MỤC LỤC
Trang
I. LỜI NÓI ĐẦU 2
II. NHỮNG THÔNG TIN CHUNG VỀ BẢN ÁN
II.1. Nội dung nguyên văn bản án 4
II.2. Tóm tắt nội dung vụ án 17
II.3. Yêu cầu và lập luận của các bên 19
II.4. Vấn đề pháp lý cần giải quyết trong vụ án 20
II.5. Các quy định pháp luật mà Tòa án áp dụng trong bản án 20
III. PHÂN TÍCH, BÌNH LUẬN CÁC VẤN ĐỀ PHÁP LÝ
TRONG BẢN ÁN
III.1. Vấn đề pháp lý về chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính
trước thời hạn
III.1.1 Phân tích giải pháp Tòa án đưa ra cho vấn đề pháp lý
23
III.1.2 Đánh giá, bình luận về giải pháp của Tòa án
24
III.2. Vấn đề pháp lý về điều khoản bảo hiểm trong hợp đồng
đã ký kết
III.2.1 Phân tích giải pháp Tòa án đưa ra cho vấn đề pháp lý
26
III.2.2 Đánh giá, bình luận về giải pháp của Tòa án
26
III.3. Vấn đề pháp lý về trách nhiệm của Công ty cho thuê tài chính
trong việc phối hợp với Công ty Thái Bình Dương đòi nợ tập đoàn Kumgang
III.3.1 Phân tích giải pháp Tòa án đưa ra cho vấn đề pháp lý
28
III.3.2 Đánh giá, bình luận về giải pháp của Tòa án
28
1
IV. KẾT LUẬN 30
tín dụng hiện hành về cơ bản đều tương đồng với Luật Các tổ chức tín dụng 1997.
Ngoài ra, Nghị định 16/2001/NĐ-CP, văn bản quy phạm pháp luật mà Hội đồng xét xử
3
áp dụng để giải quyết vụ án trong trường hợp chỉ vừa hết hiệu lực từ ngày 25 tháng 6
năm 2014, khi được thay thế bởi Nghị định 39/2014/NĐ-CP về Hoạt động của Công ty
tài chính và Công ty cho thuê tài chính. Nói cách khác, không có quy định khác biệt
nào trong các văn bản pháp luật hiện hành làm thay đổi giải pháp đối với các vấn đề
pháp lý trong vụ án.
Chính vì những lý do đó, có thể thấy các vấn đề pháp lý được đặt ra và giải quyết
trong Bản án mà nhóm lựa chọn vẫn còn mang ý nghĩa pháp lý, thực tiễn, thời sự.
4
II. NHỮNG THÔNG TIN CHUNG VỀ BẢN ÁN
2.1. Nội dung nguyên văn bản án
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA PHÚC THẨM TẠI HÀ NỘI Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 102/2006/KTPT
Ngày 09/5/2006
V/v tranh chấp hợp đồng cho thuê tài chính
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA PHÚC THẨM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Tiến Triển
Các Thẩm phán: Ông Trần Trọng Liên
Ông Bùi Thế Linh
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Thủy, cán bộ Tòa phúc thẩm
Tòa án nhân dân tối cao tại Hà nội.
Ngày 09 tháng 5 năm 2006 tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao, xét xử phúc thẩm công
khai vụ án kinh tế thị lý số 01KT/2006 ngày 25 tháng 01 năm 2006 về tranh chấp hợp
* Việc thuê và cho thuê được thỏa thuận trên nguyên tắc:
- Bên B lựa chọn tài sản, nhà cung ứng, ký thỏa thuận nguyên tắc với nhà cung ứng
với các điều kiện như chủng loại, số lượng, chất lượng, giá cả, bảo hành…
Bên B phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về các vấn đề đã hỏa thuận với nhà cung ứng.
- Bên A ký hợp đồng mua thiết bị với nhà cung ứng căn cứ vào thỏa thuận nguyên tắc
đã được ký giữa bên B và nhà cung ứng, tài sản được bàn giao giữa 3 bên, cả 3 bên sẽ
ký vào biên bản nghiệm thu tài sản.
