TRANH KỸ THUẬT SỐ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 39

0
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM

Nguyễn Đức Sơn

TRANH KỸ THUẬT SỐ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGHỆ THUẬT

Hà Nội - 2015


1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM

Nguyễn Đức Sơn

TRANH KỸ THUẬT SỐ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật
Mã số: 62 21 01 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGHỆ THUẬT

DANH MỤC CÁC BẢNG .......................................................................
MỞ ĐẦU ...................................................................................................

1
2
3
4
5

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRANH KỸ THUẬT SỐ Ở
VIỆT NAM ................................................................................................
1.1. Khái lược về tranh kỹ thuật số ............................................................
1.2. Sự hình thành nghệ thuật đa phương tiện và tranh kỹ thuật số ...........
Tiểu kết .......................................................................................................

24
24
37
58

Chương 2: ĐẶC TRƯNG CỦA TRANH KỸ THUẬT SỐ Ở VIỆT
NAM ..........................................................................................................
2.1. Đặc điểm tranh kỹ thuật số ở Việt Nam ..............................................
2.2. Khuynh hướng sáng tác tranh kỹ thuật số ở Việt Nam .......................
2.3. Đặc trưng tạo hình trong tranh kỹ thuật số ở Việt Nam .....................
Tiểu kết .......................................................................................................

60
60
73

B.

Bảng

CNTT

Công nghệ thông tin

ĐPT

đa phương tiện

H.

Hình

KTS

kỹ thuật số

Nxb

Nhà xuất bản

PL.

Phụ lục

TP. HCM


quốc gia trên thế giới đang có những bước chuyển nhanh và mạnh từ xã hội
công nghiệp sang xã hội thông tin, từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh
tế tri thức. Chính bởi sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng công nghệ
thông tin (CNTT) đã ảnh hưởng một cách sâu rộng đến mọi lĩnh vực trong đời
sống kinh tế, văn hóa, xã hội... của nhân loại.
Hoà cùng với xu thế phát triển chung cuả thế giới, Việt Nam cũng đã và
đang chuyển mình mạnh mẽ trên con đường công nghiệp hoá và hiện đại hoá
đất nước. Mọi lĩnh vực của đời sống: kinh tế, giáo dục, khoa học kỹ thuật, văn
hóa, nghệ thuật… đều có những bước phát triển đáng kể, cả về chất cũng như
về lượng nhằm thích ứng với điều kiện phát triển mới của đất nước cũng như
xu thế chung của toàn nhân loại khi bước vào thiên niên kỷ mới - kỷ nguyên
kỹ thuật số (KTS).
Trong lĩnh vực nghệ thuật ở Việt Nam hiện nay, ngày càng có nhiều
nghệ sĩ ứng dụng công nghệ khoa học kỹ thuật tiên tiến vào quá trình sáng tạo
và thực hành nghệ thuật. Điều này đã đem lại nhiều biến đổi về quan niệm
cũng như trong hình thức thể hiện nghệ thuật. Một đội ngũ “hoạ sĩ số” [36,
tr.161] cũng dần hình thành và phát triển ở Việt Nam hiện nay. Họ đã và đang
góp phần xây dựng Việt Nam với một nền nghệ thuật phát triển cao tương
xứng với một “nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” [9]. Từ thực tế
đó, một dạng thức nghệ thuật đã xuất hiện, hình thành và phát triển ở Việt
Nam thông qua con đường giao lưu văn hóa, nghệ thuật của Việt Nam với thế
giới đương đại trong xu thế hội nhập toàn cầu hóa. Đó chính là nghệ thuật kỹ
thuật số (KTS).


