LUẬN VĂN:
Thực hiện pháp luật thi hành án đối với
người được hưởng án treo và cải tạo
không giam giữ ở Tỉnh Thanh Hóa
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong hệ thống pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có
nhiều ngành luật khác nhau với những biện pháp trách nhiệm, những chế tài cụ thể khác
nhau. Gắn với luật hình sự là biện pháp trách nhiệm hình sự với chế tài cụ thể là hình phạt.
Đó là một loại chế tài đặc biệt trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước.
Hình phạt cải tạo không giam giữ là một trong số bảy hình phạt chính của pháp luật
hình sự Việt Nam.Theo qui định tại Điều 31 Bộ luật hình sự năm 1999 thì: "Cải tạo không
giam giữ là hình phạt chính có thời hạn từ sáu tháng đến ba năm được áp dụng với người
phạm tội ít nghiêm trọng, hoặc phạm tội nghiêm trọng, có nơi làm việc ổn định hoặc nơi
thường trú rõ ràng khi xét thấy không cần thiết phải cách li người phạm tội ra khỏi xã hội.
Còn án treo không phải là một hình phạt, mà là một biện pháp miễn chấp hành hình
phạt tù có điều kiện. Điều 60 Bộ luật hình sự hiện hành qui định: "Khi phạt tù không quá ba
năm xét thấy không cần thiết phải bắt chấp hành hình phạt tù thì tòa án cho hưởng án treo và
ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm’’.
Việc qui định hình phạt cải tạo không giam giữ và chế định án treo là sự thể chế hóa
chủ trương, chính sách hình sự nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta. Đó là
Trừng trị kết hợp với giáo dục, giáo dục với phòng ngừa là chính, kết hợp
với răn đe, giữ nghiêm kỷ cương, đề cao tinh thần nhân đạo Xã hội chủ nghĩa,
phát huy sức mạnh của cơ quan bảo vệ pháp luật, của các đoàn thể xã hội và mọi
công dân trong phòng chống tội phạm,vận dụng thích hợp các biện pháp hành
chính, kinh tế, cải tạo và quản lý giáo dục tại cộng đồng dân cư để đạt hiệu quả
cao nhất đối với từng người phạm tội, tránh khuynh hướng nặng về hình phạt tù
Toà án nhân dân, số 02/2005.
- Một số suy nghĩ về chế định án treo, tạp chí Toà án nhân dân số 01/1991. Nguyễn
Khắc Công
- Sự cần thiết của việc áp dụng án treo đối với người phạm tội, tạp chí Toà án nhân
dân,số 6/1994. Lê Văn Dũng.
- Nhân thân người phạm tội và việc áp dụng biện pháp án treo theo điều 44 Bộ luật
Hình sự, tạp chí Toà án nhân dân số 6/1990.
- Một số vần đề thi hành án hình sự, sách của tác giả Trần Quang Tiệp.
- Dự thảo Bộ luật thi hành án.
- Pháp luật thi hành án Việt Nam- những vấn đề lý luận và thực tiễn [57].
* Thứ hai: Về đề tài khoa học:
- Đề tài: Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao trách nhiệm về công tác quản lý,
giáo dục người phải thi hành án phạt tù cho hưởng án treo và cải tạo không giam giữ tại Uỷ
ban nhân dân cấp xã của Tỉnh Vĩnh Phúc- Đề tài khoa học của Viện Kiểm sát nhân dân
Tỉnh Vĩnh Phúc- chủ nhiệm Nguyễn Huy Phượng.
Các công trình nghiên cứu hoặc các bài viết trên chủ yếu phân tích và bình luận về
chế định án treo, cải tạo không giam giữ, hoặc có đề tài không dừng lại ở phần lý luận mà
có đánh giá thực trạng về thi hành án hình sự đối với người được hưởng án treo và cải tạo
không giam giữ ở địa phương mình, song chưa có công trình nào nghiên cứu dưới góc độ lý
luận và thực trạng về thực hiện pháp luật, lý giải các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thực
hiện pháp luật, các biện pháp, giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật thi hành án đối với
người được hưởng án treo và cải tạo không giam giữ nói chung và ở Tỉnh thanh Hóa nói
riêng.
Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc kết quả các công trình nghiên cứu, các bài viết, đồng
thời bằng kinh nghiệm thực tiễn và vốn hiểu biết của mình, học viên trình bày trong luận
văn cơ sở lý luận, nội dung thực hiện pháp luật thi hành án hình sự đối với người được
hưởng án treo và cải tạo không giam giữ, đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật ở địa bàn
tỉnh Thanh Hóa, đưa ra nhóm giải pháp đảm bảo hiệu lực các văn bản pháp luật đã ban hành
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Luận văn đánh giá kết quả thực hiện pháp luật thi hành án hình sự
đối với người được hưởng án treo và cải tạo không giam giữ, thời gian từ năm 2001 đến
năm 2007.
- Về không gian: Tác giả khảo sát thực trạng thực thi pháp luật thi hành án hình sự
đối với người được hưởng án treo và cải tạo không giam giữ trên địa bàn Tỉnh Thanh Hóa.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chi Minh và quan điểm của Đảng về công tác thi hành án và chiến lược cải cách tư pháp
đến năm 2020.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng phương pháp luận biện chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác- Lênin,
đồng thời sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phân tích, chứng minh, tổng
hợp, diễn giải, hệ thống hóa, so sánh, đối chiếu trong khi trình bày luận văn, chẳng hạn tác
giả sử dụng phương pháp phân tích, phương pháp lịch sử cụ thể khi trình bày sự hình thành
và phát triển các chế định án treo, cải tạo không giam giữ, có so sánh khái niệm với một số
quốc gia trên thế giới.
6. Đóng góp về mặt khoa học và thực tiễn của luận văn
Đây là đề tài mang tính cấp thiết được các cơ quan bảo vệ pháp luật, Cấp ủy Đảng
và chính quyền tỉnh Thanh Hóa thực sự quan tâm, là đề tài đầu tiên đề cập đến công tác thực
hiện pháp luật thi hành án đối với người được hưởng án treo và cải tạo không giam giữ trên
địa bàn Thanh Hóa, những đóng góp mới của luận văn đó là:
Thứ nhất, tác giả phân tích lý luận về thực hiện pháp luật thi hành án treo và cải tạo
không giam giữ; quan điểm của một số nhà khoa học về thi hành án và thực hiện pháp luật
thi hành án. Trên nền tảng lý luận đó, tác giả xây dựng một số khái niệm liên quan đến thực
hiện pháp luật thi hành án treo và cải tạo không giam giữ.
Thứ hai, tác giả trình bày vai trò của thực hiện pháp luật nói chung, pháp luật thi
niệm thi hành án, còn có nhiều ý kiến khác nhau.
Quan điểm thứ nhất: Thi hành án là một giai đoạn tố tụng, hoạt động thi hành án
gắn liền với quá trình xét xử, tiếp theo quá trình xét xử và chịu sự chi phối của các cơ quan
tố tụng, đặc biệt là Tòa án.Thi hành án là hoạt động bảo vệ pháp luật khác với bản chất với
các hoạt động hành chính là tổ chức và quản lý.Thi hành án là nhằm mục đích thực thi các
phán quyết của Tòa án, đảm bảo các phán quyết của Tòa án được thi hành.
Quan điểm thứ hai: Thi hành án là một giai đoạn mang tính Hành chính - Tư pháp,
bởi lẽ:
Thứ nhất, thi hành án thực chất là hoạt động chấp hành, điều hành. Điều hành và
chấp hành là đặc trưng của quản lý hành chính. Tuy nhiên đây là hoạt động chấp hành và
điều hành để thực hiện bản án, quyết định của Tòa án, tức là một nội dung có tính chất tư
pháp. Do vậy khó có thể nói nó là giai đoạn của tố tụng.
Thứ hai, với tính chất là hoạt động điều hành, cho dù căn cứ để thi hành là các bản
án, quyết định của Tòa án, nhưng quá trình thi hành án không chỉ là các hoạt động mang tính tố
tụng, không chỉ áp dụng luật tố tụng, mà nội dung của nó phải áp dụng nhiều văn bản pháp luật
khác để giải quyết (luật nội dung).
