DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Chữ viết tắt
BLHS
CBPT
CTTP
CTTPHT
CTTPVC
PT
PTCĐ
TNHS
TP
TP.HCM
VKS
VKSND
Nội dung viết tắt
1.4 PHẠM TỘI HOÀN THÀNH..............................................................................................8
1.5 TỰ Ý NỬA CHỪNG CHẤM DỨT VIỆC PHẠM TỘI.....................................................8
1.5.1 Điều kiện của tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội ...............................................8
1.5.2 Trách nhiệm hình đối với trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội ..........9
Phần 3 : Kiến thức vận dụng.............................................................................. 10
3.1 Tình huống 1 .........................................................................................................11
3.2 Tình huống 2 .........................................................................................................12
3.3 Tình huống 3 .........................................................................................................14
Phần 4: Kết luận................................................................................................ 188
Tài Liệu Tham Khảo.............................................. Error! Bookmark not defined.
2
Phần 1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Tội phạm là một hiện tượng tiêu cực nhất trong xã hội, xuất hiện cùng với sự ra
đời của Nhà nước và pháp luật, cũng như khi xã hội phân chia thành giai cấp đối
kháng [1]. Để bảo vệ các quyền lợi của giai cấp cầm quyền, Nhà nước đã quy định những
hành vi nguy hiểm cho xã hội nào là tội phạm và áp dụng trách nhiệm hình sự đối với
người nào thực hiện các hành vi đó nên tội phạm lại mang bản chất là một hiện tượng
pháp lý. Là hiện tượng tiêu cực mang thuộc tính xã hội - lịch sử - pháp lý, tội phạm luôn
chứa đựng trong mình đặc tính chống lại Nhà nước, chống lại xã hội, đi ngược với lợi
ích chung của cộng đồng, trật tự xã hội, xâm phạm đến quyền, tự do và các lợi ích hợp
pháp của con người. Tội phạm diễn ra ở các giai đoạn khác nhau thì mức độ nguy hiểm
cho xã hội cũng khác nhau.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Nam đã phân chia quá trình thực hiện tội phạm thành 3 giai đoạn: chuẩn bị phạm tội,
phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành.
Chúng ta có thể minh họa quá trình thực hiện tội phạm theo sơ đồ sau:
Tội phạm phải chịu trách nhiệm hình sự
A đầu độc B
Mua thuốc
Bỏ thuốc vào ly
B chết
Phai tang xác B
TP hoàn
TP kết thúc
bia
Ý định phạm tội Chuẩn bị PT
Phạm tội chưa đạt
thành
Các giai đoạn thực hiện tội phạm chỉ đặt ra với các tội thực hiện với hình thức lỗi
cố ý trực tiếp. Bởi vì đội với các tội thực hiện với lỗi vô ý hoặc cố ý gián tiếp thì không
thể quy định có “chuẩn bị”, hoặc “chưa đạt” để buộc họ chịu trách nhiệm hình sự về
những điều chưa xảy ra và họ củng không mong muốn xảy ra. Đồng thời, với các tội
thực hiện với những hình thức lỗi này TNHS chỉ đặt ra khi có hậu quả xảy ra trên thực tế
(trừ khi vô ý làm mất tài liệu Nhà nước).
Sửa soạn công cụ phương tiện
Tạo ra các điều kiện cần thiết khác nhau: Chuẩn bị kế hoạch phạm tội, thăm dò
quy luật sinh hoạt của người bị hại, tìm người giúp đỡ, tìm nơi cất giấu tang vật của tội
phạm…
1.2.2 Trách nhiệm hình sự trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội
Về cơ sở khoa học để xác định một người phải chịu TNHS ở giai đoạn chuẩn bị
phạm tội (CBPT). Mặc dù hành vi đã thực hiện ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội chưa tác
động vào đối tượng tác động của tội phạm để gây thiệt hại cho xã hội nhưng họ vẫn phải
chịu TNHS. Bởi vì:
Bản chất của chuẩn bị phạm tội là hành vi tiền đề tạo điều kiện cho việc thực
hiện tội phạm. Hành vi này luôn hướng tới việc đạt mục đích nhất định. Chính nó quyết
định tội phạm xảy ra hay không và xảy ra như thế nào.