6

Quá trình vận động nền nghệ thuật trong nước dẫn đến sự hình thành và
phát triển của hình thức tranh KTS. Do đó ngày càng nhiều họa sĩ sử dụng
máy vi tính với tư cách là một công cụ hỗ trợ sáng tác mỹ thuật, đa phương

đề tài Tranh kỹ thuật số ở Việt Nam hiện nay. Thông qua đó, đề tài nghiên
cứu muốn đề cập đến thực trạng, xu hướng phát triển và sự biến đổi của mỹ
thuật Việt Nam trong kỷ nguyên KTS. Đồng thời cũng phân tích, tổng hợp và
lý giải những vấn đề liên quan đến tranh KTS cũng như ngôn ngữ tạo hình
trong tranh KTS ở Việt Nam hiện nay.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề có liên quan đến đề tài
Trên thế giới, việc nghiên cứu về lĩnh vực nghệ thuật ĐPT đã và đang
phát triển mạnh, trải rộng trên mọi khía cạnh của lĩnh vực này như: nghệ thuật
KTS, nghệ thuật đồ họa, hoạt hình, nghệ thuật thực tế ảo, nghệ thuật nhiếp
ảnh, điện ảnh, nghệ thuật truyền thông tương tác...
Công trình nghiên cứu The digital computer as a creative medium (Máy
vi tính KTS với tư cách là một phương tiện sáng tạo) [40] của tác giả A.
Micheal Noll đề cập đến việc sử dụng máy vi tính trong thực hành nghệ thuật
như là một phương tiện sáng tạo nghệ thuật. Ông cố gắng tìm hiểu những khả
năng của máy tính được ứng dụng trong nghệ thuật như là một “môi trường
nghệ thuật”, đồng thời cũng đưa ra một số dự đoán về sự phát triển của nghệ
thuật trong tương lai.
Tác giả Frank Dietrick trong nghiên cứu Visual Intelligence: The first
Decade of Computer Art (1965 - 1975) (Thị giác thông minh: Thập niên đầu
tiên của nghệ thuật máy tính (1965 – 1975)) [62] bàn nhiều về sự phát triển
của nghệ thuật đồ họa vi tính trong những năm thập niên 60 của thế kỷ XX.
Thông qua đó, tác giả cũng phần nào giới thiệu được những hoạt động nghệ
thuật KTS của một số nghệ sĩ được cho là những người tiên phong trong thời
kỳ đầu của nghệ thuật vẽ tranh KTS trên thế giới.
Nổi bật trong hướng nghiên cứu lý luận nghệ thuật ĐPT là Media


8

Aesthetics - Aesthetics Theory (Lý thuyết thẩm mỹ - Thẩm mỹ của phương

chúng và quảng cáo. Tài liệu này cũng đề cập đến việc sử dụng hình ảnh thị
giác để làm giàu nhận thức của người xem...
Trong lĩnh vực bản quyền tác phẩm. Bài viết Copyright Law in the
Digital Age (Luật bản quyền trong kỷ nguyên KTS) [74] của Jordan M.
Blanke bàn về thực trạng pháp luật nói chung về quyền tác giả đối với các
công trình, tác phẩm nghệ thuật KTS hoặc tác phẩm được số hóa trên các
phương tiện truyền thông khác nhau…
Nghiên cứu của William Vaughan: History of Art in the Digital Age:
Problems and Possibilities (Lịch sử nghệ thuật trong kỷ nguyên KTS: những
vấn đề và khả năng) [98] nhằm mục đích cung cấp một tổng quan về sự tác
động của máy vi tính trong việc nghiên cứu lịch sử nghệ thuật. Tài liệu này
cũng ảnh hưởng đến việc nghiên cứu hình ảnh, xem xét cả những tiềm năng
của hình ảnh KTS làm nảy sinh những hình thức nghiên cứu và phân tích mới
trong lĩnh vực nghiên cứu lịch sử nghệ thuật, cũng như những cơ hội mới nổi
lên thông qua hệ thống mạng toàn cầu internet.
Công trình nghiên cứu của Boden, M. Aesthetics and Interactive Art
(Thẩm mỹ và nghệ thuật tương tác) [48] đưa ra và khẳng định tính mới trong
nghệ thuật tương tác cũng như tầm quan trọng của nó đối với lịch sử nghệ
thuật, bảo trợ và thực hành nghệ thuật. Qua đó là cơ sở để tiếp tục phát triển
một số lý thuyết mở rộng trong nhiều lĩnh vực của nghệ thuật: từ hình thức
nghệ thuật hội họa đến nghệ thuật tương tác.
Bài báo khoa học của Daniel Palmer: Embodying Judgement: New
Media and Art Criticism (Đánh giá tổng quan: Phương tiện truyền thông mới
và phê bình nghệ thuật) [53] là một phần của một dự án lớn nhằm khám phá
ra những tác động của các nghệ sĩ sử dụng công nghệ truyền thông (bao gồm
cả video, nhiếp ảnh và các phương tiện truyền thông KTS) trong tiếp nhận
nghệ thuật.