Thứ ba, trong quá trình thi hành án, phương pháp áp dụng chủ yếu là kết hợp giữa
giáo dục thuyết phục và mệnh lệnh hành chính, mục đích tác động trực tiếp tới đối tượng thi
hành án để họ tự giác thi hành hoặc áp dụng buộc họ phải thực hiện nghĩa vụ được xác định
trong bản án, quyết định của Tòa án; giáo dục họ ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng lợi
ích Nhà nước, tập thể và công dân.
Thứ tư, việc thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ, án treo được giao cho cơ
quan, tổ chức, chính quyền địa phương thực hiện theo thủ tục hành chính. Pháp luật được áp
dụng không phải chỉ riêng luật tố tụng mà còn bao gồm các qui định pháp luật hành chínhtư pháp.
Như vậy có thể nói hoạt động thi hành án là sự kết hợp biện chứng giữa quá trình tố
tụng và thi hành án hình sự, thi hành án là hoạt động mang tính hành chính- tư pháp.
Quan điểm thứ ba: Thi hành án là hoạt động tư pháp bởi những lý do sau đây:
Thứ nhất, trước hết cần khẳng định, thi hành án là giai đoạn tiếp theo của giai đoạn
Khái niệm tư pháp hiểu theo nghĩa hẹp, đó là hoạt động xét xử của Tòa án, thông
qua những thủ tục tố tụng nhất định nhằm bảo vệ pháp luật, duy trì, bảo đảm công lý, công
bằng xã hội.
Là một trong các hoạt động tư pháp, với mục đích chung là: "Bảo vệ Pháp chế xã
hội chủ nghĩa, bảo vệ Chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài
sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản tự do, danh dự và nhân phẩm của
công dân" [23], thi hành án có những đặc trưng cơ bản sau đây:
a) Thi hành án dựa trên cơ sở kết quả xét xử của Tòa án. Những bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật là căn cứ để các cơ quan nhà nước, người phải thi hành án, người
được thi hành án, người có quyền và lợi ích liên quan thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo
đúng nội dung bản án, quyết định của Tòa án.
b) Chủ thể thi hành án có rất nhiều loại, đó có thể là Tòa án, cơ quan Công an, cơ
quan thi hành án, ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người phải
thi hành án cư trú, làm việc hoặc các cơ sở chuyên khoa y tế. Vai trò của từng loại chủ thể
khi tham gia vào quá trình thi hành án khác nhau, phụ thuộc vào từng loại việc thi hành án.
c) Các chủ thể thi hành án phải tuân thủ những quy định rất chặt chẽ về thi hành án.
Những quy định rất chi tiết, cụ thể như: trình tự, thủ tục ra quyết định thi hành án; cách thức
tổ chức việc thi hành án; giải quyết khiếu nại hoặc trả lời kháng nghị việc thi hành án...
Những quy định này được thực hiện một cách độc lập, do người có thẩm quyền tiến hành
mà không phụ thuộc vào các hoạt động tố tụng khác như trong quá trình điều tra, truy tố và
xét xử.
Bản án, quyết định của Tòa án là văn bản pháp lý của Tòa án nhân danh Nhà nước
tuyên tại phiên tòa, giải quyết về các vấn đề trong vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia
đình, lao động, kinh tế, hành chính. Việc thực hiện bản án, quyết định của Tòa án có hiệu
quả một mặt bảo đảm thực hiện quyền tư pháp của Nhà nước, thể hiện sự tôn trọng của xã
hội và công dân đối với phán quyết của cơ quan nhân danh Nhà nước là Tòa án, mặt khác
nó là biện pháp hữu hiệu để khôi phục các quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức
và công dân bị xâm hại.
- Với tinh thần của Nghị quyết, trên cơ sở qui định của Bộ luật hình sự hiện hành,
Giáo trình luật hình sự Việt Nam của Trường đại học Luật Hà Nội có nêu: án treo là biện
pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, án treo thể hiện tính nhân đạo của Luật Hình
sự Việt Nam,có tác dụng khuyến khích người bị kết án tự tu dưỡng và lao động tại cộng
đồng với sự giúp đỡ tích cực của xã hội cũng như gia đình đồng thời cảnh báo họ nếu phạm
tội mới trong thời gian thử thách thì buộc họ phải chấp hành hình phạt tù đã tuyên.
