1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Mỗi một quốc gia dù nền kinh tế đã phát triển nhưng trong xã hội quốc gia
đó vẫn luôn tồn tại một bộ phận không nhỏ là người nghèo. Vì vậy trong chương
trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong ngắn hạn và dài hạn,
Chính phủ luôn đề ra chương trình xóa đói, giảm nghèo được đặt trong chiến lược
và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT – XH) của quốc gia và địa phương.
Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến vấn đề đói nghèo, giải
quyết tình trạng đói nghèo trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Đảng ta khẳng định xóa đói, giảm nghèo (XĐGN) là chủ trương lớn của Đảng và
Nhà nước mà cả hệ thống chính trị phải nêu cao quyết tâm chính trị để thực hiện
bằng được mục tiêu quan trọng này nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần
cho người nghèo, thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng, địa bàn
và giữa các dân tộc, nhóm dân cư trong xã hội.
Trong thực tế, hoạt động giảm nghèo đã đạt được những tiến bộ đáng kể
nhưng còn không ít khó khăn, thách thức cần vượt qua để thực hiện mục tiêu thiên
niên kỷ của Liên hiệp quốc mà Việt Nam đã cam kết. Trong những năm qua Việt
Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể trong công tác xóa đói giảm nghèo được
thế giới và các tổ chức quốc tế ghi nhận. Trong vòng 20 năm (1990 – 2010) tỷ lệ
nghèo ở Việt Nam đã giảm từ gần 60% xuống còn 20,7% với khoảng hơn 30 triệu
người thoát nghèo.
Hiện nay, tỷ lệ hộ nghèo trên cả nước còn cao nằm ở tất cả các loại hình kinh
tế hộ, chủ yếu là hộ nông dân, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng
xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong đó có huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang.
Đến năm 2014 huyện Hoàng Su Phì vẫn nằm trong 62 huyện nghèo nhất cả
nước, tỷ lệ hộ nghèo của Hoàng Su Phì chiếm tới 34%, đặc biệt là ở các hộ nông
dân và dân tộc thiểu số. Vì vậy việc nghiên cứu, lý giải một cách có hệ thống, đánh
giá được thực trạng đói nghèo và đề xuất những giải pháp chủ yếu cho công tác
giảm nghèo bền vững cho hộ nông dân trên địa bàn huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà
Giang là rất cần thiết và có ý nghĩa.
vững, tạo ra sự công bằng trong xã hội.
Kết quả nghiên cứu đề tài được coi là một tài liệu tham khảo cho sinh viên,
cán bộ nghiên cứu, các cấp chính quyền địa phương.
3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học
1.1.1. Một số khái niệm
* Khái niệm về nghèo đói
Khái niệm về đói nghèo được nêu ra tại Hội nghị bàn về XĐGN ở khu vực
Châu Á – Thái Bình Dương do Eccap tổ chức tại Băng Cốc – Thái Lan tháng 9 năm
1993 như sau “Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và
thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận, tùy theo
trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tạp quán của từng địa phương” [11].
Theo khái niệm này không có chuẩn nghèo chung cho mọi quốc gia, chuẩn nghèo
cao hay thấp phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi nước và thay đổi theo thời gian
và không gian.
Một khái niệm khác được đưa ra tại báo cáo chung của các nhà tài trợ hội
nghị tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam tháng 12 năm 2003 như sau: “Nghèo là
tình trạng bị thiếu ở nhiều phương diện: thu nhập hạn chế hoặc thiếu cơ hội tạo thu
nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng trong những lúc khó khăn và dễ bị tổn
thương trước những đột biến bất lợi, ít được tham gia quá trình ra quyết định…”.
Khái niệm này cho thấy người nghèo không chỉ thiếu thốn về vật chất mà còn thiếu
thốn cả về đời sống văn hóa tinh thần, vị thế trong xã hội thấp. Tuy nhiên tiêu chí và
chuẩn mực đánh giá phân loại sự nghèo còn phụ thuộc vào từng vùng, từng điều
kiện lịch sử nhất định.