Một tội phạm khi thực hiện có sự chuẩn bị thì tính nguy hiểm cho xã hội của nó
cao hơn so với trường hợp không có sự chuẩn bị.
Trong ý thức chủ quan của can phạm là mong muốn tiếp tục thực hiện tội phạm
đến cùng.
Việc dừng lại ở giai đoạn chuẩn bị CBPT do nguyên nhân khách quan ngoài ý
muốn.
5
Các căn cứ pháp lý để xác định TNHS trong CBPT được quy định như sau :
1/ Điều 17 BLHS quy định: “CBPT phải chịu trách nhiệm hình sự về tội rất
nghiêm trọng, hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng”.
2/ Khoản 1, Điều 52 BLHS quy định: “Đối với chuẩn bị phạm tội, hình phạt
được quyết định theo các điều của bộ luật này về các tội phạm tương ứng tùy theo tính
chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, mức độ thực hiện ý định phạm tội và
những tình tiết khác khiến tội phạm không thực hiện được đến cùng”.
3/ Khoản 2, Điều 52 BLHS quy định: “Nếu điều luật được áp dụng có quy định
trọng, hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng”.
- Khoản 1, Điều 52 BLHS quy định: “Đối với chuẩn bị phạm tội, hình phạt được
quyết định theo các điều của bộ luật này về các tội phạm tương ứng tùy theo tính chất,
mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, mức độ thực hiện ý định phạm tội và những
tình tiết khác khiến tội phạm không thực hiện được đến cùng”.
- Khoản 2, Điều 52 BLHS quy định: “Nếu điều luật được áp dụng có quy định
hình phạt cao nhất là tù chung thân, tử hình thì mức phạt cao nhất được áp dụng với
CBPT là không quá 20 năm tù. Nếu có tù thời hạn thì mức hình phạt không quá ½ mức
phạt tù mà điều luật này quy định”.
1.3.2 Phân loại các trường hợp tội phạm chưa đạt
Căn cứ vào thái độ tâm lý của người phạm tội đối với việc chưa đạt
Có 2 loại PTCĐ như sau :
- Phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành: là trường hợp phạm tội chưa đạt trong đó vì
những nguyên nhân khách quan mà người phạm tội chưa đạt chưa thực hiện hết các
hành vi cho là cần thiết để gây ra hậu quả. Chẳng hạn: trộm cắp tài sản nhưng khi mở
cửa vào nhà chưa kịp lấy tài sản thì bị phát hiện và bắt giữ.
-
Phạm tội chưa đạt đã hoàn thành: là trường hợp phạm tội chưa đạt mà người
phạm tội đã thực hiện hết các hành vi cho là cần thiết để gây ra hậu quả nhưng do
nguyên nhân khách quan mà hậu quả không xảy ra. Ví dụ: mở được cửa vào trong nhà
lấy tài sản nhưng tài sản không còn ở đó nữa.
Căn cứ vào tính chất đặc biệt của nguyên nhân dẫn đến việc chưa đạt
- Điều 17 BLHS quy định: “CBPT phải chịu trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm
trọng, hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng”.
- Khoản 1, Điều 52 BLHS quy định: “Đối với chuẩn bị phạm tội, hình phạt được
quyết định theo các điều của bộ luật này về các tội phạm tương ứng tùy theo tính chất,
mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, mức độ thực hiện ý định phạm tội và những
tình tiết khác khiến tội phạm không thực hiện được đến cùng ”.
1.5.1 Điều kiện của tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội
Về thời điểm: Chỉ có thể xảy ra ở giai đoạn phạm tội và phạm tội chưa đạt chưa
hoàn thành
Ví dụ: Nếu A vào nhà B lấy ti vi mang ra khỏi nhà của B, mặc dù không bị phát
hiện nhưng A quyết định đem trả chiếc ti vi ở vị trí cũ. Trường hợp này không được coi
là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội. Vì tội phạm bắt đầu dừng lại sau thời điểm
tội phạm hoàn thành. Do đó, A vẫn phải chịu TNHS về tội trộm cắp tài sản, tuy nhiên A
được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tự nguyện khắc phục hậu quả.
Về tâm lý: Đối với việc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, việc dừng lại
tội phạm ở những thời điểm trên tự nguyện và dứt khoát.
8
- Tự nguyện: Tức là do động lực bên trong thúc đẩy chứ không phải là do nguyên
nhân khách quan chi phối.
