Bình luận bản án tranh chấp thừa kế - Pdf 39

BÌNH LUẬN CÁC VỤ VIỆC DÂN SỰ
TRANH CHẤP THỪA KẾ
VỤ VIỆC SỐ 1
Nội dung vụ án:
Cụ Bùi Văn P chết ngày 29/12/2002. Cụ Hoàng Thị C chết ngày 03/01/1995.
Sinh thời các cụ sinh được 04 người con là ông Bùi Văn T, ông Bùi Văn H, ông Bùi
Văn Th, bà Bùi Thị M. Ngoài ra, các cụ không có người con riêng, con nuôi nào khác.
Tài sản thuộc sở hữu chung của hai cụ khi còn sống gồm: Diện tích nhà, đất 57m 2
tại số 8 HĐ, quận HK, thành phố H và diện tích 1396m 2 đất tại tổ 18 phường NT, quận
LB, thành phố H.
Đối với ngôi nhà tại số 8 HĐ thì năm 1954 do có người thuê nên hai cụ P và cụ C
đã uỷ quyền cho anh Bùi Văn H tiến hành các thủ tục tại các cấp Toà án để đòi nhà. Theo
Bản án số 02/DSST ngày 26/02/1993 của Toà án nhân dân quận HK đã tuyên “Xử chấp
nhận yêu cầu đòi nhà cho thuê của ông Bùi Văn P do anh Bùi Văn H đại diện…”. Tại
Bản án số 79/DSPT ngày 29/5/1993 của Toà án nhân dân thành phố H đã giữ nguyên bản
án sơ thẩm nói trên của Toà án nhân dân quận HK.
Sau khi anh Bùi Văn H tiến hành việc đòi nhà theo sự ủy quyền và đã được cơ quan
thi hành án tiến hành thi hành án bàn giao trả nhà số 8 HĐ thì hai cụ P và cụ C đã cùng
anh H về sinh sống tại ngôi nhà này. Quá trình ở tại đây, anh H đã xây dựng, sửa chữa
như làm toàn bộ trần bằng toocxi, lát lại toàn bộ nền nhà, xây mới khu phụ, làm lại gác
xép, cầu thang… Đến năm 2002, anh Bùi Văn H đã làm thủ tục để được cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất và sở hữu nhà số 8 HĐ. Trên cơ sở đó, theo Quyết định số
1730/QĐ-UB ngày 19/3/2002 của Ủy ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) thành phố
H, nhà số 8 HĐ đứng tên chủ sở hữu nhà, sử dụng đất là anh Bùi Văn H (Giấy chứng
1


nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 5019.2002 ngày 19/3/2002
của UBND thành phố H).
Còn đối với diện tích nhà, đất 1396m 2 tại tổ 18 phường NT, quận LB, thành phố H
cũng là di sản của hai cụ P và cụ C. Sinh thời hai cụ cũng có sinh sống tại nhà cấp 4 diện