Để phân biệt một cách chi tiết hơn, người ta còn phân chia nghèo thành hai
loại là nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối. Sự phân chia này giúp cho mỗi quốc gia
“Hộ là một đơn vị cơ bản của xã hội, có liên quan đến sản xuất, tái sản xuất,
đến tiêu dùng và các hoạt động xã hội khác” (Thảo luận quốc tế lần thứ 4 về Quản
lý nông trại tại Hà Lan, 1980”.
+ Khái niệm hộ nông dân: Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông
nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông
nghiệp ở nông thôn.
Theo Elliss – 1988 thì “Hộ nông dân là các nông hộ thu hoạch các phương
tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại,
nằm trong một hệ thống kinh tế rộng lớn nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc
5
tham gia một phần trong thị trường hoạt động với một trình độ hoàn chỉnh không
cao”.
Hộ nông dân có những đặc điểm chính đó là:
- Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa là
một đơn vị tiêu dùng.
- Các hộ nông dân ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham gia vào hoạt động
phi nông nghiệp với các mức độ khác nhau.
Do đó chúng ta cần quan tâm đến nông dân vì nông dân là lực lượng đông
đảo, chủ yếu, năng động và nhạy cảm, là nguồn cung cấp nhân lực, lương thực, thực
phẩm và tiêu thụ sản phẩm của công nghiệp và các ngành khác. Vì vậy trong công
tác phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, tìm hiểu, nghiên cứu giải pháp giảm
nghèo bền vững cho hộ nông dân cần phải được quan tâm.
1.1.2. Vấn đề về giảm nghèo bền vững
Giảm nghèo bền vững là một khái niệm mới được đưa vào sử dụng khá phổ
biến trong thời gian gần đây trên các diễn đàn, trên các hội nghị, hội thảo và các
chính sách vĩ mô về công tác xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên đến nay chúng ta vẫn
chưa có một khái niệm cụ thể nào về thuật ngữ này. Do vậy, để tìm hiểu khái niệm
về giảm nghèo bền vững chúng ta cần phải tìm hiểu rộng hơn về các vấn đề này, nó
nghèo cho từng khu vực, trong từng giai đoạn (kể cả việc tăng mức chuẩn nghèo),
họ không bị tái nghèo và có các kỹ năng, đủ năng lực để ứng phó với những bất lợi
xảy ra.
1.1.2.2. Giảm nghèo bền vững là gì?
Như vậy, tuy chưa có một khái niệm chung, đầy đủ cho “Giảm nghèo bền
vững” nhưng có thể hiểu là để giảm nghèo bền vững cần phải kết hợp và thỏa mãn
cả hai yêu cầu đó là: Giảm nghèo và Phát triển bền vững, điều đó thể hiện trên các
khía cạnh tạo cơ hội cho người nghèo thoát nghèo, ổn định và không ngừng tăng thu
nhập để không bị tái nghèo khi có các tác động bất lợi của tự nhiên và xã hội. Việc
giảm nghèo phải đảm bảo cùng với sự phát triển bền vững trên các mặt kinh tế, xã
hội và môi trường.
1.1.3. Chuẩn mực xác định đói nghèo
1.1.3.1. Chuẩn mực xác định nghèo đói trên thế giới
Phương pháp xác định đường đói nghèo theo chuẩn nghèo quốc tế do Tổng
cục Thống kê, Ngân hàng thế giới xác định và được thực hiện trong các cuộc khảo
7
sát mức sống dân cư ở Việt Nam (năm 1992 – 1993 và năm 1997 – 1998). Đường
đói nghèo thứ 2 ở mức cao hơn gọi là đường đói nghèo chung (bao gồm cả mặt
hàng lương thực, thực phẩm và phi lương thực, thực phẩm). Đường đói nghèo về
lương thực, thực phẩm được xác định theo chuẩn mà hầu hết các nước đang phát
triển cũng như Tổ chức Y tế Thế giới và các cơ quan khác đã xây dựng mức kcal tối
thiểu cần thiết cho mỗi thể trạng con người, là chuẩn về nhu cầu 2.100
kcal/người/ngày. Những người có mức chi tiêu dưới mức chi cần thiết để đạt được
lượng kcal này gọi là nghèo về lương thực, thực phẩm. Đường đói nghèo chung tính
thêm các chi phí cho các mặt hàng phi lương thực, thực phẩm. Tính cả chi phí này
với đường đói nghèo về lương thực, thực phẩm ta có đường đói nghèo chung (chuẩn
nghèo).