6
- Căn cứ đề nghị thanh toán của bên B và biện bản nghiệm thu tài sản bên A sẽ thanh
toán cho nhà cung ứng tổng số tiền đầu tư thiết bị (bao gồm thuế VAT) là 311.950
USD tương đương 4.471.000.000 VNĐ, trong đó:
+ Bên A tài trợ 2.200.000.000 VN Đ tương đương 46% giá trị hợp đồng và phí bảo
hiểm trong suốt thời gian thuê.
+ Phần còn lại 2.541.000.000 VN Đ tương đương 54% bên B sẽ phải trả trước cho bên
A để bên A thanh toán với nhà cung ứng.
- Lãi suất thuê: năm đầu tiên là 0.87%/tháng. Từ năm thứ hai trở đi áp dụng lãi suất thả
nổi theo quy định của Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam. Lãi suất quá hạn bằng
15% lãi suất trong hạn.
- Phí thuê bằng số dư nợ lãi suất thuê/ quý. Trả 3 tháng một lần.
* Thời hạn thuê là 30 tháng, kể từ ngày bên A thành toán món đầu tiên cho nhà cung
ứng cho đến khi bên B trả hết tiền thuê và phí cho bên A.
* Hợp đồng quy định về các trường hợp chấm dứt hợp đồng trước thời hạn: Hợp đồng
cho thuê tài chính có thể chấm dứt trước thời hạn trong trường hợp tài sản cho thuê bị
mất, hỏng không thể phục hồi, sửa chữa (Điều 12 khoản 3). Trường hợp chấm dứt hợp
đồng theo điều khoản này, sau khi bên B trả đủ số tiền thuê cho bên A theo hợp đồng
thuê, khi bên A nhận được tiền bảo hiểm do cơ quan bảo hiểm thanh toán thì bên A sẽ
hoàn trả lại cho bên B số tiền bảo hiểm tài sản.
Ngoài ra hợp đồng còn quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên. Trong đó bên A có
nghĩa vụ đăng ký quyền sở hữu, đăng ký giao dịch bảo đảm, làm thủ tục mua bảo hiểm
đối với tài sản thuê.
cho bên mua. Trong thời gian bảo hành, bên bán có trách nhiệm sửa chữa ngay những
hư hỏng của bảng LED và phải chịu các chi phí.
Hai bên thỏa thuận thanh toán bằng L/C không hủy ngang 100% giá trị của màn hình
là 311.950 USD mở tại Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam. Về quy trình thanh
toán sẽ được phân chia làm 04 lần:
+ Lần 1: Bên bán được quyền rút 50% giá trị L/C sau khi trình bộ chứng từ sạch.
8
+ Lần 2: Bên bán được quyền rút 40% giá trị L/C khi bàn giao xong phụ tùng thay thế.
+ Lần 3: Bên bán được quyền rút 55 giá trị L/C sau 9 tháng.
+ Lần 4: Bên bán được quyền rút nốt 5% giá trị L/C sau 12 tháng.
Hợp đồng có hiệu lực kể từ ngày ký cho đến khi hết thời hạn bảo hành và nếu có tranh
chấp sẽ chọn trọng tài thương mại quốc tế là cơ quan tài phán.
Ngày 03/8/2002 đại diện của ba bên: bên bán, bên mua và bên cho thuê đã ký biên bản
bàn giao lắp đặt màn hình LED. Các bên xác nhận tài sản bàn giao và lắp đặt phù hợp
với quy định của hợp đồng mua bán và hợp đồng cho thuê tài chính. Màn hình đã chạy
thử tốt.
Ngày 12/7/2002 Công ty cho thuê tài chính cũng đã làm thủ tục mua bảo hiểm cho
màn hình LED nêu trên với tổn số phí là 82.119.847 VNĐ. Thời hạn bảo hiểm là 30
tháng kể từ ngày 12/7/2002 đến hết ngày 12/01/2005 (có giấy chứng nhận bảo hiểm
thiết bị điện tử cấp ngày 12/7/2002). Phía Công ty Thái Bình Dương đã làm các thủ tục
thanh toán tiền phí bảo hiểm đối với Công ty cho thuê tài chính.
Về thanh toán: Công ty cho thuê tài chính đã thanh toán cho Công ty Kumgang 90%
giá trị L/C = 4.304.000.000 VNĐ, còn lại 10% = 31.000 USD do còn đang trong thời
gian bảo hành và hợp đồng mua bán đang còn hiệu lực chưa thanh toán (trong số tiền
4.304.000.000 VNĐ phía Công ty Thái Bình Dương trả 1.890.000.000 VNĐ, phía thuê
tài chính trả 2.496.000.000 VNĐ).