Quá trình sử dụng, ông đã xây dựng, sửa chữa như lát lại toàn bộ nền, xây mới khu
phụ, làm mái cầu thang, gác xép, lợp mái… Nay trước yêu cầu chia thừa kế của phía
nguyên đơn thì ông H không đồng ý chia, vì bố, mẹ ông đã cho ông ngôi nhà này. Còn
đối với phần di sản tại tổ 18 phường NT, ông yêu cầu chia theo pháp luật.
Anh Bùi Duy H trình bày:
Về huyết thống gia đình, bố anh là Bùi Văn T là một trong 04 người con của cụ Bùi
Văn P và cụ Hoàng Thị C. Bố anh mất năm 2001. Sinh thời, cụ P có di chúc để lại toàn
bộ nhà, đất phần của cụ ở tổ 18 phường NT cho bố anh. Sau khi bố anh chết thì mẹ anh là
Lương Thị AH và các con là Bùi Duy H, Bùi Thị X, vẫn quản lý, sử dụng. Nay trước yêu
cầu của phía nguyên đơn, quan điểm của anh là không đồng ý chia thừa kế vì ông nội anh
(Bùi Văn P) đã cho bố anh (Bùi Văn T) phần di sản của hai cụ. Đối với phần di sản của
bà nội anh (Hoàng Thị C) anh cũng không đồng ý chia tài sản chung.
Bà Lương Thị AH và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Bùi Thị X trình
bày thống nhất với quan điểm với anh Bùi Duy H.
Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện:
Theo Công văn số 1941/TNMT và NĐ-CS ngày 30/3/2011 của Sở Tài nguyên, môi
trường và nhà đất thì: Nhà số 8 HĐ, thành phố H trên thửa đất số 827 tờ bản đồ số 15,
khu A nay bằng khoán điền thổ số 720, ĐX tên chủ sở hữu là ông Bùi Văn P và bà Hoàng
Thị C, trước bạ và đăng ký tại thành phố H ngày 29/5/1956. Văn bản uỷ quyền được lập
ngày 12/6/1992 của cụ P và cụ C ủy quyền cho ông H có nội dung: “Ông Bùi Văn P, bà
Hoàng Thị C uỷ quyền cho con trai là Bùi Văn H thay mặt tiến hành việc đòi nhà số 8
HĐ, thành phố H… và đứng tên trước bạ cho con trai tôi”.
Bản di chúc ngày 11/7/1999 cụ Bùi Văn P có nội dung:
3


“Tôi là Bùi Văn P, vợ là Hoàng Thị C có một thửa đất thổ cư diện tích 1396m 2 trên
thửa đất có 01 ngôi nhà xây cấp 4, nhà bếp, nhà tắm (theo bản đồ địa chính số 154 tờ số
4 của xã). Tôi thấy tuổi đã cao, các con đều đã trưởng thành… Để tạo điều kiện cho con
trai tôi là Bùi Văn T được toàn quyền sử dụng phần tài sản của tôi trên thửa đất tại là tổ

-

cụ

C
4

chết

ngày

03/01/1995;


thời điểm mở thừa kế lần 2 - cụ P chết ngày 29/12/2002. Ngày 24/02/2010, bà M làm đơn
khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của bố mẹ để lại nên theo Điều 648 BLDS sự năm
1995 thời hiệu khởi kiện yêu cầu phân chia di sản của cụ C đã hết. Do đó, không chia
phần di sản của cụ C để lại cho những người thừa kế.
Điều 634 BLDS năm 1995 quy định:
Quyền thừa kế của cá nhân
Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình
cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Điều 635 BLDS năm 1995 quy định:
Quyền bình đẳng về thừa kế của cá nhân
Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và
quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Điều 636 BLDS năm 1995 quy định:
Thời điểm, địa điểm mở thừa kế
1. Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trong trường hợp Toà
án tuyên bố một người là đã chết, thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại

nhiên, ông Bùi Văn T là người được hưởng phần tài sản của cụ Bùi Văn P theo di chúc
trong số tài sản chung với cụ Hoàng Thị C là 1396m 2 đất trên có nhà xây cấp 4 và một số
công trình xây dựng khác, song ông Bùi Văn T lại chết vào ngày 20/5/2001, cụ P chết
vào ngày 29/12/2002. Thời điểm mở thừa kế của ông T là ngày 20/5/2001, thời điểm mở
thừa kế của cụ P là ngày 29/12/2002. Như vậy, người được hưởng di sản thừa kế theo di
chúc chết trước người để lại di sản nên theo quy định tại Điều 638 BLDS năm 1995 ông
T không phải là người thừa kế theo di chúc của cụ P. Và vì vậy, di chúc của cụ Bùi Văn P
lập ngày 11/7/1999 không có giá trị pháp lý. Do di chúc của cụ P không có hiệu lực pháp
luật nên theo quy định tại Điều 678 BLDS năm 1995 phần di sản thừa kế của cụ Bùi Văn
P để lại sẽ được chia theo pháp luật cho những người thừa kế.
6


Điều 638 BLDS năm 1995 quy định:
Người thừa kế
1. Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc
sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại
di sản chết.
2. Trong trường hợp người thừa kế theo di chúc là cơ quan, tổ chức, thì phải là cơ
quan, tổ chức tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
Điều 678 BLDS năm 1995 quy định:
Những trường hợp thừa kế theo pháp luật
1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây:
a) Không có di chúc;
b) Di chúc không hợp pháp;
c) Những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời điểm với
người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời
điểm mở thừa kế;
d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền
hưởng di sản hoặc từ chối quyền hưởng di sản.