Để tiện cho việc điều tra khảo sát, tính toán và đánh giá, người ta chuyển từ
thường nó thấp hơn thang nghèo mà Ngân hàng đưa ra. Ví dụ Mỹ đưa ra chuẩn
nghèo là mức thu nhập dưới 16.000 kcal đối với một hộ gia đình chuẩn (gia đình 4
người) trong một năm, tương đương với 11,1 usd/ngày/người; Trung Quốc đưa ra
chuẩn nghèo 960 nhân dân tệ một năm/1 người, tương đương với 0,33
usd/ngày/người. [11]
1.1.3.2. Chuẩn mức xác định đói nghèo ở Việt Nam
Căn cứ vào quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế, nguồn lực tài chính và
mức sống thực tế của người dân ở từng vùng, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội
Việt Nam đưa ra chuẩn nghèo đói nhằm lập danh sách hộ nghèo từ cấp thôn, xã và
danh sách xã nghèo từ cấp huyện trở lên. [5]
Bảng 1.1: Chuẩn nghèo đói được xác định qua các thời kỳ từ năm
1993 đến 2015
Giai đoạn
1. Giai đoạn 1993 – 1995
Khu vực nông thôn
Khu vực thành thị
2. Giai đoạn 1995 – 1997
Vùng nông thôn miền núi, hải đảo
Vùng nông thôn đồng bằng, trung du
Vùng thành thị
3. Giai đoạn 1997 – 2000
Đơn vị tính
Gạo
Kg/người/tháng
Kg/người/tháng
Gạo
Kg/người/tháng
Kg/người/tháng
Kg/người/tháng
Vùng thành thị
5. Giai đoạn 2005 – 2010
Khu vực nông thôn
Khu vực thành thị
6. Giai đoạn 2010 – 2015
Khu vực nông thôn
Khu vực thành thị
Đồng/người/tháng
45.000
55.000
Đồng/người/tháng
45.000
70.000
Đồng/người/tháng
45.000
90.000
Tiền
Đồng/người/tháng
80.000
Đồng/người/tháng
100.000
Đồng/người/tháng
150.000
Tiền
Đồng/người/tháng
200.000
Đồng/người/tháng
260.000
Tiền
nông sản là những thứ họ phải bán đi để lấy tiền trang trải cho các chi tiêu khác.
Nhìn tổng thể mặc dù thế giới đã đạt được những thành tựu trong phát triển
kinh tế, ổn định chính trị…đời sống của người dân ở một số khu vực đã được nâng
cao rõ rệt. Tuy nhiên vấn đề nghèo đói vẫn hiện hữu trên các quốc gia và vùng lãnh
thổ, do vậy vấn đề nghèo đói không phải là vấn đề riêng của một quốc gia nào, mà
là nhiệm vụ chung của tất cả các nước. Điều này cho thấy để thực hiện công tác xóa
đói giảm nghèo thành công không chỉ có nỗ lực riêng của từng quốc gia mà đòi hỏi
sự nỗ lực chung tay của tất cả các quốc gia trên thế giới và các tổ chức quốc tế.
- Ở Trung Quốc: từ khi cách mạng vô sản thàng công (1949) có thể chia quá
trình phát triển kinh tế, phân hóa giàu nghèo và các hoạt động XĐGN làm hai giai
đoạn: từ năm 1949 đến năm 1977 là thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH)
theo mô hình kế hoạch hóa tập trung và từ năm 1977 đến nay thực hiện cải cách
kinh tế theo hướng nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước.
Nhờ cải cách và đổi mới nền kinh tế có hiệu quả và thực hiện một số chính
sách XĐGN nên số người nghèo ở Trung Quốc giảm xuống nhanh chóng. Nếu theo
mức chuẩn nghèo của Cục Thống kê Trung ương Trung Quốc là có thu nhập 100
nhân dân tệ/người/năm thì số người nghèo ở nông thôn 1978 là 250 triệu người
(chiếm 30% dân số); đến năm 2004 tỷ lệ hộ nghèo chỉ còn 10%. Tuy vậy dân nghèo
nói riêng và dân cư Trung Quốc nói chung vẫn còn thu nhập thấp và mức hưởng thụ
các dịch vụ xã hội vẫn thấp kém. Cùng với những vấn đề yếu kém khác nên mặc dù
thu nhập bình quân đầu người ở Trung Quốc năm 2005 đã vượt 1.000 usd, thoát
khỏi danh sách các nước có thu nhập thấp, nhưng trong xã hội còn tiềm ẩn nhiều
mâu thuẫn gay gắt, bất ổn.