10

11

Bài viết Creating continuity between computer art history and
contemporary art (Sự sáng tạo liên tục giữa lịch sử nghệ thuật máy tính và
nghệ thuật đương đại) [49] của Bruce Wands tìm hiểu phương thức tạo ra sự
liên tục giữa lịch sử nghệ thuật máy tính với các nghệ sĩ thế hệ mới, những
người lao động nghệ thuật trên máy tính một cách tự nhiên nhằm tạo nên nền
nghệ thuật KTS phát triển như hiện nay.
Trong tài liệu nghiên cứu The Computer as a dynamic medium (Máy vi
tính như là một phương tiện động) [88] của Nick Lambert đề cập đến không
gian đại diện trong các màn hình máy tính. Tác giả chỉ ra rằng hình ảnh máy
tính là kết quả của một quá trình hiển thị động. Hiển thị hình ảnh trong nghệ
thuật máy tính rất linh hoạt trong không gian ảo của máy tính.
Báo cáo khoa học Transitioning to a Digital World - Art History, Its
Research Centers, and Digital Scholarship (Chuyển đổi sang một thế giới
KTS - Lịch sử Nghệ thuật, Trung tâm Nghiên cứu Lịch sử Nghệ thuật, và học
thuật KTS) [58] kết hợp các cuộc phỏng vấn với nghiên cứu các trang web
của trung tâm nghiên cứu đã đưa ra một số chủ đề: vai trò của các trung tâm
nghiên cứu lịch sử nghệ thuật trong việc nghiên cứu lịch sử nghệ thuật KTS;
những thách thức trong giảng dạy lịch sử nghệ thuật, nghiên cứu và học thuật
trong lĩnh vực KTS; truy cập các công cụ KTS, dịch vụ và các nguồn lực cần
thiết cho những nghiên cứu; phương pháp sư phạm KTS trong lịch sử nghệ
thuật; vai trò và giới hạn của xuất bản KTS và những đổi mới trong lĩnh vực
này; vai trò của các tổ chức tài trợ nghệ thuật trong việc hỗ trợ hoạt động
nghiên cứu lịch sử nghệ thuật KTS.
Công trình nghiên cứu của Anna Bentkowska-Kafel, Trish Cashen và
Hazel Gardiner: Digital Art History, A Subject in Transition, Computers and
the History of Art (Lịch sử Nghệ thuật KTS, một chủ đề trong quá trình
chuyển đổi, Máy tính và Lịch sử Nghệ thuật) [42] khẳng định rằng nghệ thuật




