1
MỤC LỤC
Trang
I. LỜI NÓI ĐẦU 2
II. NHỮNG THÔNG TIN CHUNG VỀ BẢN ÁN
2.1. Nội dung nguyên văn bản án 4
2.2. Tóm tắt nội dung vụ án 17
2.3. Yêu cầu và lập luận của các bên 19
2.4. Vấn đề pháp lý cần giải quyết trong vụ án 20
2.5. Các quy định pháp luật mà Tòa án áp dụng trong bản án 20
III. PHÂN TÍCH, BÌNH LUẬN CÁC VẤN ĐỀ PHÁP LÝ
TRONG BẢN ÁN
3.1. Vấn đề pháp lý về chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính
trước thời hạn
3.1.1. Phân tích giải pháp Tòa án đưa ra cho vấn đề pháp lý 23
3.1.2. Đánh giá, bình luận về giải pháp của Tòa án 24
3.2. Vấn đề pháp lý về điều khoản bảo hiểm trong hợp đồng
đã ký kết
3.2.1. Phân tích giải pháp Tòa án đưa ra cho vấn đề pháp lý 26
3.2.2. Đánh giá, bình luận về giải pháp của Tòa án 26
3.3. Vấn đề pháp lý về trách nhiệm của Công ty cho thuê tài chính
trong việc phối hợp với Công ty Thái Bình Dương đòi nợ tập đoàn Kumgang
3.3.1. Phân tích giải pháp Tòa án đưa ra cho vấn đề pháp lý 28
3.3.2. Đánh giá, bình luận về giải pháp của Tòa án 28
IV. KẾT LUẬN 30
V. TÀI LIỆU THAM KHẢO 32
2
3
áp dụng để giải quyết vụ án trong trường hợp chỉ vừa hết hiệu lực từ ngày 25 tháng 6
năm 2014, khi được thay thế bởi Nghị định 39/2014/NĐ-CP về Hoạt động của Công ty
tài chính và Công ty cho thuê tài chính. Nói cách khác, không có quy định khác biệt
nào trong các văn bản pháp luật hiện hành làm thay đổi giải pháp đối với các vấn đề
pháp lý trong vụ án.
Chính vì những lý do đó, có thể thấy các vấn đề pháp lý được đặt ra và giải quyết
trong Bản án mà nhóm lựa chọn vẫn còn mang ý nghĩa pháp lý, thực tiễn, thời sự.
4
II. NHỮNG THÔNG TIN CHUNG VỀ BẢN ÁN
2.1. Nội dung nguyên văn bản án
TÕA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÕA PHÖC THẨM TẠI HÀ NỘI Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 102/2006/KTPT
Ngày 09/5/2006
V/v tranh chấp hợp đồng cho thuê tài chính
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÕA PHÖC THẨM
TÕA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Tiến Triển
Các Thẩm phán: Ông Trần Trọng Liên
Ông Bùi Thế Linh
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Thủy, cán bộ Tòa phúc thẩm
Tòa án nhân dân tối cao tại Hà nội.
Ngày 09 tháng 5 năm 2006 tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao, xét xử phúc thẩm công
đề nghị, mục đích sử dụng để kinh doanh các dịch vụ quảng cáo bằng màn hình. Địa
điểm đặt màn hình tại đường Trần Phú, Nha Trang, Khánh Hòa.
* Việc thuê và cho thuê được thỏa thuận trên nguyên tắc:
- Bên B lựa chọn tài sản, nhà cung ứng, ký thỏa thuận nguyên tắc với nhà cung ứng
với các điều kiện như chủng loại, số lượng, chất lượng, giá cả, bảo hành…
6
Bên B phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về các vấn đề đã hỏa thuận với nhà cung ứng.
- Bên A ký hợp đồng mua thiết bị với nhà cung ứng căn cứ vào thỏa thuận nguyên tắc
đã được ký giữa bên B và nhà cung ứng, tài sản được bàn giao giữa 3 bên, cả 3 bên sẽ
ký vào biên bản nghiệm thu tài sản.
- Căn cứ đề nghị thanh toán của bên B và biện bản nghiệm thu tài sản bên A sẽ thanh
toán cho nhà cung ứng tổng số tiền đầu tư thiết bị (bao gồm thuế VAT) là 311.950
USD tương đương 4.471.000.000 VNĐ, trong đó:
+ Bên A tài trợ 2.200.000.000 VN Đ tương đương 46% giá trị hợp đồng và phí bảo
hiểm trong suốt thời gian thuê.
+ Phần còn lại 2.541.000.000 VN Đ tương đương 54% bên B sẽ phải trả trước cho bên
A để bên A thanh toán với nhà cung ứng.