đang thuê cho cụ P, cụ C do ông Bùi Văn H là đại diện. Bản án phúc thẩm đã được thi
hành án xong và từ sau khi lấy lại nhà cụ P, cụ C, gia đình ông Bùi Văn H về sống tại số
8 HĐ, thành phố H. Cho đến năm 1998, thực hiện chủ trương của Nhà nước về việc đăng
ký kê khai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu nhà. Ngày 28/3/1998, ông
Bùi Văn H đã làm đơn xin cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất
đối với nhà số 8 HĐ, quận HK, thành phố H và ngày 19/3/2002, UBND thành phố H đã
cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở số 1010519018 cho ông
Bùi Văn H tại số 8 phố HĐ, thành phố H theo Quyết định số 1730/QĐ-UB ngày
19/3/2002. Cơ sở để UBND thành phố H ban hành Quyết định số 1730/QĐ-UB ngày
8


19/3/2002 về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất đối với
nhà số 8 phố HĐ, quận HK, thành phố H cho ông Bùi Văn H là dựa trên nội dung của
văn bản uỷ quyền được lập ngày 12/6/1992 có nội dung: Ông Bùi Văn P, bà Hoàng Thị C
uỷ quyền cho con trai là Bùi Văn H thay mặt tiến hành việc đòi nhà số 8 HĐ, thành phố
H… và đứng tên trước bạ cho con trai tôi.
Như vậy, xét về phạm vi của việc cụ P, cụ C uỷ quyền cho ông Bùi Văn H là thực
hiện hành vi tiến hành các thủ tục đòi nhà số 8 HĐ, thành phố H đồng thời chỉ là người
đứng tên trong trước bạ nhà số 8 HĐ, thành phố H chứ giấy uỷ quyền này không thể hiện
nội dung cụ P, cụ C cho (tặng) định đoạt nhà số 8 HĐ, thành phố H cho ông Bùi Văn H.
Việc ông H đứng tên sở hữu nhà là không đúng vì thực chất là nhà số 8 phố HĐ, thành
phố H vẫn thuộc quyền sở hữu của cụ P, cụ C. Do đó, xác định nhà số 8 phố HĐ là di sản
của cụ C, cụ P để lại theo Điều 637 BLDS năm 1995.
Điều 637 BLDS năm 1995 quy định:
Di sản
1. Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài
sản chung với người khác.
2. Quyền sử dụng đất cũng thuộc di sản thừa kế và được để lại thừa kế theo quy
định tại Phần thứ năm của Bộ luật này.

ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng
pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình hướng dẫn: “…
Sau khi kết thúc thời hạn 10 năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa
kế và đều thừa nhận di sản thừa kế do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển
thành tài sản chung của các thừa kế…”.
Trong quá trình giải quyết vụ án tại Toà án: Ông H trình bày nhà số 8 phố HĐ,
thành phố H đã được bố mẹ cho ông và ông không đồng ý chia, do vậy viện dẫn và áp
dụng mục 2.4 điểm a của Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải

10


quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình thì yêu cầu chia tài sản chung đối với phần
di sản thừa kế của cụ C của bà M không được thoả mãn với quy định của pháp luật.
Tiểu mục 2.4 Mục 1 Phần I Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004
của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật
trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình:
2.4. Không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế
a) Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng
thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa
kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về
hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển
thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì
không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp
luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau:
a.1) Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thoả thuận
việc chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia
tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc.
a.2) Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thoả thuận về phần mỗi