13

trong kỷ nguyên KTS. Tác giả tập trung làm rõ sự hình thành và phát triển
của mỹ thuật ĐPT, những đặc trưng cơ bản của mỹ thuật ĐPT trên thế giới và
ở Việt Nam... Ngoài ra, tác giả luận án cũng đóng góp và thực hiện một số bài
viết nghiên cứu về nghệ thuật ĐPT ở Việt Nam: bài tham luận Thiết kế đồ họa
– Giảng dạy thiết kế đồ họa trong kỷ nguyên KTS [36] đề cập đến thiết kế đồ
họa của Việt Nam khi bước vào thế kỷ XXI. Qua đó dự báo trước được xu
hướng vận động cũng như sự phát triển của đồ họa Việt Nam trong kỷ nguyên
KTS. Bài viết cũng đề xuất những kiến nghị cũng như những giải pháp nhằm
định hướng cho các trường đào tạo thiết kế đồ họa điều chỉnh cách giảng dạy
và học tập thiết kế đồ họa phù hợp với tình hình mới của Việt Nam khi bước
vào thế kỷ XXI. Các bài tham luận Giảng dạy mỹ thuật truyền thông ĐPT ở
Việt Nam trong Kỷ nguyên KTS [5], Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu
quả đào tạo thiết kế mỹ thuật ĐPT ở Việt Nam hiện nay [38], Một số vấn đề
về ứng dụng Công nghệ KTS trong Công nghệ dạy và học thiết kế ở Việt Nam
hiện nay [6] nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề giảng dạy mỹ thuật ĐPT ở Việt
Nam trong kỷ nguyên KTS. Thực trạng và giải pháp để phát triển đội ngũ họa
sĩ mỹ thuật ĐPT ở Việt Nam. Ứng dụng Công nghệ khoa học kỹ thuật, đặc
biệt là CNTT trong giảng dạy và học tập mỹ thuật ĐPT... Bài viết Đặc trưng
mỹ thuật ĐPT đề cập đến những đặc trưng của mỹ thuật ĐPT ở Việt Nam,
những ưu điểm và hạn chế của những đặc trưng này trong xã hội nói chung
cũng như trong nghệ thuật tạo hình nói riêng. Bài viết Ảnh hưởng của mỹ
thuật ĐPT đến nghệ thuật thị giác đề cập đến phần còn thiếu trong hoạt động
lý luận phê bình nghệ thuật Việt Nam khi chưa có nhận định, đánh giá cũng
như sự định hướng cần thiết cho sự phát triển của nghệ thuật thị giác ở Việt
Nam trong kỷ nguyên KTS. Bài viết khẳng định vai trò, đồng thời phân tích
làm rõ sự ảnh hưởng của mỹ thuật ĐPT trong dòng chảy chung của Mỹ thuật

của họa sĩ trong quá trình sáng tác và thể hiện tranh KTS trong thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ở Việt Nam.


15

Bên cạnh đó, luận án cũng luận bàn về phương thức tạo hình tranh KTS
ở Việt Nam trong quá trình sáng tạo nghệ thuật, nhằm đáp ứng nhu cầu thẩm
mỹ của xã hội và góp phần xây dựng nền mỹ thuật Việt Nam phát triển.
Ngoài ra, trên cơ sở phân tích điều kiện văn hóa, xã hội, nghệ thuật
Việt Nam, luận án dự đoán sự phát triển của tranh KTS ở Việt Nam trên cơ sở
khoa học và khách quan. Tạo cơ sở tiền đề cho những nghiên cứu chuyên sâu
hơn của các nhà nghiên cứu phê bình, lý luận nghệ thuật về lĩnh vực nghệ
thuật ĐPT nói chung và tranh KTS nói riêng ở Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: tranh KTS ở Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu: tranh KTS ở Việt Nam (nghiên cứu trường hợp
ứng dụng phương tiện KTS trong quá trình vẽ tranh).
Giới hạn về thời gian: nghiên cứu từ năm 2000 đến nay (đầu thế kỷ
XXI đến nay).
Giới hạn về không gian: tập trung nghiên cứu ở hai trung tâm lớn về
kinh tế, văn hóa, nghệ thuật của Việt Nam là Hà Nội và TP. HCM.
Tài liệu nghiên cứu: tranh hội họa giá vẽ và tranh KTS ở Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài thuộc chuyên ngành Lý luận và Lịch sử mỹ thuật. Luận án
nghiên cứu dựa trên cơ sở mỹ thuật học, thông qua nghiên cứu đa ngành, liên
ngành như: văn hóa, lịch sử, khoa học, nghệ thuật, mỹ thuật… Quá trình
nghiên cứu thông qua các phương pháp chủ yếu sau:
Nghiên cứu văn bản, tài liệu: tham khảo, phân tích những công trình
nghiên cứu, bài viết, bài tham luận, bài báo khoa học… trong và ngoài nước

biểu hiện trong toàn bộ tính cụ thể của nó và theo một trật tự thời gian nhất
định. Nếu đi theo dấu vết của lịch sử nghệ thuật KTS sẽ có cái nhìn trung thực
về tranh KTS ở Việt Nam. Từ đó sẽ phát hiện ra quy luật phát triển và những
đặc điểm tạo hình trong tranh KTS ở Việt Nam.