- Bộ luật hình sự năm 1985 và Bộ luật hình sự hiện hành cũng xác định án treo là
biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện. Điều 60 khoản 1 Bộ luật hình sự năm
1999 qui định:"Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội
và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì tòa án
cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm".
Tuy nhiên, so với qui định về án treo theo Bộ luật Hình sự năm 1985, thì chế định
án treo được qui định trong Bộ luật Hình sự năm 1999 có nhiều sự thay đổi về điều kiện
được hưởng án treo (Mức hình phạt tù xem xét cho hưởng án treo từ 5 năm theo Bộ luật
Hình sự 1985 xuống còn 3 năm tù theo Bộ luật Hình sự 1999), điều kiện thử thách (điều
kiện không phạm tội mới thay thế cho điều kiện không phạm tội mới do cố ý hoặc không
phạm tội mới do vô ý và bị phạt tù).
Trên cơ sở tra cứu từ điển luật học, các quan điểm của các nhà Luật học về án treo,
hướng dẫn giải thích của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao, quy định của Bộ
luật Hình sự năm 1985, năm 1999 về áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo đối với người
phạm tội, tác giả có thể đưa ra khái niệm chung nhất về án treo như sau: án treo không phải là
một loại hình phạt mà là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, điều kiện đó
là: Người bị phạt tù không quá ba năm bất kể về tội gì, nhân thân tốt và có nhiều tình tiết giảm
nhẹ, và xét thấy không cần thiết phải cách ly họ ra khỏi xã hội, tòa án cho họ miễn chấp hành
hình phạt tù và ấn định cho họ một khoảng thời gian thử thách từ một năm đến năm năm, trong
khoảng thời gian đó nếu họ không phạm tội mới thì họ không phải chấp hành hình phạt tù của
bản án đã tuyên.
- Bản chất của án treo: Từ khái niệm chung về án treo, rút ra nhận xét về bản chất
của án treo như sau:
tháng tù giam thì ở trong trại. Như thế là không công bằng.
Tuy nhiên không vì những lý do trên để xóa bỏ chế định án treo, bản thân chế định
này thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật, đối với người phạm tội lần đầu, nhân thân
tốt và có đầy đủ các điều kiện luật cho phép, nếu để họ cải tạo tại địa phương, dưới sự giám
sát, giáo dục của cơ quan, tổ chức mà họ vẫn trở thành người tốt thì tại sao chúng ta không
áp dụng chế định án treo, tại sao cứ nhất thiết bắt họ phải chấp hành hình phạt trong trại
giam, tốn kém cho Nhà nước, cho gia đình trong khi đó mục đích của hình phạt mà chúng ta
muốn hướng tới là: Trừng trị người phạm tội, giáo dục họ thành người có ích cho xã hội,
ngăn ngừa họ phạm tội mới, đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm đều đạt được. Nếu
như vẫn còn tình trạng xử án không công bằng thì không phải do chế định pháp luật tạo ra,
mà chính do người áp dụng pháp luật không tôn trọng các quy định của luật pháp.
- Trình tự, thủ tục thi hành án treo: Được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự và
Nghị định 61 của Chính phủ.
Sau khi nhận được bản án, quyết định của Tòa án nhân dân, cơ quan, tổ chức giám
sát, giáo dục người bị kết án tổ chức thi hành án, ra quyết định phân công người trực tiếp
giám sát, giáo dục người bị kết án. Người trực tiếp giám sát, giáo dục phải áp dụng đầy đủ
các biện pháp như: Chủ động gặp gỡ, động viên người kết án chấp hành nghiêm chỉnh pháp
luật, ba tháng một lần báo cáo với thủ trưởng cơ quan tổ chức giám sát, giáo dục về tình
hình chấp hành án, báo cáo cơ quan tổ chức giám sát, giáo dục khi người bị kết án có đủ
điều kiện được xét giảm thời gian thử thách…Về phía cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục
có trách nhiệm tạo điều kiện để người bị kết án cải tạo, giáo dục tốt, lập hồ sơ đề nghị rút
ngắn thời gian thử thách cho người bị kết án.
1.1.2.2. Cải tạo không giam giữ- khái niệm, bản chất, trình tự thủ tục thi hành án
Cải tạo không giam giữ là một loại hình phạt chính trong hệ thống hình phạt của Bộ
luật Hình sự.