- Dứt khoát: Tức là phải chấm dứt việc thực hiện tội phạm một cách triệt để.
1.5.2 Trách nhiệm hình đối với trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc
phạm tội
Trách nhiệm này được quy định tại điều 19 BLHS, đó là:
-
Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn TNHS về tội định thực
hiện.
-
Nếu hành vi thực tế đã thực hiện thỏa mản đầy đủ các yếu tố CTTP của một tội
khác thì người đó phải chịu TNHS về tội đã cấu thành.
Ví dụ: A có ý định giết B bằng cách dùng dao đâm. Khi A đâm nhiều nhát vào B,
Bài Làm
3.1.1 Hãy xác định giai đoạn phạm tội của Tuấn
Các giai đoạn thực hiện tội phạm là các mức độ thực hiện tội phạm cố ý, bao
gồm chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành. Trong đó:
- Chuẩn bị phạm tội là giai đoạn trong đó người phạm tội có hành vi tạo ra
những điều kiện cần thiết chon việc thực hiện tội phạm nhưng chưa bắt đầu thực hiện
tội phạm đó.
- Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến
cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội.
10
- Tội phạm hoàn thành là trường hợp hành vi phạm tội đã thỏa mãn hết các dấu
hiệu được mô tả trong CTTP.
Phân tích các dấu hiệu phạm tội của Tuấn ta thấy:
Thứ nhất, Tuấn đã bắt đầu thực hiện tội phạm, biểu hiện ở chỗ Tuấn đã thực
hiện hành vi khách quan được mô tả trong CTTP của tội giết người và tội cướp tài sản.
Trước hết, đối với tội giết người, Tuấn đã thực hiện hành vi tước đoạt tính mạng người
khác, cụ thể là Tuấn rút búa đập thẳng xuống đầu ông Út. Đã có hành vi “đập” cho nên
dù hậu quả có xảy ra hay không thì vẫn có thể kết luận người phạm tội ở đây là Tuấn đã
thực hiện tội phạm. Đối với tội cướp tài sản, Tuấn có ý định chiếm đoạt tài sản của ông
Út và trên thực tế, Tuấn đã giả danh là hành khách có nhu cầu đi xa và chủ động gặp
ông Út. Tuấn đi đến nhà hát thành phố và thuê ông Nguyễn Văn Út chở đến xã Lê Minh
Xuân, Bình Chánh, để tìm người quen với giá 25.000 đồng.
Thứ hai, Tuấn đã thực hiện tội phạm được đến cùng, hành vi của Tuấn thoả mãn
hết các dấu hiệu thuộc mặt khách quan trong CTTP của tội giết người và tội cướp tài
sản. Hành vi của Tuấn có mục đích (chiếm đoạt xe máy của ông Út), động lực thúc đẩy,
lỗi của Tuấn là cố ý, đã có hành vi nguy hiểm diễn ra trong thực tế, có hậu quả xảy ra:
ông choáng váng ngã xuống đường và ông Út đã bị chết, xe máy của ông Út cũng bị
hiểm cho xã hội. Theo Điều 18 Bộ Luật Hình sự: “…Người phạm tội chưa đạt phải
chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt.”
Như vậy, đối chiếu với trường hợp của Tuấn thì có thể khẳng định Tuấn có
phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người. Tuy nhiên cần chú ý là, vì Tuấn
phạm tội chưa đạt nên TNHS của Tuấn sẽ được áp dụng theo Khoản 3 Điều 52 Bộ Luật
Hình sự về Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa
đạt: “Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu điều luật được áp dụng có quy định
hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, thì chỉ có thể áp dụng các hình phạt
này trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt
không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định.”
3.2 Tình Huống 2
Vụ án Lê Văn Luyện[2]
3.2.1 Quy trình gây án
Vì lỡ "cầm" mất cái xe máy đi mượn, mang tiền tiêu mất nên Luyện không còn
tiền để chuộc xe. Đó là cái động cơ tiến hành vụ cướp tiệm vàng.