- Ở Ấn Độ: Ấn Độ là nước có số người nghèo đói nhiều nhất thế giới với sự
phân hóa giàu nghèo cũng khá nghiêm trọng (khoảng 420 triệu người nghèo đói,
chiếm 55% dân số cả nước vào những năm 1960). Để giải quyết vấn đề này, Chính
Phủ Ấn Độ đã đề ra nhiều giải pháp: “Cuộc cách mạng xanh” tăng cường công tác
11
12
thời gian thực hiện phong trào đã có tác động mạnh mẽ đến công cuộc phát triển
kinh tế - xã hội ở khu vực nông thôn, bộ mặt nông thôn có những đổi thay rõ nét.
1.2.2. Xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam
1.2.2.1. Một số kết quả trong công tác giảm nghèo tại Việt Nam
Từ năm 1986 đến nay: Do thực hiện đường lối đổi mới toàn diện, nền kinh tế
nước ta cũng được đổi mới chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang nền
kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN. Trong thời
gian này (từ Đại hội VI đến Đại hội X), Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ
trương, chính sách phù hợp nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế, XĐGN, giải quyết
vấn đề phân hóa giàu nghèo. Tại Đại hội VII (1991) Đảng ta đã khẳng định: “Cùng
với quá trình đổi mới, tăng trưởng kinh tế, phải tiến hành công tác xóa đói giảm
nghèo, thực hiện công bằng xã hội, tránh sự phân hóa giàu nghèo vượt quá sự cho
phép”. [9]
Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng tiếp tục khẳng
định thực hiện chủ trương XĐGN gắn với khuyến khích mọi người làm giàu theo
luật pháp. Phấn đấu “Tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn mới) giảm xuống còn 10 – 11%
vào năm 2010”. (Theo chuẩn mới tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam năm 2005 khoảng
22%).
Từ những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, Ban chỉ đạo chương trình
mục tiêu XĐGN quốc gia, các Bộ, ngành, đoàn thể Trung ương và các địa phương
đã đề ra nhiều giải pháp cụ thể, tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến người nghèo,
tạo điều kiện cho người nghèo tự vươn lên cứu mình, góp phần thực hiện có hiệu
quả chương trình XĐGN bền vững, giải quyết vấn đề phân hóa giàu nghèo thời gian
qua. Kết quả là trong 5 năm 2001 – 2005 thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia
về XĐGN, cả nước đã có 4.354 triệu lượt hộ được vay vốn tín dụng ưu đãi, trên 2
triệu lượt người nghèo được hướng dẫn cách làm ăn, hơn 1.000 công trình thiết yếu
đã được đầu tư ở 997 xã nghèo, trên 11 triệu lượt người được thẻ BHYT, đã có 15
* Kinh nghiệm xóa đói giảm nghèo của tỉnh Lào Cai
Lào Cai là một tỉnh vùng cao biên giới ở phía Bắc của Việt Nam có tới 203,5
km đường biên giới giáp với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) có 8 huyện, 1 thành phố,
trong đó có 4 huyện vùng cao biên giới là Mường Khương, Bát Xát, Bảo Thắng và
Si Ma Cai. Cả 4 huyện trên đều là những huyện rất khó khăn của tỉnh Lào Cai và là
4 trong số những huyện khó khăn nhất của cả nước với tỷ lệ hộ nghèo chung trên
14
địa bàn là 49,87%, đặc biệt là huyện Si Ma Cai là huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất
là 73,9% (năm 2005). Sau một thời gian hơn 6 năm thực hiện Chương trình 30a,
Lào Cai đã tập trung ưu tiên cho những hạng mục phát triển cơ sở hạ tầng, đồng
thời lồng ghép với Chương trình mục tiêu quốc gia và một số chương trình hỗ trợ
khác như: Chương trình 167; Chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở; Chương trình
134; Chương trình 135; Chương trình 186, 120, Đề án 79 sắp xếp và ổn định dân
cư… nhằm triển khai có hiệu quả Chương trình 30a. Kết quả đạt được rất khả quan
như:
+ Đã sắp xếp ổn định cho 3.560 hộ ra khỏi vùng khó khăn, nguy hiểm đến
nơi ở mới và ổn định đời sống cho 24.127 hộ; hình thành nhiều điểm dân cư tập
trung, như trung tâm cụm xã, thôn bản mới; nâng cao hiệu quả sử dụng công trình;
tạo thuận lợi cho việc quy hoạch những vùng sản xuất chuyên canh, phát triển hệ
thống dịch vụ sản xuất và sinh hoạt.