Chia toàn bộ bằng hiện vật phần di sản thừa kế của cụ P cho ông Bùi Văn H được
hưởng và ông Bùi Văn H, có nghĩa vụ thanh toán lại giá trị bằng tiền cho các đồng thừa
kế khác. Phần di sản hết thời hiệu chia thừa kế của cụ C Tòa án không chia cho những
người thừa kế.
Điều 679 BLDS năm 1995 quy định:
Người thừa kế theo pháp luật
1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ,
con nuôi của người chết;

12


b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị
ruột, em ruột của người chết;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu
ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột,
chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột.
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở
hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng thừa
kế hoặc từ chối nhận di sản.
Đối với di sản thừa kế tại tổ 18 NT, quận LB, thành phố H do bà Lương Thị AH,
anh Bùi Duy H đang quản lý. Theo biên bản định giá 1396 m 2 đất cùng các công trình
xây dựng trên đất thì tổng di sản tính thành tiền gồm giá trị quyền sử dụng đất và giá trị
xây dựng còn lại thuộc di sản thừa kế là 6.994.368.000 đồng.
Thời điểm mở thừa kế để phân chia di sản thừa kế của cụ C là năm 1995 di sản của
cụ C gồm 1/2 quyền sử dụng đất là 698m 2 đất, tính di sản thành tiền là: 3.497.184.000
đồng (gồm cả giá trị quyền sử dụng đất và giá trị xây dựng). Như trên đã nhận định, thời
hiệu để phân chia di sản thừa kế của cụ C đã hết thời hiệu chia thừa kế, phía nguyên đơn

còn lại của nhà số 8 HĐ, thành phố H và diện tích 1396m2 đất trên có nhà cấp 4 tại tổ 18
phường NT, quận LB, thành phố H được chia cho các thừa kế của cụ P.
4. Xác định di chúc của cụ Bùi Văn P lập ngày 11/7/1991 không có hiệu lực pháp
luật. Toàn bộ di sản thừa kế của cụ Bùi Văn P được chia theo pháp luật.
VỤ VIỆC SỐ 2
Nội dung vụ án:
Chị Nguyễn Thị X trình bày:
Năm 1992, chị X kết hôn hợp pháp với anh Vương Văn V là con trai thứ sáu của
ông Vương Văn Tr và bà Nguyễn Thị D. Bà D chết năm 1996. Năm 2006, anh V mất do
14


tai nạn lao động, không để lại di chúc. Vợ chồng chị có 03 con chung là: cháu Vương Thị
H - sinh năm 1994; cháu Vương Văn Th - sinh năm 1996, cháu Vương Văn A - sinh năm
1998. Khi anh V còn sống, vợ chồng chị có tạo lập được một khối tài sản, trong đó có
diện tích đất nông nghiệp là 2.472m 2 tại các xứ đồng thuộc thôn LC, xã XG, huyện S,
tỉnh H. Diện tích đất trên đã được UBND huyện S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất năm 1998 mang tên anh Vương Văn V, số sổ là 863/QSDĐ. Năm 2006, anh V chết,
ông Vương Văn Tr là bố anh V đã lấy 1.080m2 tại xứ đồng bờ Tuỳ để canh tác, không trả
cho chị. Sau nhiều lần yêu cầu ông Tr trả đất của vợ chồng chị, chị X đã yêu cầu UBND
xã XG hòa giải nhưng không thành. Vì vậy ngày 20/8/2008, chị làm đơn khởi kiện yêu
cầu Toà án buộc ông Tr phải trả cho chị diện tích đất trên. Ngày 26/10/2008, chị có đơn
thay đổi yêu cầu khởi kiện, đề nghị Toà án chia thừa kế theo pháp luật diện tích đất
1.080m2 tại xứ đồng bờ Tuỳ do ông Tr đang chiếm giữ. Chị X yêu cầu chia phần của chị
và 03 con chung vào một khối.
Tại bản tự khai ngày 05/10/2007, ông Vương Văn Tr trình bày:
Năm 1992, con trai ông là Vương Văn V lấy chị Nguyễn Thị X về làm vợ và sinh
được 03 người con là Vương Thị H, Vương Văn Th và Vương Văn A. Năm 2006, con
trai là anh Vương Văn V mất do tai nạn lao động. Nay chị X kiện ông yêu cầu chia diện
tích đất nông nghiệp tại xứ đồng bờ Tuỳ là 1.080m 2, ông không chấp nhận vì diện tích đất