- Lãi suất thuê: năm đầu tiên là 0.87%/tháng. Từ năm thứ hai trở đi áp dụng lãi suất thả
nổi theo quy định của Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam. Lãi suất quá hạn bằng
15% lãi suất trong hạn.
- Phí thuê bằng số dư nợ lãi suất thuê/ quý. Trả 3 tháng một lần.
* Thời hạn thuê là 30 tháng, kể từ ngày bên A thành toán món đầu tiên cho nhà cung
ứng cho đến khi bên B trả hết tiền thuê và phí cho bên A.
* Hợp đồng quy định về các trường hợp chấm dứt hợp đồng trước thời hạn: Hợp đồng
cho thuê tài chính có thể chấm dứt trước thời hạn trong trường hợp tài sản cho thuê bị
mất, hỏng không thể phục hồi, sửa chữa (Điều 12 khoản 3). Trường hợp chấm dứt hợp
đồng theo điều khoản này, sau khi bên B trả đủ số tiền thuê cho bên A theo hợp đồng
thuê, khi bên A nhận được tiền bảo hiểm do cơ quan bảo hiểm thanh toán thì bên A sẽ
hoàn trả lại cho bên B số tiền bảo hiểm tài sản.
chạy thử và bàn giao bảng LED cho bên mua ở trạng thái hoạt động tốt phù hợp với
các thông số của màn hình ghi trong báo giá chính thức của bên bán. Việc lắp đặt phải
được hoàn thành 10 ngày kể từ khi bảng LED được vận chuyển đến địa điểm lắp đặt.
Thời gian bảo hành là 02 năm kể từ ngày hoàn thành lắp đặt và bàn giao bảng LED
cho bên mua. Trong thời gian bảo hành, bên bán có trách nhiệm sửa chữa ngay những
hư hỏng của bảng LED và phải chịu các chi phí.
8
Hai bên thỏa thuận thanh toán bằng L/C không hủy ngang 100% giá trị của màn hình
là 311.950 USD mở tại Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam. Về quy trình thanh
toán sẽ được phân chia làm 04 lần:
+ Lần 1: Bên bán được quyền rút 50% giá trị L/C sau khi trình bộ chứng từ sạch.
+ Lần 2: Bên bán được quyền rút 40% giá trị L/C khi bàn giao xong phụ tùng thay thế.
+ Lần 3: Bên bán được quyền rút 55 giá trị L/C sau 9 tháng.
+ Lần 4: Bên bán được quyền rút nốt 5% giá trị L/C sau 12 tháng.
Hợp đồng có hiệu lực kể từ ngày ký cho đến khi hết thời hạn bảo hành và nếu có tranh
chấp sẽ chọn trọng tài thương mại quốc tế là cơ quan tài phán.
Ngày 03/8/2002 đại diện của ba bên: bên bán, bên mua và bên cho thuê đã ký biên bản
bàn giao lắp đặt màn hình LED. Các bên xác nhận tài sản bàn giao và lắp đặt phù hợp
với quy định của hợp đồng mua bán và hợp đồng cho thuê tài chính. Màn hình đã chạy
thử tốt.
Ngày 12/7/2002 Công ty cho thuê tài chính cũng đã làm thủ tục mua bảo hiểm cho
màn hình LED nêu trên với tổn số phí là 82.119.847 VNĐ. Thời hạn bảo hiểm là 30
tháng kể từ ngày 12/7/2002 đến hết ngày 12/01/2005 (có giấy chứng nhận bảo hiểm
thiết bị điện tử cấp ngày 12/7/2002). Phía Công ty Thái Bình Dương đã làm các thủ tục
thanh toán tiền phí bảo hiểm đối với Công ty cho thuê tài chính.
Về thanh toán: Công ty cho thuê tài chính đã thanh toán cho Công ty Kumgang 90%
giá trị L/C = 4.304.000.000 VNĐ, còn lại 10% = 31.000 USD do còn đang trong thời
gian bảo hành và hợp đồng mua bán đang còn hiệu lực chưa thanh toán (trong số tiền
4.304.000.000 VNĐ phía Công ty Thái Bình Dương trả 1.890.000.000 VNĐ, phía thuê
10/01/2004 Tòa phúc thẩm tòa án nhân dân tối cao đã xử bác đơn yêu cầu xin hủy
quyết định trọng tài vụ kiện số 10/03 được công bố ngày 03/6/2004 của Trung tâm
trọng tài quốc tế Việt Nam về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán giữa Công ty
trách nhiệm hữu hạn quảng cáo và hội chợ Thái Bình Dương với Công ty Kumgang
AD System Corporation – Hàn Quốc có hiệu lực.