+ Thực hiện các dự án hỗ trợ sản xuất, chế biến tiêu thụ, phát triển ngành
nghề nông thôn nhằm nâng tỷ lệ cơ giới hóa trong các khâu làm đất, thu hoạch,
nâng cao giá trị sản phẩm sau thu hoạch nhất là các vùng trọng điểm thâm canh. Kết
quả có 913 hộ được hưởng lợi từ việc xây dựng các mô hình, 7.212hộ được hỗ trợ
phương tiện, vật dụng, nông cụ các loại.
+ Thực hiện chính sách trợ giá, trợ cước các mặt hàng vật tư nông nghiệp
cho nông dân tổng kinh phí 21,711 tỷ đồng; trong đó phân bón 11,210 tỷ đồng,
giống cây trồng 5,877 tỷ đồng, vận chuyển giống thủy sản 0,12 tỷ đồng, giống vật
giải pháp tích cực có tác động rất lớn đối với công tác xóa đói, giảm nghèo.
- Ba là, xã hội hóa hoạt động XĐGN, tăng cường công tác khuyến nông,
khuyến lâm, khuyến ngư và hỗ trợ phát triển các làng nghề truyền thông. Phấu đấu
thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo nhanh và bền vững thông qua việc đẩy
mạnh các chương trình đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, các chương trình
hỗ trợ về sản xuất, an sinh xã hội và đời sống cho các hộ dân, kết hợp và lồng ghép
với các chương trình phát triển kinh tế, xã hội trên từng địa bàn và dựa trên cơ sở đề
xuất của nhân dân cho phù hợp, sát thực tế.
- Bốn là, thiết lập cơ chế phân bổ ngân sách công bằng, minh bạch và có tính
khuyến khích cao, tạo điều kiện cho các hộ chủ động trong việc huy động nguồn lực
tại chỗ cũng như lồng ghép với các nguồn khác, góp phần nâng cao hiệu quả thực
hiện chương trình. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc sử dụng nguồn lực, đảm bảo
16
đúng mục tiêu, đúng đối tượng, không thất thoát; kiên quyết xử lý nghiêm các tổ
chức, cá nhân sử dụng nguồn kinh phí của chương trình không đúng mục đích,
không có hiệu quả.
- Năm là, tập trung đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, thực hành tiết kiệm,
tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất và đời sống, thực hiện có hiệu quả
chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo giai đoạn 2011 – 2015.
1.2.2.4. Những bài học kinh nghiệm rút ra cho huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà
Giang
- Bài học về định hướng mục tiêu xoá đói, giảm nghèo
Ngay từ những ngày đầu mới thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa,
một trong những nhiệm vụ đầu tiên mà Bác Hồ đã chỉ đạo là chống giặc đói. Vấn đề
công bằng xã hội là vấn đề có quan hệ trực tiếp và quyết định đối với việc xóa đói
giảm nghèo đã được Đảng ta luôn quan tâm chú ý. Những Đại hội Đảng gần đây, từ
Đại hội VI đến Đại hội X, Đảng ta đã có nhiều Nghị quyết, nhiều văn bản đề cập tới
vấn đề công bằng xã hội. Chúng ta hiểu công bằng xã hội vừa là mục tiêu, vừa là
Một là, phải coi xóa đói giảm nghèo là nhiệm vụ to lớn của cả hệ thống chính
trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo điều hành của Nhà nước
XĐNG là một chủ trương của Đảng, Nhà nước, là yếu tố quan trọng đảm bảo
sự ổn định phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đó cũng là
nhiệm vụ rất nặng nề của toàn xã hội hiện nay.