- Theo từ điển Luật học thì cải tạo không giam giữ là việc buộc người phạm tội phải
tự cải tạo dưới sự giám sát của cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội nơi họ làm việc hoặc
cư trú qua việc phải thực hiện những nghĩa vụ nhất định [36, tr.98].
thành người có ích, được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội
nghiêm trọng đang có nơi làm việc ổn định hoặc nơi thường trú rõ ràng và xét thấy không
cần phải cách ly họ ra khỏi xã hội.
Hiện nay đang có quan điểm cho rằng nên bỏ loại hình phạt này vì một số lý do sau:
Thứ nhất: Trên thực tế, số bị án phạt cải tạo không giam giữ có xu hướng giảm đi,
hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo tăng lên vì các điều kiện cho bị cáo hưởng án treo hoặc
cải tạo không giam giữ có nhiều điểm giống nhau, cho nên có nhiều Tòa án hàng chục năm
không áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, thay vì đó thường áp dụng hình phạt tù nhưng
cho hưởng án treo.
Thứ hai: Cả án treo và cải tạo không giam giữ đều cho người bị kết án được cải tạo,
giáo dục ở ngoài xã hội, ở cộng đồng dân cư nơi sinh sống, làm việc mà không bị bắt buộc
tập trung cải tạo ở các trại giam.
Do vậy có thể kết hợp các điều kiện cho hưởng án treo và điều kiện áp dụng hình
phạt cải tạo không giam giữ như: Người phạm tội nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, phạm
tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng và xét thấy không cần phải
cách ly họ ra khỏi xã hội thì tòa án cho họ được hưởng án treo, nên bỏ qui định hình phạt cải
tạo không giam giữ là một loại hình phạt chính.
Tác giả cho rằng không thể bỏ hình phạt cải tạo không giam giữ, bởi lẽ:
Mặc dù có nhiều điểm giống nhau giữa án treo và cải tạo không giam giữ, song hai
chế định này vẫn có những nét khác biệt cơ bản, đó là:
+ án treo không phải là một hình phạt mà chỉ là biện pháp miễn chấp hành hình phạt
tù có điều kiện, trong khi đó, cải tạo không giam giữ là hình phạt chính trong hệ thống hình
phạt của Luật hình sự Việt Nam.
+ Về hình phạt áp dụng đối với người bị kết án: Người bị phạt tù cho hưởng án treo
là người bị phạt tù có thời hạn.Tù có thời hạn là hình phạt nặng hơn, nghiêm khắc hơn so
với hình phạt cải tạo không giam giữ. Xét về bản chất, hành vi phạm tội của người được
hưởng án treo có tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội cao hơn.
+ Trong giai đoạn chấp hành bản án, người được hưởng án treo phải chấp hành
Bất kì một nhà nước nào cũng đều quản lý xã hội dưới ba dạng hoạt động cơ bản:
Ban hành pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và đảm bảo cho pháp luật được thực hiện
nghiêm chỉnh.Trong đó việc thực hiện đúng đắn và nghiêm chỉnh pháp luật là một yêu cầu
khách quan và cấp bách của quản lý nhà nước bằng pháp luật, xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa. Hoạt động thực hiện pháp luật là việc chuyển hóa pháp luật vào đời
sống thực tiễn, biến các qui định trên giấy thành hiện thực. Giữa hoạt động xây dựng pháp
luật và thực hiện pháp luật có quan hệ chặt chẽ không tách rời nhau. Chỉ có thể thực hiện
pháp luật tốt khi các quy định pháp luật mang tính khách quan, phản ánh ý chí, nguyện vọng
và bảo vệ lợi ích của nhân dân, và thông qua hoạt động thực hiện pháp luật, phát hiện những
quan hệ mới nảy sinh cần điều chỉnh bằng pháp luật, những bất cập trong quá trình thực
hiện pháp luật từ đó có cơ sở xây dựng các qui phạm mới, bổ sung, sửa đổi pháp luật cho
phù hợp với thực tiễn.