Công ty trách nhiệm hữu hạn quảng cáo và hội chợ Thái Bình Dương đã gửi đơn đến
cơ quan thi hành án Hà Nội. Ngày 28/3/2005 Phòng thi hành án Hà Nội đã ra quyết
định thi hành án số 48/2005 cho thi hành phán quyết của Trọng tài vụ kiện số 10/03
nêu trên.
10
Tuy nhiên ngày 11/7/2005 cơ quan thi hành án Hà Nội đã ra quyết định trả lại đơn yêu
cầu thi hành án vì lý do bên phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành.
Quan điểm của nguyên đơn:
Công ty Thái Bình Dương đã gửi nhiều công văn đến Công ty cho thuê tài chính và
Công ty bảo hiểm Hà Nội yêu cầu giải quyết sự cố của màn hình, nhưng Công ty bảo
hiểm Hà Nội đã từ chối trách nhiệm bồi thường mà lại cho rằng lỗi của nhà cúng ứng
phải bảo hành. Nguyên đơn cho rằng Công ty cho thuê tài chính đã mua bảo hiểm
không đầy đủ, cụ thể là không mua bảo hiểm lắp đặt cho màn hình LED. Công ty cho
thuê tài chính đã vi phạm nghĩa vụ mua bảo hiểm lắp đặt cho màn hình. Vì vậy, việc
không nhận được tiền bồi thường của Công ty bảo hiểm là do lỗi của Công ty cho thuê
tài chính, Công ty cho thuê tài chính phải tự chịu trách nhiệm.
- Công ty trách nhiệm hữu hạn quảng cáo và hội chợ Thái Bình Dương đã đề nghị
được chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính trước thời hạn do màn hình LED bị hỏng
không thể phục hồi sửa chữa được và không mang lại bất kỳ doanh thu nào nhưng
Công ty cho thuê tài chính không những không cho chấm dứt hợp đồng mà còn tiếp
tục đòi tiền thuê cũng với lãi suất nợ quá hạn.
Công ty Thái Bình Dương cũng đã yêu cầu Công ty cho thuê tài chính với tư cách là
chủ sở hữu của màn hình LED phải có trách nhiệm thu hồi tiền từ tập đoàn Kumgang
theo phán quyết của trọng tài quốc tế, song Công ty cho thuê tài chính đã từ chối trách
chính là việc cho thuê máy móc, thiết bị, tài sản. Đây là hoạt động tín dụng có phân
chia rủi ro cho các bên. Vì vậy, đã quy định trách nhiệm mua bảo hiểm thuộc về bên
cho thuê. Điều kiện để chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính là tài sản bị hỏng, không
sửa chữa được là phù hợp với quy định của Nghị định 16/CP của Chính phủ.
Hợp đồng cho thuê tài chính số 44/2002/HĐ-CTTC và màn hình LED đã được đăng
ký giao dịch bảo đảm tại Cục Đăng ký giao dịch bảo đảm – Bộ Tư pháp. Như vậy
quyền sở hữu màn hình LED thuộc về Công ty tài chính. Trách nhiệm phải mua bảo
hiểm của Công ty cho thuê tài chính đã không thực hiện đầy đủ do cách hiểu không
đúng. Nếu trường hợp Công ty trách nhiệm hữu hạn quảng cáo và hội chợ Thái Bình
Dương không chấp nhận phí bảo hiểm thì chẳng lẽ Công ty tài chính đã không mua
bảo hiểm sao?
12
Ngoài ra, Công ty cho thuê tài chính đã không mua bảo hiểm lắp đặt mà theo Nghị
định số 52/NĐ-CP của Chính phủ đã quy định việc lắp đặt là bắt buộc phải mua bảo
hiểm. Trong trường hợp này Công ty cho thuê tài chính đã không thực hiện việc mua
bảo hiểm lắp đặt và màn hình LED bị hỏng hoàn toàn do lỗi của việc lắp đặt.
Đề nghị xem xét sự khác nhau giữa Công ty cho thuê tài chính với các tổ chức tín
dụng và ngân hàng. Chính Công ty cho thuê tài chính cũng thừa nhận là tại đăng ký
kinh doanh của Công ty không có lĩnh vực cho vay tiền tệ. Điều này cũng phù hợp với
Nghị định 16/CP của Chính phủ. Như vậy cho thuê tài chính là cho thuê một tài sản và
được trả một khoản theo từng thời kỳ để đảm bảo hết thời gian thuê thì người đi thuê
đã trả cho người cho thuê hết giá trị tài sản và một khoản lợi nhuận.
Tại bản án số 106/2005/KD-TM-ST ngày 08, 06, 15/12/2005, Tòa án nhân dân thành
phố Hà Nội quyết định:
Căn cứ Điều 29 khoản 1 điểm e; Điều 130; Điều 131; Điều 159; Điều 195 Bộ luật tố
tụng dân sự.