Cuối tháng 11/2002 màn hình LED bắt đầu bộc lộ nhiều sai sót về chất lượng. Bên bán
là Công ty Kumgang đã cho thay thế, sửa chữa nhưng màn hình vẫn bị hỏng liên tiếp.
Nguyên nhân gây ra sự cố màn hình cũng đã được Công ty Kumgang xác định là do
màn hình không khép kín và để nước mưa chảy vào trong gây hỏng các đèn điôt và
cơ quan thi hành án Hà Nội. Ngày 28/3/2005 Phòng thi hành án Hà Nội đã ra quyết
định thi hành án số 48/2005 cho thi hành phán quyết của Trọng tài vụ kiện số 10/03
nêu trên.
Tuy nhiên ngày 11/7/2005 cơ quan thi hành án Hà Nội đã ra quyết định trả lại đơn yêu
cầu thi hành án vì lý do bên phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành.
Quan điểm của nguyên đơn:
10
Công ty Thái Bình Dương đã gửi nhiều công văn đến Công ty cho thuê tài chính và
Công ty bảo hiểm Hà Nội yêu cầu giải quyết sự cố của màn hình, nhưng Công ty bảo
hiểm Hà Nội đã từ chối trách nhiệm bồi thường mà lại cho rằng lỗi của nhà cúng ứng
phải bảo hành. Nguyên đơn cho rằng Công ty cho thuê tài chính đã mua bảo hiểm
không đầy đủ, cụ thể là không mua bảo hiểm lắp đặt cho màn hình LED. Công ty cho
thuê tài chính đã vi phạm nghĩa vụ mua bảo hiểm lắp đặt cho màn hình. Vì vậy, việc
không nhận được tiền bồi thường của Công ty bảo hiểm là do lỗi của Công ty cho thuê
tài chính, Công ty cho thuê tài chính phải tự chịu trách nhiệm.
- Công ty trách nhiệm hữu hạn quảng cáo và hội chợ Thái Bình Dương đã đề nghị
được chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính trước thời hạn do màn hình LED bị hỏng
không thể phục hồi sửa chữa được và không mang lại bất kỳ doanh thu nào nhưng
Công ty cho thuê tài chính không những không cho chấm dứt hợp đồng mà còn tiếp
tục đòi tiền thuê cũng với lãi suất nợ quá hạn.
Công ty Thái Bình Dương cũng đã yêu cầu Công ty cho thuê tài chính với tư cách là
chủ sở hữu của màn hình LED phải có trách nhiệm thu hồi tiền từ tập đoàn Kumgang
theo phán quyết của trọng tài quốc tế, song Công ty cho thuê tài chính đã từ chối trách
nhiệm.
Để đảm bảo quyền lợi của mình, Công ty Thái Bình Dương đã buộc phải làm đơn khởi
kiện đến Tòa án yêu cầu được giải quyết như đã nêu tại phần đơn khởi kiện.
Quan điểm của bị đơn:
- Đồng ý chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính trước thời hạn theo Điều 12 khoản 3
của hợp đồng với điều kiện bên thuê phải trả đủ số tiền đã thuê theo hợp đồng theo
Điều 12 khoản 4 của hợp đồng cho thuê tài chính và theo quy định tại Điều 28 khoản 4
đúng. Nếu trường hợp Công ty trách nhiệm hữu hạn quảng cáo và hội chợ Thái Bình
Dương không chấp nhận phí bảo hiểm thì chẳng lẽ Công ty tài chính đã không mua
bảo hiểm sao?
Ngoài ra, Công ty cho thuê tài chính đã không mua bảo hiểm lắp đặt mà theo Nghị
định số 52/NĐ-CP của Chính phủ đã quy định việc lắp đặt là bắt buộc phải mua bảo
12
hiểm. Trong trường hợp này Công ty cho thuê tài chính đã không thực hiện việc mua
bảo hiểm lắp đặt và màn hình LED bị hỏng hoàn toàn do lỗi của việc lắp đặt.