kế theo pháp luật diện tích đất 1.080m2 tại xứ đồng bờ Tuỳ.
* Về người thừa kế, di sản thừa kế:
Anh Vương Văn V chết có tài sản để lại vì vậy anh V là người để lại thừa kế, anh V
chết không để lại di chúc vì vậy di sản của anh V được chia theo pháp luật. Bên nguyên
đơn không yêu cầu chia toàn bộ di sản của anh V để lại mà chỉ yêu cầu chia thừa kế theo
pháp luật diện tích đất 1.080m 2 tại xứ đồng bờ Tuỳ nên Tòa án chỉ giải quyết trong phạm
vi yêu cầu của nguyên đơn. Người thừa kế theo pháp luật thuộc hàng thứ nhất của anh V
theo quy định tại Điều 676 BLDS năm 2005 gồm 05 người: ông Vương Văn Tr, chị
Nguyễn Thị X, cháu Vương Thị H, cháu Vương Văn Th, cháu Vương Văn A. Cháu
Vương Thị H - sinh năm 1994; cháu Vương Văn Th - sinh năm 1996, cháu Vương Văn A
16


- sinh năm 1998. Chị X khởi kiện ngày 20/8/2008 khi đó các cháu chưa thành niên nên
chị X là người đại diện hợp pháp của 03 con chị.
* Về di sản thừa kế:
Ông Tr cho rằng 1.080m2 đất đang có tranh chấp là tài sản của ông, do ông đổi với
một số hộ dân cùng thôn từ những năm 1988, ông Nguyễn Xuân H lúc đó là chủ nhiệm
hợp tác xã đã tự ghi tên anh V vào trong đơn xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
nông nghiệp (2.472m2) nên việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh V là
không đúng. Còn chị X có quan điểm, diện tích đất tranh chấp vợ chồng chị đã nhận
chuyển nhượng của ông K, nhưng hiện nay ông K đã chết và giấy tờ thì không có. Song
thực tế là từ tháng 01/1998 thì diện tích đất có tranh chấp đã được UBND huyện S cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ anh Vương Văn V.
Theo nội dung lời khai của ông Nguyễn Xuân H - nguyên chủ nhiệm Hợp tác xã
nông nghiệp LC, nguyên Trưởng tiểu ban cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông
nghiệp thực hiện Nghị định số 64-CP, thì ông là người trực tiếp đến nhà anh V - chị X,
lúc đó ông Tr đang ở cùng để làm thủ tục kê khai (ông H là họ hàng của cả ông Tr và chị
X), ông Tr, anh V, chị X đã thống nhất và nhờ ông ký tên hộ. Khi có Giấy chứng nhận
ông đã giao cả 02 bản cho chính ông Tr.

được tặng cho chung, được thừa kế chung và các tài sản khác mà các thành viên thỏa
thuận là tài sản chung của hộ.
Ðiều 109 BLDS năm 2005 quy định:
Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của hộ gia đình
1. Các thành viên của hộ gia đình chiếm hữu và sử dụng tài sản chung của hộ theo
phương thức thỏa thuận.

18


2. Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia
đình phải được các thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý; đối với các loại tài sản
chung khác phải được đa số thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý.