Ngay từ khi nước ta mới giành được độc lập (1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã từng chỉ rõ: Giành được độc lập rồi mà nhân dân vẫn sống trong cảnh nghèo nàn,
lạc hậu thì độc lập đó phỏng có ích gì? Người còn nhấn mạnh phải ra sức phát triển
sản xuất, kinh tế làm cho mọi người ra khỏi đói nghèo lam lũ, vươn lên đủ ăn, khá
giả, giàu có. Ai đã giàu có rồi vươn lên giàu có hơn nữa. Hơn ai hết, Người nhận
thấy: Đói nghèo, lạc hậu, dốt nát là những kẻ thù nội xâm làm suy yếu đất nước và
chế độ. Chỉ có vượt qua đói nghèo lạc hậu, tiến tới phát triển và ngày càng phát
triển, tất cả vì hạnh phúc của nhân dân, đó mới là mặt tích cực, bản chất của chủ
nghĩa xã hội.
Theo lời dạy của Bác Hồ, từ nhiều năm nay Đảng và Nhà nước ta đã đẩy
mạnh cuộc vận động XĐGN, coi đó là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn
xã hội. Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 29/11/1997 về lãnh đạo công
tác XĐGN. Chỉ thị xác định: Xóa đói giảm nghèo là một nhiệm vụ quan trọng trong
18
chiến lược ổn định, phát triển kinh tế - xã hội; thực hiện định hướng xã hội chủ
nghĩa; kế tục và phát huy truyền thống tương thân, tương ái của dân tộc. Phong trào
XĐGN được khởi đầu từ năm 1992 từ thành phố Hồ Chí Minh và trở thành một
chương trình quốc gia vào cuối năm 1998, XĐGN đã thu hút sự quan tâm của toàn
xã hội, đặc biệt là hàng triệu những người nghèo tham gia. Với nhiệm vụ to lớn
cũng như đầy khó khăn trở ngại, XĐGN không chỉ đứng lại ở các chủ trương,
đường lối chung mà phải có sự phối hợp đồng bộ, nhất quán từ chủ trương, đường
lối của Đảng, các chính sách biện pháp quản lý, điều hành cụ thể của Nhà nước và
cuối cùng là sự nỗ lực của chính bản thân những người nghèo.
vững ổn định chính trị, phát triển đất nước. Mọi biện pháp XĐGN phải phải nhìn
nhận từ góc độ kinh tế - xã hội và hơn nữa phải nhìn nhận từ góc độ chính trị.
Ba là, coi trọng việc phát huy tính tự lực, tự chủ, tự vươn lên của chính người
nghèo, hộ nghèo, vùng nghèo.
Đảng, Nhà nước đã nhận định đúng đắn, đầy đủ XĐGN là nhiệm vụ to lớn
của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội nhưng Đảng, Nhà nước không thể làm thay,
mà muốn vượt qua được đói nghèo phải bằng sự nỗ lực vươn lên của chính người
nghèo, hộ nghèo. Nhà nước, cộng đồng xã hội chỉ thể hiện vai trò trung tâm là tạo
điều kiện hỗ trợ, tạo môi trường thuận lợi để người nghèo tiếp cận với các nguồn
lực phát triển, còn người nghèo phát huy được những nguồn lực đó hay không thì
phụ thuộc vào chính họ. Nhà nước hãy hướng dẫn chỉ cách làm ăn cho họ, chứ
không nên cho sẵn miếng cơm, vì vậy ông cha ta thường có câu cho vàng không
bằng chỉ đàng làm ăn. Còn XĐGN bằng cứu trợ nhân đạo thuần túy chỉ là giải pháp
thụ động, tình thế, phi kinh tế và không thể giải quyết được triệt để đói nghèo.
Bốn là, huy động và khai thác có hiệu quả mọi nguồn lực của địa phương,
đồng thời mở rộng và khai thác có hiệu quả các nguồn lực từ bên ngoài cho công tác
XĐGN.