Đề nghị xem xét sự khác nhau giữa Công ty cho thuê tài chính với các tổ chức tín
dụng và ngân hàng. Chính Công ty cho thuê tài chính cũng thừa nhận là tại đăng ký
kinh doanh của Công ty không có lĩnh vực cho vay tiền tệ. Điều này cũng phù hợp với
Nghị định 16/CP của Chính phủ. Như vậy cho thuê tài chính là cho thuê một tài sản và
được trả một khoản theo từng thời kỳ để đảm bảo hết thời gian thuê thì người đi thuê
đã trả cho người cho thuê hết giá trị tài sản và một khoản lợi nhuận.
Tại bản án số 106/2005/KD-TM-ST ngày 08, 06, 15/12/2005, Tòa án nhân dân thành
phố Hà Nội quyết định:
Căn cứ Điều 29 khoản 1 điểm e; Điều 130; Điều 131; Điều 159; Điều 195 Bộ luật tố
tụng dân sự.
Căn cứ các Điều 61; 62; 63 Luật các tổ chức tín dụng.
Căn cứ Điều 27 khoản 3; Điều 28 khoản 4 Nghị định 16/2001/NĐ-CP ngày 02/5/2001
của Chính phủ.
Căn cứ Điều 15 Nghị định số 70/CP của Chính phủ quy định về án phí, lệ phí Tòa án
quyết định:
1- Chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính số 44/2002/HĐ-CTTC ngày 10/4/2002 giữa
Công ty cho thuê tài chính – Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam và Công ty
trách nhiệm hữu hạn quảng cáo và hội chợ Thái Bình Dương kể từ ngày 15/12/2005.
2- Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn và quảng cáo Thái Bình Dương phải trả cho
Công ty cho thuê tài chính toàn bộ số tiền còn lại là 2 tỷ đồng tiền gốc và phí thuê tài
chính là 584.020.000 đồng. Ghi nhận sự tự nguyện của Công ty cho thuê tài chính đối
với khoản lãi quá hạn trong vụ kiện này.
- Hoặc chấm dứt hợp đồng cho thuế tài chính với điều kiện Công ty Thái Bình Dương
phải trả hết tiền cho Công ty cho thuê tài chính.
14
1- Xét yêu cầu của nguyên đơn xin chấm dứt Hợp đồng cho thuê tài chính trước thời
hạn và miễn lãi cho màn hình hỏng không thể phục hồi sửa chữa được và thời điểm
chấm dứt hợp đồng là ngày nguyên đơn gửi đơn ra Trung tâm trọng tài quốc tế.
Án sơ thẩm đã căn cứ vào Điều 61 Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997, Điều 17 Nghị
định 16/2006/NĐ-CP ngày 02/5/2001 của Chính phủ và chính các thỏa thuận của hai
bên ký kết tại hợp đồng khẳng định Hợp đồng cho thuê tài chính vì Công ty Thái Bình
Dương là hợp đồng không hủy ngang.
Tại phiên tòa phúc thẩm hai bên đều đồng ý chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính nói
trên. Theo quy định ở điểm 3, 4 Điều 27 và khoản 4 Điều 28 Nghị định 16/NĐ-CP; ý
kiến đó là đúng pháp luật, án sơ thẩm xử xác nhận việc chấm dứt hợp đồng cho thuê
tài chính kể từ ngày xử sơ thẩm là không có sơ sở. Mà cần chấp nhận yêu cầu của
nguyên đơn lấy ngày Công ty cho thuê tài chính biết tài sản cho thuê hỏng không thể
phục hồi sửa chữa và ủy quyền cho Công ty Thái Bình Dương gửi đơn đến Trung tâm
trọng tài quốc tế. Đó là ngày 24/7/2003 chứ không phải là ngày 30/4/2003 như đơn
khởi kiện của Công ty Thài Bình Dương.
2- Công ty Thái Bình Dương còn yêu cầu Công ty cho thuê tài chính có trách nhiệm
thu hồi nợ từ Công ty Kumgang và thanh toán cho Công ty Thái Bình Dương
2386.365.843 đồng do bên cho thuê tài chính mua bảo hiểm không đầy đủ.
