơ rủi ro cao, tạo thuận lợi thông quan tuyệt đại
bộ phận hàng hóa khác.
12. Áp dụng các chỉ dẫn của Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) về tạo
thuận lợi thông quan hàng chuyển phát nhanh, xây dựng quan hệ đối tác với
Hiệp hội doanh nghiệp chuyển phát nhanh.
13. Liêm chính Hải quan và
14. Thương mại phi giấy tờ.
1. d
kỹ thuật quản lý
rủi ro
1. d
ập trung và có
hiệu quả các
trang thiết bị kỹ
thuật h
bộ chuyên
nghiệp, chuyên
sâu hoạt động
minh bạch, liêm
chính
VÙNG
(HẢI QUAN TỈNH,
THÀNH PHỐ, LIÊN
TỈNH)
TỔNG CỤC HẢI
QUAN
Sử dụng
Đội ngũ cán
2. 22 C
áp dụng phương pháp kỹ thuật quản lý mới đáp ứng yêu cầu đơn giản về thủ
tục, văn minh trong giao tiếp, nhưng vẫn quản lý chặt chẽ đúng pháp luật.
Khi Việt Nam đã trở thành thành viên các nước trong khu vực ASEAN,
thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), đặt ra các yêu cầu về pháp
luật phải được hoàn thiện theo mục tiêu nội luật hóa các cam kết quốc tế mà
Việt Nam đã tham gia và ký kết. Trong đó, việc đơn giản hóa thủ tục hải quan
theo Công ước KYOTO sửa đổi phù hợp với yêu cầu quan lý hải quan theo
thông lệ quốc tế trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa; thực hiện xác định
trị giá hải quan theo Hiệp định trị giá GATT nhằm tạo ra một hệ thống xác
định trị giá hải quan thống nhất... là những nội dung quan trọng mà Hải quan
1. d
2. 24 C
các nước thành viên trong Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) phải thực hiện.
Một điều kiện quan trọng trong thực hiện thủ tục hải quan theo yêu cầu hiện
đại liên quan gắn bó hữu cơ với việc đổi mới và bố trí sắp xếp lại hệ thống tổ
chức Hải quan. Hiện nay, nhiều nước tổ chức Hải quan đã được tổ chức theo
cơ cấu, mô hình hiện đại nhằm thực hiện có hiệu quả công tác quản lý hải
quan. Tính tương thích về mô hình tổ chức của Hải quan Việt Nam theo thế
giới và khu vực là một nội dung quan trọng trong thực hiện tiến trình hội nhập
sâu vào thế giới và khu vực. Đây là tiêu chí quan trọng trong việc nghiên cứu
để đổi mới, cơ cấu lại tổ chức hải quan các cấp của Hải quan Việt Nam trong
giai đoạn hiện nay đáp ứng yêu cầu hội nhập.
- Thứ hai, đơn giản và hiện đại: Tiêu chí đơn giản và hiện đại là nội
dung quan trọng trong xác định mục tiêu của đổi mới tổ chức. Đối với đổi
mới tổ chức hải quan theo yêu cầu hiện đại tiêu chí này phải được xem xét,
nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh khác nhau.
Tổ chức đơn giản một tiêu chí quan trọng để xem xét yêu cầu tổ chức
Như vậy, tiêu chí xác định mô hình hải quan hiện đại phải được xem
xét dưới yêu cầu đơn giản, hiện đại dưới tất cả khía cạnh cụ thể. Thông quan
xém xét tiêu chí này trên từng phương diện để xác định nội dung, lộ trình, mô
hình của một tổ chức sau khi tiến hành đổi mới. Tiêu chí này rất quan trọng
trong điều kiện Việt Nam khi Đảng, Nhà nước đang hướng tới mục tiêu xây
dựng bộ máy hành chính nhà nước gọn nhẹ, hiệu quả, hoạt động minh bạch.
Cũng trong điều kiện kinh tế còn hạn hẹp thì tập trung đầu tư và sử dụng có
hiệu quả cơ sở vật chất khi đầu tư tránh dàn trải, lãng phí, thất thoát là một
yêu cầu cấp thiết. Đổi mới tổ chức hải quan Việt Nam theo mô hình hải quan
hiện đại phải tuân thủ các yêu cầu đặt ra của tiêu chí này. Căn cứ vào tiêu chí
này cho phép tồn tại hay không tồn tại một tổ chức, sáp nhập hay không sáp
nhập, cơ cấu bên trong của từng tổ chức hải quan... Tuân thủ tiêu chí này sẽ
xây dựng tổ chức hải quan Việt Nam từ Tổng cục đến các cửa trở thành một
hệ thống tổ chức thống nhất, gọn đầu mối, xóa cấp trung gian, ứng dụng kỹ
thuật quản lý mới, tập trung đầu tư trọng điểm tránh lãng phí nguồn tài chính,
sử dụng có hiệu quả đầu tư đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa và hội nhập, góp
phần vào công cuộc phát triển kinh tế của đất nước.
1. d