Xóa đói giảm nghèo là nhiệm vụ rất khó khăn và không thể thực hiện được
trong vài ngày, vài tháng, nó đòi hỏi các nguồn lực vật chất và tinh thần rất to lớn,
trong đó trước hết là các nguồn lực vật chất như: tài nguyên, đất đai, kỹ thuật, công
nghệ, thị trường, trình độ tay nghề...của người lao động và các môi trường chính trị,
xã hội, kết cấu hạ tầng khác.
20
Nguồn tài chính của Nhà nước là rất quan trọng, song không thể chỉ trông
chờ vào một nguồn đó, nhất là trong điều kiện ngân sách quốc gia còn hạn hẹp,
ngân sách địa phương thu không đủ chi, hàng phải nhận trợ cấp ngân sách từ trung
ương, mà phải huy động mọi nguồn lực tài chính có thể huy động được cho công tác
XĐGN.
năm 2020 ngang bằng các huyện khác trong khu vực. Hỗ trợ phát triển sản xuất
nông, lâm nghiệp bền vững, theo hướng sản xuất hàng hoá, khai thác tốt các thế
mạnh của địa phương. Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phù hợp với đặc
điểm của từng huyện; chuyển đổi cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất
có hiệu quả theo quy hoạch; xây dựng xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn
hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; bảo đảm
vững chắc an ninh, quốc phòng. [7]
1.3. Một số chương trình, dự án, chính sách giảm nghèo đã triển khai trên địa
bàn huyện Hoàng Su Phì
1.3.1. Chương trình giảm nghèo trên địa huyện
Hoàng Su Phì là một trong huyện vùng cao biên giới của tỉnh Hà Giang được
thụ hưởng chính sách hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững dành cho 62 huyện
nghèo nhất cả nước theo Nghị quyết 30a của Chính Phủ. Đối với những người nông
dân nghèo vùng cao thì đây là cơ hội tốt để giúp họ vươn lên thoát khỏi cuộc sống
khó khăn như hiện nay. Trong những năm gần đây Nhà nước đã đầu tư những công
trình trọng điểm cho công tác xóa đói giảm nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn như
chương trình 135, 134, dự án quy tụ ổn định dân cư, xây dựng hồ treo và nhiều
chính sách được thực hiện như: chính sách trợ giá, trợ cước, chính sách hỗ trợ đồng
bào dân tộc thiểu số theo QĐ 755, QĐ 102…và các chương trình, dự án phi chính
phủ như plan, dự án giảm nghèo dựa trên sự phát triển hàng hóa tỉnh Hà Giang
(CPRP) đã góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện
Hoàng Su Phì.
1.3.1.1. Chương trình 30a
- Tình hình triển khai và kết quả đạt được: Đề án giảm nghèo và bền vững
của huyện theo tinh thần Nghị quyết 30a của Chính Phủ, đã được huyện Hoàng Su
Phì tổ chức thực hiện nghiêm túc, triển khai kịp thời và huy động các nguồn lực để
thực hiện chương trình đạt được một số kết quả theo mục tiêu đề ra. Đến nay, tổng
nguồn vốn các dự án, chính sách thuộc chương trình này đã đầu tư, giải ngân trên
còn chậm làm ảnh hưởng đến tiến độ và hiệu quả thực hiện dự án. Việc phê duyệt
23
đầu tư công trình của cấp có thẩm quyền nhìn chung còn chậm, chưa chặt chẽ, điều
chỉnh, bổ sung nhiều lần nên khó khăn cho chủ đầu tư triển khai thực hiện. Chương
trình còn phân cho nhiều cấp, nhiều ngành thực hiện nên một số đơn vị, địa phương
của huyện được giao nhiệm vụ thực hiện Đề án này còn lúng túng trong quản lý tài
chính, nghiệp vụ triển khai và tổ chức thực hiện dự án. Do chương trình này không
bố trí kinh phí cho hoạt động quản lý nên việc thực hiện gặp khó khăn, chưa khuyến
khích được tâm huyết của đội ngũ cán bộ trong quá trình thực hiện.