Án sơ thẩm cho rằng theo quy định ở các Điều 10, 11 của Hợp đồng cho thuê tài chính
thì bị đơn có trách nhiệm mua bảo hiểm, còn bên nguyên đơn có trách nhiệm thanh
toán tiền phí bảo hiểm. Hợp đồng chỉ thỏa thuận bên A làm thủ tục mua bảo hiểm đối
với tài sản thuê, ngoài ra không thỏa thuận mua loại hình bảo hiểm nào khác. Ngày
12/7/2002 bên A đã làm thủ tục mua bảo hiểm thiết bị điện tử, chuyển cho bên B bản
hợp đồng bảo hiểm, giấy chứng nhận cảo hiểm thiết bị điện tử, ngày19/7/2002 bên A
gửi cho bên B giấy đề nghị chuyển tiền phí bảo hiểm tài sản, trước các sự kiện trên
Công ty Thái Bình Dương không có ý kiến gì.
Ngày 02/7/2003 Công ty bảo hiểm Hà Nội có quan điểm về việc hư hỏng màn hình
QUYẾT ĐỊNH
Sửa án sơ thẩm
16
Căn cứ điểm e khoản 1 Điều 29; khoản 1 Điều 5; Điều 130; Điều 131; Điều 159; Điều
195 Bộ luật tố tụng dân sự
Điều 61; 62; 63 Luật Các tổ chức tín dụng
Khoản 3 Điều 27, khoản 4 Điều 28 Nghị định 16/2001/NĐ-CP ngày 02/5/2001 của
Chính phủ
Xử:
1- Chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính số 44/2002/HĐ-CTTC ngày 10/4/2002 giữa
Công ty cho thuê tài chính Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam và Công ty trách
nhiệm hữu hạn quảng cáo và hội chợ Thái Bình Dương kể từ ngày 24/7/2003.
2- Bác yêu cầu của Công ty trách nhiệm hữu hạn quảng cáo và hội chợ Thái Bình
Dương kiện đòi Công ty cho thuê tài chính 2.386.365.843 đồng.
3- Hủy quyết định của án sơ thẩm phần buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn quảng cáo
và hội chợ Thái Bình Dương phải trả cho Công ty tài chính 2 tỷ đồng tiền gốc và phí
thuê tài chính là 584.020.000 đồng vì án sơ thẩm đã giải quyết ngoài phạm vi đơn khởi
kiện, đơn yêu cầu.
Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị, có
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Công ty Thái Bình Dương không phải chịu án phí kinh tế phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- TAND Tối cao; THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- T.H.A tỉnh Khánh Hòa;
- Các đương sự (theo địa chỉ); (Đã ký)
- Lưu HS.
Hà Tiến Triển
17
2.2. Tóm tắt nội dung vụ án
Ngày 12/4/2002, Công ty trách nhiệm hữu hạn quảng cáo và hội chợ Thái Bình
Dương đã ký hợp đồng mua bán bảng thông tin LED với người bán là Công ty
Kumgang AD Systen Corporation – Hàn Quốc.
Thời gian bảo hành là 02 năm kể từ ngày hoàn thành lắp đặt và bàn giao bảng
LED cho bên mua. Trong thời gian bảo hành, bên bán có trách nhiệm sửa chữa ngay
những hư hỏng của bảng LED và phải chịu các chi phí. Hợp đồng có hiệu lực kể từ
ngày ký cho đến khi hết thời hạn bảo hành và nếu có tranh chấp sẽ chọn trọng tài
thương mại quốc tế là cơ quan tài phán.
Ngày 03/8/2002 đại diện của ba bên: bên bán, bên mua và bên cho thuê đã ký
biên bản bàn giao lắp đặt màn hình LED. Các bên xác nhận tài sản bàn giao và lắp đặt
phù hợp với quy định của hợp đồng mua bán và hợp đồng cho thuê tài chính. Màn
hình đã chạy thử tốt.
Ngày 12/7/2002 Công ty cho thuê tài chính cũng đã làm thủ tục mua bảo hiểm
cho màn hình LED nêu trên với tổng số phí là 82.119.847 VNĐ. Thời hạn bảo hiểm là
30 tháng kể từ ngày 12/7/2002 đến hết ngày 12/01/2005. Phía Công ty Thái Bình
Dương đã làm các thủ tục thanh toán tiền phí bảo hiểm đối với Công ty cho thuê tài
chính.
Cuối tháng 11/2002 màn hình LED bắt đầu bộc lộ nhiều sai sót về chất lượng.