Theo lời khai của bị cáo, vào rạng sáng 24/8, khi trời vẫn còn mờ tối, Luyện nấp cách
tiệm vàng một quãng, mắt đảo nhìn quanh. Khi không thấy bóng người, Lê Văn Luyện
nhanh chóng đột nhập lên tầng ba ngôi nhà. Công cụ của Luyện là một con dao nhọn và
một con dao phớ. Sau khi dùng đèn pin soi tầng ba không tìm thấy gì, Luyện xuống tầng
[2]
Vụ án Lê Văn Luyện: là một vụ án giết người cướp của xảy ra tại tiệm vàng Ngọc Bích (Phương Sơn, Lục
Nam) ngày 24 tháng 8 năm 2011. Trong vụ án này, sát thủ Lê Văn Luyện đã giết chết cả vợ chồng chủ tiệm vàng
cùng con 18 tháng tuổi. Con gái lớn của họ 8 tuổi bị chém đứt tay. Đây là vụ án rất nghiêm trọng gây xôn xao
trong dư luận và ảnh hưởng đến trật tự an ninh tại địa phương cũng như những ý kiến về cần sửa đổi luật phòng
chống tội phạm
12
cha đẻ Lê Văn Miên chịu 48 tháng tù do che giấu Lê Văn Luyện. Anh họ Trương Thanh
Hồng và Lê Thị Định bị phạt lần lượt 30 tháng, 15 tháng do tòng phạm. Lê Thành Nghi
bị phạt 15 tháng, Trương Văn Hợp 12 tháng và Dương Thị Lược 9 tháng vì không muốn
13
phản bội, tố giác Luyện. Mẹ đẻ của Luyện thì không bị khởi tố. Trong quá trình xét xử
có nghi vấn đặt ra liệu Lê Văn Luyện có đồng phạm hay không. Tuy nhiên hội đồng xét
xử đã quyết định rằng Luyện hành động một mình.
3.3 Tình huống 3
Vụ án Thảm sát 6 người ở Bình Phước (sáng ngày 07/07/2015)
3.3.1 Quy trình gây án
Nguyễn Hải Dương có quan hệ tình cảm với Lê Thị Ánh Linh (22 tuổi), con gái
ông Lê Văn Mỹ (xã Minh Hưng, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước) nhưng bị gia
đình ông Mỹ ngăn cản. Dương lên kế hoạch giết gia đình ông Mỹ để trả thù.
Để chuẩn bị cho hành vi phạm tội, Dương vạch kế hoạch mua súng bắn bi với giá
6 triệu đồng, súng điện giá 2 triệu đồng, dao Thái Lan (dài 30cm), dao bấm lưỡi (dài
7cm), mua sim rác để liên lạc, mua găng tay, khẩu trang bịt mặt, mượn xe máy của chị
T.T.C (dì của Dương), lấy 10 dây rút nhựa, băng keo dính để gây án.
Trước đó đêm 5/7, Thoại cùng Dương đến nhà ông Mỹ thực hiện kế hoạch nhưng
cháu Vỹ không mở cổng.
Trưa 6/7, Dương hẹn Tiến uống cà phê và rủ tham gia cướp tài sản của một gia
đình giàu có ở huyện Chơn Thành (Bình Phước). Đang túng tiền tiêu xài, Tiến đồng ý
tham gia ngay.
Để đột nhập vào nhà ông Mỹ, Dương biết trước nhà ông Mỹ đều có khóa trong
nên Dương đã lừa Vỹ (cháu ông Mỹ) là sẽ cho tiền và quà để Vỹ xuống mở cửa nhà ông
Mỹ.
Theo đúng kế hoạch đã đặt ra, 2h ngày 7/7, Dương và Tiến đi xe máy đến cổng
nhà ông Mỹ và nhắn tin cho Vỹ ra mở cổng. Khi Vỹ ra mở cổng, Dương và Tiến đã
khống chế Vỹ và ra tay hạ thủ.
+ Giai đoạn chuẩn bị phạm tội: Là khi Dương vạch kế hoạch mua súng bắn bi với giá 6
triệu đồng, súng điện giá 2 triệu đồng, dao Thái Lan (dài 30cm), dao bấm lưỡi (dài
7cm), mua sim rác để liên lạc, mua găng tay, khẩu trang bịt mặt, mượn xe máy của chị
T.T.C (dì của Dương), lấy 10 dây rút nhựa, băng keo dính để gây án.
Trưa 6/7, Dương hẹn Tiến uống cà phê và rủ tham gia cướp tài sản của một gia đình
giàu có ở huyện Chơn Thành (Bình Phước). Đang túng tiền tiêu xài, Tiến đồng ý tham
gia ngay.