17

Nghiên cứu khảo sát: Khảo sát thông qua phỏng vấn (Trực tiếp các tác
giả hoặc thông qua điện thoại, hoặc email). Khảo sát trên internet (thông qua
các website và diễn đàn nghệ thuật, sử dụng những đường dẫn liên kết người
tham gia khảo sát đến trang web chứa các bảng câu hỏi khảo sát).
Thể nghiệm: Việc vẽ tranh KTS nhằm nghiên cứu những thao tác của
họa sĩ trong điều kiện sáng tác thực tế có thể giúp bổ sung thêm nhận thức về
những phương thức vẽ tranh KTS một cách hoàn thiện hơn. Tác giả luận án
cố gắng tham gia sáng tác tranh KTS (ứng dụng phương tiện KTS trong quá
trình vẽ tranh) nhằm bổ sung thêm những nội dung mang tính thực tiễn cho đề
tài nghiên cứu.
6. Giả thuyết nghiên cứu
Ngày nay, khi họa sĩ sử dụng máy tính như là một phương tiện, công cụ
để hỗ trợ sáng tác nghệ thuật, đã làm nảy sinh vấn đề rằng liệu tranh KTS có
phải là nghệ thuật hay không? Giả thiết rằng nếu tranh KTS cũng được coi là
một dạng nghệ thuật, vậy thì đặc trưng của nó là gì? Hơn thế nữa, CNTT hiện
nay đang phát triển rất nhanh trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Nó đã ảnh
hưởng đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trong đó có nghệ thuật. Giả thiết
rằng ở Việt Nam hiện nay có nhiều người vẽ tranh KTS, vậy tranh KTS ở
Việt Nam có những khuynh hướng sáng tác và đặc trưng nào? Những phương
thức vẽ nào có thể làm cho tranh KTS trở nên sống động hơn, hấp dẫn hơn, và
có giá trị nghệ thuật cao? Cần có những định hướng và giải pháp nào nhằm
phát triển tranh KTS ở Việt Nam?

Mỗi nghệ sĩ sẽ có những chọn lựa riêng về phương tiện biểu đạt, hình thức
cũng như kỹ thuật thể hiện nhằm tạo ra những hình ảnh thị giác độc đáo.
Thuật ngữ Hội họa giá vẽ: Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, hội họa
giá vẽ là loại tranh thường được tiến hành vẽ trên giá, do đấy thành tên gọi.
Đó là loại hình hội hoạ thịnh hành từ thế kỷ XV ở Châu Âu sau khi thoát li
quan hệ phụ thuộc với kiến trúc, bắt đầu bằng sự thể nghiệm những bố cục


19

hoàn chỉnh trên bề mặt chữ nhật, hình vuông... và lấy các thành của khung
làm ranh giới không gian trong tranh với thế giới bên ngoài. Tranh giá vẽ
thường là cỡ nhỏ hoặc trung bình, có thể vận chuyển, treo gỡ hay xê dịch tuỳ
theo yêu cầu, tạo thuận tiện cho công việc trưng bày [15].
Thuật ngữ Nghệ thuật đa phương tiện (multimedia art): Theo từ điển
Webster: nghĩa từ điển của “Multimedia” = “Multi” + “media”. Trong đó
Multi-: (tiền tố) mang nghĩa “nhiều”, “đa”. (Nghĩa Latin: Số đông, quần
chúng). Media (danh từ số nhiều): Phương tiện, dụng cụ; hệ thống truyền
thông; (The media) Báo chí. Media trong một số trường hợp có thể có nghĩa
là “Máy điện toán đa phương tiện tiếp nhận và tái tạo văn bản, hình ảnh, âm
thanh… như máy quay video, máy thu âm, sách điện tử…” [1, tr.8].
Cách dùng từ “Media”: Khi nói đến báo chí, media thường được coi là
danh từ số ít, vì nó không phải là số nhiều của “medium”: thuật ngữ này bắt
nguồn từ khái niệm “mass media”, có nghĩa là ngành kinh doanh liên lạc dùng
nhiều phương tiện như: tờ báo, truyền hình, phim, và tạp chí. Ý nghĩa
“medium” này có số nhiều là “media”. Trong các trường hợp khác, “media”
là số nhiều của “medium”, hoặc nói đến chất pha màu trong nghệ thuật,
phương tiện dữ liệu (CD, DVD,...), dụng cụ chơi nhạc…
Như vậy, “Multimedia” có nghĩa là: “đa phương tiện”. Tuy nhiên đó
mới chỉ là nghĩa từ điển (sự kết hợp máy móc của những từ đơn nghĩa). Trong