Bên bán là Công ty Kumgang đã cho thay thế, sửa chữa nhưng màn hình vẫn bị hỏng
liên tiếp. Nguyên nhân gây ra sự cố màn hình cũng đã được Công ty Kumgang xác
định là do màn hình không khép kín và để nước mưa chảy vào trong gây hỏng các đèn
điôt và các bộ mạch điện bên trong. Công ty Thái Bình Dương đã làm đơn đề nghị bảo
hiểm Hà Nội phải đền bù thiệt hại, sau khi giám định, bảo hiểm Hà Nội đã có văn bản
số 72.HN/KT03 ngày 2/7/2003 từ chối đền bù với lý do: “ Tổn thất là do chất lượng
linh kiện không phù hợp với điều kiện khí hậu Việt Nam…Tổn thất này không thuộc
phạm vi bảo hiểm mà thuộc trách nhiệm của người bán sản phẩm”.
Ngày 30/7/2003 Công ty trách nhiệm hữu hạn quảng cáo và hội chợ Thái Bình
Dương đã tiến hành khởi kiện tập đoàn Công ty Kumgang AD Systen Corporation ra
19
Trung tâm trọng tài quốc tế, bên cạnh Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam,
ngày màn hình LED gặp sự cố không thể khắc phục được và Công ty TBD nộp đơn
khởi kiện ra Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam, ngày 30/4/2003.
- Công ty cho thuê tài chính (Bên A) phải có trách nhiệm thu hồi nợ từ tập đoàn
Kumgang và thanh toán cho Công ty Thái Bình Dương 2.386.365.843 đồng, do bên
cho thuê tài chính mua bảo hiểm không đầy đủ.
Bị đơn, Công ty cho thuê tài chính yêu cầu Tòa án:
- Bác yêu cầu của Công ty Thái Bình Dương.
- Hoặc chấm dứt hợp đồng cho thuế tài chính với điều kiện Công ty Thái Bình Dương
phải trả hết tiền cho Công ty cho thuê tài chính.
2.4. Vấn đề pháp lý cần giải quyết trong vụ án
Từ nội dung của vụ án, để có thể đưa ra phán quyết cho yêu cầu của các bên, Bản
án của Tòa án cần giải quyết 3 vấn đề pháp lý cơ bản trong vụ án:
- Vấn đề pháp lý về chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính trước thời hạn
- Vấn đề pháp lý về điều khoản bảo hiểm trong hợp đồng đã ký kết
- Vấn đề pháp lý về trách nhiệm của Công ty cho thuê tài chính trong việc phối hợp
với Công ty Thái Bình Dương đòi nợ tập đoàn Kumgang
2.5. Các quy định pháp luật nội dung mà Tòa án áp dụng trong bản án
Điều 61 Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997
“Điều 61. Cho thuê tài chính
1. Hoạt động cho thuê tài chính đối với tổ chức, cá nhân được thực hiện qua công ty
cho thuê tài chính.
2. Công ty cho thuê tài chính (sau đây gọi là bên cho thuê) sở hữu tài sản cho thuê.
Khi kết thúc hợp đồng, bên thuê được quyền lựa chọn mua tài sản thuê hoặc tiếp tục
thuê theo thoả thuận trong hợp đồng cho thuê.
3. Bên thuê và bên cho thuê không được đơn phương huỷ hợp đồng cho thuê.”
Điều 62 Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997.
“Điều 62. Quyền và nghĩa vụ của bên cho thuê
1. Bên cho thuê có những quyền sau đây:
21
a) Mua, nhập khẩu trực tiếp tài sản theo yêu cầu của bên thuê;
e) Bên thuê không được dùng tài sản thuê để cầm cố, thế chấp hoặc để bảo đảm cho
bất kỳ một nghĩa vụ tài chính nào.”
Điều 17 của Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 02 tháng 5 năm 2001 về Tổ
chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính.
“Điều 17.
1. Hợp đồng cho thuê tài chính là thoả thuận giữa bên cho thuê và bên thuê về
việc cho thuê một hoặc một số máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và động sản
khác theo những quy định tại Điều 1 của Nghị định này, phù hợp với quyền và nghĩa
vụ của các bên.