+ Giai đoạn phạm tội chưa đạt: Đêm 05/07 Nguyễn Hải Dương cùng Trần Đình
Thoại đến nhà ông Mỹ thực hiện kế hoạch nhưng Vỹ không mở cửa Nguyễn Hải
Dương không thực hiện được hành vi phạm tội.
+ Giai đoạn phạm tội hoàn thành: Tiến cùng Dương trói các nạn nhân, tra hỏi nơi
cất giấu tiền, tiếp theo Tiến siết cổ lần lượt các nạn nhân để cho Dương đâm chết các
nạn nhân. Sau đó, Dương và Tiến thực hiện xong hành vi của mình là thảm sát 6 mạng
người và cướp đoạt 4 triệu đồng và 1 số đô la Mỹ sau đó thoát khỏi hiện trường.
Phân tích các giai đoạn phạm tội của Trần Đình Thoại
15
+ Giai đoạn chuẩn bị phạm tội: Thoại mua dao Thái Lan là hung khí trực tiếp cho
Dương gây án.
+ Giai đoạn phạm tội chưa đạt: Đêm 05/07 Nguyễn Hải Dương cùng Trần Đình
Thoại đến nhà ông Mỹ thực hiện kế hoạch nhưng Vỹ không mở cửa.
+ Phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành: Sau chuyến đi bất thành vào rạng sáng 5/7,
Thoại từ chối nhưng vẫn mua dao cho Dương.
3.3.3 Xét xử
Theo đại diện VKS tỉnh Bình Phước cáo trạng truy tố ba bị can liên quan vụ
thảm sát gồm: Nguyễn Hải Dương (24 tuổi, quê An Giang, tạm trú tại huyện Hóc Môn,
TP.HCM), Vũ Văn Tiến (tên gọi khác là Bé, 24 tuổi, nguyên quán Bình Phước, tạm trú
tại huyện Hóc Môn, TP.HCM) và Trần Đình Thoại (27 tuổi, quê Vĩnh Long, tạm trú tại
Q. Gò Vấp, TP.HCM).
can quá lớn, cộng thêm lòng hận thù, ích kỷ trong tình yêu. Đây là nguyên nhân cơ bản
để các bị can thực hiện tội phạm một cách quyết liệt.
Sở dĩ các bị can phải giết hết tất cả là để bịt đầu mối, che giấu tội phạm để cơ quan điều
tra không phát hiện được hành vi phạm tội. Các bị can tham gia cùng Dương là vì tiền,
vì lòng tham.
Về một số người liên quan mà cáo trạng nêu, đại diện VKS nhận định không đủ căn cứ
để khởi tố. Đại diện cơ quan điều tra cho biết, từ các dấu vết, chứng cứ cùng lời khai
của bị can khẳng định, chỉ có 3 bị can thực hiện hành vi giết người.
Hình phạt cho các bị cáo: Ngày 17/12/2015, Tòa án Nhân dân tỉnh Bình Phước tuyên
Dương và Tiến mức án tử hình tội Giết người và Cướp tài sản; cùng 2 tội danh trên,
Thoại lĩnh 16 năm tù.
17
Phần 4
KẾT LUẬN
Như vậy, với việc tội phạm thực hiện hành vi phạm pháp của mình dừng lại hay
hoàn thành ở giai đoạn phạm tội nào sẽ bị truy tố trách nhiệm tùy theo mức độ của hành
vi đó.Những hành vi của tội phạm sẽ được phân tích thành các giai đoạn phạm tội và
dựa trên các dấu hiệu cấu thành tội phạm để đưa ra các hình thức xét xử, hình phạt phù
hợp với mức độ nghiêm trong của vụ án.
Qua phân tích các vụ án trên ta thấy rõ các giai đoạn phạm tội của từng tội phạm,
hiểu rõ hơn bản chất của vụ án. Hiểu rõ về các khái niệm của các giai đoạn phạm tội:
chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, phạm tội hoàn thành,tự ý nữa chừng chấm giứt
việc phạm tội sẽ giúp cơ quan thi hành pháp luật đưa ra hình phạt công bằng xác thực
hơn với người bị truy tố và là yếu tố để xét cấu thành tội phạm của vụ án.
18