- Một số giải pháp tiếp theo cho việc thực hiện chương trình 30a: Để đạt
được kết quả tốt trong quá trình thực hiện Đề án giảm nghèo nhanh và bền vững
theo Nghị quyết 30a của Chính Phủ, trong thời gian tới huyện Hoàng Su Phì tiếp tục
tuyên truyền sâu rộng tới cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân vùng hưởng
lợi chương trình, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa hiểu rõ về
mục đích, ý nghĩa, các chính sách quan tâm của Đảng và Nhà nước mà mình được
hưởng để từ đó giúp họ nhận thức có trách nhiệm cùng tham gia. Chính quyền xã,
thôn kết hợp chặt chẽ với người dân địa phương trong việc sử dụng, bảo quản, khai
thác có hiệu quả, bền vững các công trình đã được nhà nước đầu tư đưa vào sử dụng
và hướng dẫn, định hướng cho người cho người dân sử dụng có hiệu quả, đúng mục
đích các nguồn lực hỗ trợ trực tiếp cho các hộ để phát triển kinh tế, sản xuất, tăng
thu nhập, cải thiện đời sống, hướng tới mục tiêu giảm nghèo nhanh và bền vững ở
vùng cao. Tỉnh tiếp tục quan tâm tăng cường công tác tập huấn cho cán bộ cấp
huyện, xã, thôn của những huyện trong tỉnh Hà Giang được thụ hưởng chương trình
30a để nâng cao trình độ quản lý và năng lực chỉ đạo, điều hành thực hiện các dự
án, chính sách của chương trình này. Các cấp chính quyền từ tỉnh đến cơ sở thực
hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát, nhất là công tác tự kiểm tra, giám sát của cấp
huyện, cấp xã, đảm bảo phát huy tốt dân chủ ở cơ sở để người dân tham gia quản lý,
giám sát việc thực hiện chương trình 30a trên địa bàn huyện Hoàng Su Phì.
Hỗ trợ phát triển sản xuất, tăng thu nhập cho người dân; hỗ trợ về y tế, giáo dục,
văn hóa, môi trường; xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, giữ gìn an ninh trật
tự... được huy động lồng ghép với nguồn vốn của chương trình, dự án khác để thực
hiện.
- Tồn tại, hạn chế và khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện: Nhận
thức của nhiều người dân và một số cán bộ về xây dựng NTM chưa đầy đủ, công tác
chỉ đạo điều hành ở một số cấp, các ngành còn lúng túng, còn hạn chế hạn chế về
25
trình độ chuyên môn, kiến thức kinh nghiệm về xây dựng NTM, nhất là đối với cấp
xã thiếu cán bộ chuyên trách. Việc chấp hành quy chế làm việc của một số ngành
thành viên chưa nghiêm túc, công tác tuyên truyền của các xã, thôn còn mang tính
hình thức, chưa phong phú, chưa đủ sức thuyết phục, nguồn vốn đầu tư ít, phân bổ
chậm chưa đáp ứng nhu cầu của địa phương...đã ảnh hưởng đến việc tổ chức thực
hiện chương trình theo lộ trình đề ra.
Xây dựng NTM là công việc mới khó khăn phức tạp đòi hỏi nguồn lực lớn
trong khi đó nguồn lực đầu tư, hỗ trợ từ chương trình trong 4 năm qua vẫn thấp,
tiềm lực kinh tế có hạn, dân còn nghèo; nội dung xây dựng NTM liên quan đến tất
cả các lĩnh vực kinh tế - chính trị - xã hội, phạm vi địa bàn nông thôn rộng lớn, phức
tạp; về cơ chế chính sách còn nhiều bất cập, các cấp các ngành còn chưa có kinh
nghiệm; việc hướng dẫn triển khai thực hiện chương trình còn chậm và chưa đồng
bộ; Trình độ đội ngũ cán bộ cơ sở còn hạn chế chưa đáp ứng nhiệm vụ theo yêu cầu,
công tác tuyên truyền đã tích cực nhưng chưa sâu rộng nên còn nhiều cán bộ và
người dân nhận thức về nông thôn mới chưa đầy đủ; hệ thống cơ sở hạ tầng, mặt
bằng trên địa bàn huyện, hiện tại còn bất cập cho việc xây dựng hạ tầng theo tiêu
chí, những nguyên nhân và hạn chế trên ảnh hưởng không nhỏ đến việc triển khai
và kết quả thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM trên địa bàn
huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang.
1.3.1.3. Chương trình 135