táo bạo của các nghệ sĩ Châu Âu thế kỷ XIX. Đặc biệt từ nửa sau thế kỷ XX,
nghệ thuật đồ họa ảnh hưởng mạnh mẽ trở lại tới hội họa. Các họa sĩ hiện đại
thường dung hợp rất tinh tế, đầy gợi cảm tính đồ họa với tính hội hoạ trong
một tác phẩm. Từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ II, phạm vi sáng tạo của đồ
họa đã được mở rộng sang các loại hình trang trí ứng dụng: áp phích, ấn
phẩm, trang trí hàng dệt, thương nghiệp... và còn phát huy vai trò trong các
loại hình nghệ thuật thị giác khác nhau như sân khấu, nhiếp ảnh, điện ảnh,
video... [15]


21

Thuật ngữ Ngôn ngữ tạo hình hội họa: là hệ thống các yếu tố thị giác
của nghệ thuật thị giác: điểm chấm, đường nét, hình mảng, khối, không gian,
ánh sáng, màu sắc, họa tiết, chất liệu… và những quy tắc, nguyên lý kết hợp,
sắp xếp, bố cục các yếu tố thị giác này tạo nên một tác phẩm hội họa (văn bản
thẩm mỹ). Nó tạo nên một hệ thống ký hiệu dùng làm phương tiện biểu đạt,
thể hiện nội dung tư tưởng, chủ đề của các tác phẩm hội họa. Nghệ thuật hội
họa biểu thị và truyền đạt những cảm xúc thẩm mĩ của họa sĩ “chuyển tải” đến
người xem thông qua ngôn ngữ tạo hình hội họa.
Trong hội họa, quá trình sáng tạo của họa sĩ chính là quá trình “soạn
thảo văn bản thẩm mỹ” từ những tín hiệu thị giác cơ bản. Họa sĩ tiến hành bố
cục, sắp xếp, chia cắt, chiếm lĩnh không gian của bức tranh bằng những yếu tố
thị giác nhằm “mã hóa” những thông tin và ý tưởng của mình cần truyền tải
đến người xem. Tuy nhiên, đối với người xem thì quá trình xem và cảm nhận
tác phẩm chính là quá trình “giải mã” thông tin. Thông qua đó họ có thể
“hiểu” những thông điệp của họa sĩ dựa trên ngôn ngữ của các yếu tố thị giác
được sắp xếp bố cục theo ý đồ của họa sĩ.
Thuật ngữ Nghệ thuật kỹ thuật số (Digital art): Là một thuật ngữ
chung để chỉ các tác phẩm nghệ thuật có sử dụng công nghệ KTS trong sáng

[PL.2, H.1], [PL.2, H.120]. Những chương trình phần mềm hỗ trợ vẽ KTS
luôn được cải thiện nhằm tạo ra hiệu ứng gần với việc họa sĩ vẽ bằng những
phương tiện vẽ truyền thống qua nhiều hiệu ứng bề mặt của cọ vẽ và màu vẽ.
9. Cấu trúc của luận án
Luận án có độ dài phần chính văn là 146 trang (kể cả Lời cam đoan,
Danh mục chữ viết tắt, Mục lục, Tài liệu tham khảo và Danh sách các công
trình đã công bố). Để minh họa và hỗ trợ thêm cho nội dung nghiên cứu của
luận án, phần Phụ lục cũng được đánh số trang gồm các bảng: Bảng giải thích
thuật ngữ, Bảng hỏi, Hình ảnh minh họa. Ngoài phần Mở đầu (19 trang), phần
Kết luận (04 trang), phần Tài liệu tham khảo (12 trang) và Phụ lục (70 trang).


23

Nội dung nghiên cứu của đề tài được cấu trúc gồm có 03 Chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về tranh KTS ở Việt Nam: (36 trang).
Chương 2: Đặc trưng của tranh KTS ở Việt Nam: (39 trang).
Chương 3: Luận bàn về phương thức biểu đạt tranh KTS ở Việt Nam
hiện nay: (31 trang).



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status