Về khái niệm thực hiện pháp luật: Theo tài liệu học tập và nghiên cứu môn Lý luận
chung về Nhà nước và pháp luật của Viện Nhà nước và Pháp luật thuộc Học viện Chính trịHành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, thực hiện pháp luật đuợc hiểu là "quá trình hoạt động
có mục đích làm cho những qui định của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống, tạo
cơ sở pháp lý cho hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật" [14, tr.270].
Theo giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật của Khoa Luật trường Đại
học Tổng hợp Hà Nội thì: "Thực hiện pháp luật là hiện tượng, quá trình có mục đích làm
cho những quy định của pháp luật trở thành hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật"
[35, tr.369].
Theo giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật của trường Đại học Luật Hà Nội thì:
"Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của
pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp
luật "[33, tr. 463].
Như vậy thực hiện pháp luật được hiểu là hiện tượng, quá trình có mục đích, có chủ
định làm cho những qui định của pháp luật trở thành hoạt động thực tế của các chủ thể pháp
luật. Hành vi của chủ thể (hành động hoặc không hành động) được tiến hành phù hợp với
quy định, với yêu cầu của pháp luật, tức là không trái, không vượt quá khuôn khổ mà pháp
bản thân khái niệm " người được hưởng án treo " đã thể hiện sự nhân đạo mà xã hội dành
cho họ, những ưu thế so với các hình phạt được coi là hình phạt chính khác trong hệ thống
Luật hình sự. Mặc dù phải chịu hình phạt nhưng người bị kết án không phải cách ly khỏi xã
hội. Họ được cải tạo, giáo dục tại cộng đồng. Trong thời gian chấp hành án, họ được gia
đình, người thân và cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục tạo điều kiện được cải tạo, học
tập,lao động, được đối xử như những người bình thường khác, họ chỉ bị hạn chế một số
quyền do pháp luật quy định.Tính nhân đạo trong thực hiện pháp luật thi hành án còn thể
hiện ở phương pháp thực hiện pháp luật thi hành án chủ yếu là giáo dục thuyết phục, lấy
việc cảm hóa, động viên, khuyến khích là chính, giúp người bị kết án nhận ra lỗi lầm, tự
nguyện sửa chữa, cải tạo thành người có ích.
- Thực hiện pháp luật về thi hành án đối với người hưởng án treo và cải tạo không
giam giữ vừa mang tính quyền lực Nhà nước vừa mang tính xã hội rộng lớn.
Các qui phạm pháp luật trong hoạt động thi hành án phạt tù cho hưởng án treo và
cải tạo không giam giữ là các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước ban
hành và đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp giáo dục, thuyết phục, cưỡng chế của nhà
nước, bao gồm các qui định về quyền và nghĩa vụ của người bị kết án, quyền và trách nhiệm
của cơ quan, tổ chức giám sát người bị kết án, cách thức, biện pháp đảm bảo cho việc giám
sát giáo dục các bị án đạt hiệu quả cao nhất, các quy định có tính bắt buộc đối với các chủ
thể thực hiện pháp luật thi hành án và vì vậy nó mang tính quyền lực nhà nước. Nhà nước
khẳng định quyền lực của mình thông qua chức năng quản lý nhà nước, nâng cao hiệu quả
công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực này.Tuy nhiên thi hành án đối với người bị kết án
án treo và cải tạo không giam giữ là hoạt động hành chính tư pháp, nó không chỉ phụ thuộc
vào sự nỗ lực của các cơ quan nhà nước, nó được thực hiện bởi chính quyền địa phương,
các tổ chức xã hội và mọi công dân, để hoạt động thi hành án đối với người bị kết án đạt
hiệu quả cao nhất thì cần phải có sự chấp hành, phối hợp chấp hành, phối hợp tác động của
nhiều chủ thể, sự quan tâm hợp tác của cộng đồng xã hội, do vậy hoạt động này mang tính
xã hội.
- Thực hiện pháp luật thi hành án đối với người được hưởng án treo và cải tạo
Các tổ chức đoàn thể, khu phố, làng bản, cộng đồng dân cư là những chủ thể có
trách nhiệm phối hợp tác động với các cơ quan tổ chức quản lý giám sát các bị án trong và
sau khi chấp hành án.