2. Hợp đồng cho thuê tài chính phải được lập thành văn bản phù hợp với quy
định của pháp luật. Hợp đồng phải ghi rõ việc xử lý khi hợp đồng chấm dứt trước hạn.
3. Bên thuê và bên cho thuê không được đơn phương huỷ bỏ hợp đồng cho thuê
tài chính (trừ những trường hợp được nêu trong Điều 27 của Nghị định này).”
Khoản 3 điều 27, Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 02 tháng 5 năm 2001 về
Tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính.
“Điều 27.
3. Hợp đồng cho thuê tài chính được chấm dứt trước hạn cho thuê trong trường
hợp tài sản cho thuê bị mất, hỏng không thể phục hồi sửa chữa.”
Khoản 4 điều 28 nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 02 tháng 5 năm 2001 về Tổ
chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính.
“Điều 28.
4. Trong trường hợp hợp đồng cho thuê tài chính chấm dứt trước hạn theo khoản
3 Điều 27 của Nghị định này, bên cho thuê phải hoàn trả lại cho bên thuê số tiền bảo
hiểm tài sản khi bên thuê đã trả đủ số tiền thuê phải trả cho bên cho thuê và khi bên
cho thuê đã nhận được tiền bảo hiểm do cơ quan bảo hiểm thanh toán.”
23
III. PHÂN TÍCH, BÌNH LUẬN CÁC VẤN ĐỀ PHÁP LÝ TRONG BẢN ÁN
3.1. Vấn đề pháp lý về chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính trước thời hạn
3.1.2. Đánh giá, bình luận về giải pháp của Tòa án
Theo quan điểm của chúng tôi, Tòa án cấp sơ thẩm (Tòa án nhân dân Hà Nội) và
Tòa án cấp phúc thẩm (Tòa án nhân dân tối cao) quyết định chấp nhận yêu cầu của các
bên về việc chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính trước thời hạn là có cơ sở và đúng
quy định pháp luật. Mặc dù, Khoản 3 Điều 61 Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 có
quy định rằng hợp đồng cho thuê tài chính là hợp đồng không hủy ngang, song Khoản
3 Điều 17 và Điều 27 của Nghị định số 16/2001/NĐ-CP quy định những trường hợp
ngoại lệ, các bên được chấm dứt hợp đồng trước thời hạn. Ngoài ra, theo khoản 3 Điều
12 của hợp đồng cho thuê tài chính số 44/2002/HĐCTTC đã quy định rõ: “Hợp đồng
cho thuê tài chính được chấm dứt trước hạn trong trường hợp tài sản cho thuê bị mất,
hỏng không thể phục hồi sửa chữa”. Đối với vụ án đang được giải quyết, màn hình
LED (tài sản cho thuê) đã bị hư hỏng không thể phục hồi sửa chữa được. Như vậy hợp
đồng cho thuê tài chính giữa Công ty Thái Bình Dương và Công ty cho thuê tài chính
đã thỏa mãn điều kiện cần để được chấm dứt trước thời hạn khi thuộc trường hợp quy
định tại Khoản 3, Điều 27 Nghị định số 16/2001/NĐ-CP và theo Khoản 3, Điều 12 của
hợp đồng đã ký kết. Trong quá trình giải quyết vụ án, cả nguyên đơn và bị đơn đều có
yêu cầu chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính trước thời hạn, đây là điều kiện đủ để
Tòa án cấp phúc thẩm quyết định chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính số
44/2002/HĐCTTC giữa Công ty Thái Bình Dương và Công ty cho thuê tài chính.
Cách xác định ngày chấm dứt hợp đồng của cơ quan xét xử phúc thẩm trong
trường hợp này là hoàn toàn hợp lí. Vì theo qui định tại Khoản 3 Điều 27 nghị định số
16/2001/NĐ-CP thì cơ sở pháp lí làm hợp đồng cho thuê tài chính bị chấm dứt là do
“tài sản cho thuê bị mất, hỏng không thể phục hồi sửa chữa”, cụ thể trong trường hợp
này là do tài sản cho thuê bị hỏng không thể phục hồi sửa chữa được. Như vậy, ngày
chấm dứt hợp đồng phải là ngày mà một trong hai bên của hợp đồng phát hiện ra sự hư
hỏng này đến mức không thể sửa chữa phục hồi được và thông báo cho phía còn lại
được biết.
25