Ðiều 688 BLDS năm 2005 quy định:
Căn cứ xác lập quyền sử dụng đất
1. Ðất đai thuộc hình thức sở hữu nhà nước, do Chính phủ thống nhất quản lý.
2. Quyền sử dụng đất của cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, chủ thể khác được xác
lập do Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất.
3. Quyền sử dụng đất của cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, chủ thể khác cũng được
xác lập do được người khác chuyển quyền sử dụng đất phù hợp với quy định của Bộ luật
này và pháp luật về đất đai.
Phần đất của anh V được chia có diện tích 360 m 2 là tài sản chung của vợ chồng anh
V, chị X theo quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Anh V chết,
thanh toán chia tài sản chung của vợ chồng nên xác định quyền sử dụng đất là di sản của
anh V để lại là 360 m2 : 2 còn 180m2 chia đều cho 05 người thừa kế theo quy định tại các
điều 676, 689, 735 BLDS: 180 m2 : 5 = 36 m2 (gồm ông Tr = chị X = cháu H = cháu Th =
cháu A). Như vậy, ông Tr, chị X, cháu H, cháu Th, cháu A được chia mỗi người 36 m 2 từ
180 m2 đất di sản thừa kế của anh V.


được chia diện tích 684 m2.
Từ những phân tích trên đây, vụ việc có thể giải quyết như sau:

20


1. Chấp nhận yêu cầu chia di sản thừa kế là quyền sử dụng 1.080 m 2 đất nông
nghiệp tại xứ đồng bờ Tuỳ, thôn LC, xã XG, huyện S, tỉnh H của Nguyễn Thị X đối với
ông Vương Văn Tr.
2. Xác định quyền sử dụng 1.080 m2 đất nông nghiệp đo thực tế tại xứ đồng bờ Tuỳ
thuộc thôn LC (bản đồ địa chính lập năm 1992) được cấp cho hộ gia đình anh Vương
Văn V gồm: anh Vương Văn V, chị Nguyễn Thị X, ông Vương Văn Tr. Chia đều mỗi
người được quyền sử dụng 360 m2 đất.
3. Xác định thời điểm mở thừa kế di sản của anh Vương Văn V là ngày 28/3/2006.
Hàng thừa kế thứ nhất của anh V là ông Vương Văn Tr, chị Nguyễn Thị X, các
cháu Vương Thị H, Vương Văn Th, Vương Văn A. Mỗi thừa kế được chia 36m 2.
4. Ghi nhận sự tự nguyện của chị X và 03 con xin chia chung vào một khối. Chia
cho chị Nguyễn Thị X và 03 con là Vương Thị H, Vương Văn Th, Vương Văn A quyền
sử dụng 684 m2 đất nông nghiệp còn lại tại xứ đồng bờ Tuỳ, thôn LC, xã XG, huyện S,
tỉnh H.
5. Chia cho ông Vương Văn Tr quyền sử dụng 396 m 2 đất nông nghiệp tại xứ đồng
bờ Tuỳ, thôn LC, xã XG, huyện S, tỉnh H (trong 1.080 m2 đất nông nghiệp đang có tranh
chấp).
Các bên không phải thanh toán cho nhau khoản tiền nào và có trách nhiệm đến cơ
quan nhà nước có thẩm quyền kê khai xin cấp Giấy chứng nhận theo quyết định của Toà
án.
VỤ VIỆC SỐ 3
Nội dung vụ án:
Ông Nguyễn Th mất ngày 09/5/2007, có vợ là bà Hồng Bảo A. Ông Th, bà A có 03
con chung là Nguyễn Hồng C; Nguyễn Hồng S và Nguyễn Hồng Q, ngoài ra ông Th

Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện:
22


Tại biên bản lấy lời khai ngày 20/4/2008, anh C khai có nội dung vào cuối năm
2006 anh đã dùng tiền của bố để sửa nhà. Tại phiên hòa giải ngày 24/6/2008, chị Q, anh
Sơn cũng đã tự nguyện thanh toán khoản tiền 24.944.160 đồng là tiền sửa chữa xây dựng
cho anh C.
Trong quá trình giải quyết vụ án, anh C có đơn yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định
chữ ký của ông Nguyễn Th tại chúc thư lập ngày 18/4/2006. Tại Kết luận giám định số
920/C21 (P6) ngày 06/5/2009 của Viện khoa học hình sự, Tổng cục cảnh sát đã kết luận:
“Chữ ký đứng tên “Nguyễn Th” dưới mục “người viết chúc thư” trên 20trang tài liệu
cần giám định đề “chúc thư” ngày 18/4/2006 (ký hiệu A1-2) với chữ ký của ông Nguyễn
Th trên các trang tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1; M2; M3; M4; M5-2; M6-2; M7-2 là
do cùng một người ký ra”.
Diện tích 10m2 kiốt, các đồ dùng sinh hoạt trong gia đình các đương sự đã tự giải
quyết không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Bình luận:
* Về người để lại thừa kế, người thừa kế:
Ông Nguyễn Th mất ngày 09/5/2007, có vợ là bà Hồng Bảo A. Ông bà có 03 con
chung là anh C, anh S, chị Q. Năm 1991, ông bà ly hôn đã tự chia nhau tài sản xong.
Ngoài ba người con đẻ, ông Th không còn con đẻ, con nuôi, con riêng nào khác. Căn cứ
BLDS năm 2005, xác định ông Th là người để lại thừa kế. Theo quy định tại Điều 635
BLDS năm 2005, anh C, anh S, chị Q được ông Th chỉ định trong di chúc hưởng di sản
thừa kế của ông và còn sống vào thời điểm mở thừa kế nên là người thừa kế theo di chúc
của ông Th.
* Về di sản thừa kế:
Anh C, anh S và chị Q đều xác định ông Th mất đi có để lại 02 khối tài sản gồm căn
hộ P116 (cũ P16) - C1 diện tích 20,2m 2 và căn hộ P103 (cũ P3) - C5 diện tích 18,5m 2 tại
khu tập thể KL hiện đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông

Nguyễn Hồng C trước đây tôi đã cho C sử dụng để ở phần nhà bên C5, nay tôi vẫn để cho
24


C ở như cũ. Sau khi tôi mất đi, tôi sẽ cho thêm C một kiốt gần 10m 2 ở đầu hồi nhà C1,
ngoài C ra sau này là của cháu nội tôi là Nguyễn Thanh L mới được hưởng, còn những
người khác không có phần. Phần nhà đất liền kề tự tạo ở P116 - C1 tập thể KL (kể cả sân)
bằng 50,2m2 tôi sẽ cho S 2/3 và cho Q 1/3.
Trong quá trình giải quyết vụ án, anh C có đơn yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định
chữ ký của ông Nguyễn Th tại chúc thư lập ngày 18/4/2006. Tại Kết luận giám định số
920/C21 (P6) ngày 06/5/2009 của Viện khoa học hình sự, Tổng cục cảnh sát đã kết luận:
“Chữ ký đứng tên “Nguyễn Th” dưới mục “người viết chúc thư” trên trang 2 tài liệu cần
giám định đề “chúc thư” ngày 18/4/2006 (ký hiệu A1-2) với chữ ký của ông Nguyễn Th
trên các trang tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1; M2; M3; M4; M5-2; M6-2; M7-2 là do
cùng một người ký ra”.
Như vậy, ông Th lập di chúc là hoàn toàn tự nguyện, thể hiện ý chí đích thực của
ông. Di chúc có nội dung định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của ông cho 03 người con.
Vì vậy, nội dung của bản di chúc này là hợp pháp.
Di chúc ngày 18/4/2006 có nội dung và hình thức phù hợp với pháp luật nên được
công nhận.
Từ những phân tích trên, xác định phần diện tích nhà đất đã được cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng sở hữu hợp pháp mang tên ông Nguyễn Th là di sản thừa kế của ông
Nguyễn Th và công nhận di chúc của ông Th về phần nhà đất này là có căn cứ và đúng
pháp luật.
Ðiều 652 BLDS năm 2005 quy định:
Di chúc hợp pháp
1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối,
đe doạ hoặc cưỡng ép;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status