Mỗi chủ thể có quyền hạn trách nhiệm khác nhau (học viên sẽ trình bày cụ thể phần
tiếp theo), song các chủ thể đều cùng chung mục đích là: cảm hóa, giám sát, giáo dục và tạo
điều kiện thuận lợi để người bị kết án cải tạo tốt.
1.1.3.3. Chủ thể thực hiện pháp luật thi hành án phạt tù cho hưởng án treo và cải
tạo không giam giữ
Thứ nhất, Tòa án nhân dân: Theo điều 127 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam thì: Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa án nhân dân địa phương, các Tòa án
quân sự và các Tòa án khác do luật định là cơ quan xét xử của Nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam,Tòa án còn là cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có nhiệm vụ thực hiện một
số hoạt động tố tụng trong giai đoạn thi hành án hình sự như ra quyết định thi hành án (Điều
226 BLtố tụng hình sự năm 2004), xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù (Điều 238).
Trong hoạt động thi hành án (nói chung) và thi hành án treo, cải tạo không giam giữ nói
riêng, Tòa án có trách nhiệm và quyền hạn sau:
- Trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp
luật hoặc kể từ ngày nhận được bản án, quyết định phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm,
quyết định tái thẩm, Chánh án Tòa án đã xử sơ thẩm phải ra quyết định thi hành án hoặc ủy
thác cho Tòa án khác cùng cấp ra quyết định thi hành án.
- Quyết định thi hành án phải ghi rõ họ tên người ra quyết định; tên cơ quan có
nhiệm vụ thi hành bản án hoặc quyết định; họ tên, ngày tháng năm sinh, nơi cư trú của
người bị kết án; bản án hoặc quyết định mà người bị kết án phải chấp hành.
- Quyết định thi hành án,trích lục bản án hoặc quyết định hoặc phải được gửi cho
Viện kiểm sát cùng cấp nơi thi hành án.Cơ quan thi hành án và người bị kết án.
Để đảm bảo việc thi hành án được thực hiện đúng,Tòa án ra quyết định thi hành bản
án hoặc quyết định có trách nhiệm kiểm tra, theo dõi việc thi hành án. Các cơ quan, tổ chức
có nhiệm vụ thi hành án phải báo cho Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án về việc
công nhân quốc phòng;
Doanh nghiệp, hợp tác xã, nếu người bị kết án là người làm công ăn lương;
Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người bị kết án cư trú, nếu người đó
không thuộc các đối tượng trên.
Trong hoạt động thi hành án treo và cải tạo không giam giữ, cơ quan tổ chức giám
sát, giáo dục người bị kết án có trách nhiệm và quyền được qui định tại Điều 7, Điều 8 Nghị
định 60,61/2000/NĐ-CP của Chính phủ.
- Phân công người trực tiếp giám sát, giáo dục người bị kết án;
- Tạo điều kiện để người bị kết án lao động, học tập và hòa nhập vào cuộc sống
chung của cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương mình;
- Phối hợp với cơ quan, tổ chức hữu quan khác và gia đình người bị kết án trong
việc giáo dục, cảm hóa, giúp họ sửa chữa lỗi lầm.
- Yêu cầu người bị kết án thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình; có biện pháp
ngăn ngừa, giáo dục kịp thời khi người đo có biểu hiện tiêu cực và thông báo với cơ quan có
thẩm quyền đề nghị xử lý khi cần thiết;
- Kịp thời biểu dương khi người bị kết án có nhiều tiến bộ, tích cực tham gia các
hoạt động xã hội hoặc lập công;
- Cho phép người bị kết án vắng mặt nơi cư trú;
- Xem xét hoặc theo đề nghị của người bị kết án đề nghị Tòa án cấp huyện hoặc Tòa
án quân sự khu vực nơi người đó đang chấp hành hình phạt xem xét việc giảm thời hạn hoặc
miễn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ còn lại hoặc rút ngắn thời gian thử thách
của án treo khi người bị kết án chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có tiến
bộ;
- Cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong thời hạn cải tạo không giam giữ hoặc
thời gian thử thách cho người bị kết án;
- Nhận xét bằng văn bản và ghi vào sổ theo dõi quá trình chấp hành hình phạt của
người bị kết án khi người đó chuyển đi nơi khác;
- Tiến hành khấu trừ một phần thu nhập của người bị kết án theo quyết định của Tòa