Căn cứ các Điều 61; 62; 63 Luật các tổ chức tín dụng.
Căn cứ Điều 27 khoản 3; Điều 28 khoản 4 Nghị định 16/2001/NĐ-CP ngày 02/5/2001
của Chính phủ.
tài chính được ký trên cơ sở tự nguyện và thiện chí.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn chỉ yêu cầu Tòa phúc thẩm xử xác định:
- Hợp đồng cho thuê tài chính số 44/2002/HĐ-CTTC chấm dứt trước thời hạn kể từ
ngày màn hình LED gặp sự cố không thể khắc phục được và Công ty TBD nộp đơn
khởi kiện ra Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam ngày 30/4/2003. Công ty cho thuê
tài chính (Bên A) phải có trách nhiệm thu hồi nợ từ tập đoàn Kumgang và thanh toán
cho Công ty Thái Bình Dương 2.386.365.843 đồng, do bên cho thuê tài chính mua bảo
hiểm không đầy đủ.
Đại diện của Công ty cho thuê tài chính đề nghị:
- Bác yêu cầu của Công ty Thái Bình Dương.
- Hoặc chấm dứt hợp đồng cho thuế tài chính với điều kiện Công ty Thái Bình Dương
phải trả hết tiền cho Công ty cho thuê tài chính.
14
1- Xét yêu cầu của nguyên đơn xin chấm dứt Hợp đồng cho thuê tài chính trước thời
hạn và miễn lãi cho màn hình hỏng không thể phục hồi sửa chữa được và thời điểm
chấm dứt hợp đồng là ngày nguyên đơn gửi đơn ra Trung tâm trọng tài quốc tế.
Án sơ thẩm đã căn cứ vào Điều 61 Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997, Điều 17 Nghị
định 16/2006/NĐ-CP ngày 02/5/2001 của Chính phủ và chính các thỏa thuận của hai
bên ký kết tại hợp đồng khẳng định Hợp đồng cho thuê tài chính vì Công ty Thái Bình
Dương là hợp đồng không hủy ngang.
Tại phiên tòa phúc thẩm hai bên đều đồng ý chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính nói
trên. Theo quy định ở điểm 3, 4 Điều 27 và khoản 4 Điều 28 Nghị định 16/NĐ-CP; ý
kiến đó là đúng pháp luật, án sơ thẩm xử xác nhận việc chấm dứt hợp đồng cho thuê
tài chính kể từ ngày xử sơ thẩm là không có sơ sở. Mà cần chấp nhận yêu cầu của
nguyên đơn lấy ngày Công ty cho thuê tài chính biết tài sản cho thuê hỏng không thể
phục hồi sửa chữa và ủy quyền cho Công ty Thái Bình Dương gửi đơn đến Trung tâm
trọng tài quốc tế. Đó là ngày 24/7/2003 chứ không phải là ngày 30/4/2003 như đơn
khởi kiện của Công ty Thài Bình Dương.
2- Công ty Thái Bình Dương còn yêu cầu Công ty cho thuê tài chính có trách nhiệm
Kumgang theo phán quyết trọng tài đã có hiệu lực pháp luật.
Như phân tích trên, Công ty Thái Bình Dương phải chịu trách nhiệm về sản phẩm khi
ký hợp đồng, nhận tài sản với nhà cung ứng. Mặt khác theo phán quyết của trọng tài
Công ty Thái Bình Dương là nguyên đơn trong vụ kiện và Công ty Kumgang là người
phải trả tiền cho Công ty Thái Bình Dương. Công ty cho thuê tài chính không phải là
chủ thể trong hợp đồng mua bán và trong vụ kiện trước trọng tài.
Tại phiên tòa phúc thẩm Công ty Thái Bình Dương còn yêu cầu Công ty cho thuê tài
chính thực hiện quyền quản lý tài sản là màn hình LED mà hiện nay Công ty Thái
Bình Dương đang phải chi phí quản lý. Xét thấy yêu cầu này của nguyên đơn không có
trong đơn khởi kiện và án sơ thảm chưa xử nên cấp phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
Áp dụng khoản 2 Điều 275 Bộ luật tố tụng dân sự
QUYẾT ĐỊNH
Sửa án sơ thẩm
16
Căn cứ điểm e khoản 1 Điều 29; khoản 1 Điều 5; Điều 130; Điều 131; Điều 159; Điều
195 Bộ luật tố tụng dân sự
Điều 61; 62; 63 Luật Các tổ chức tín dụng
Khoản 3 Điều 27, khoản 4 Điều 28 Nghị định 16/2001/NĐ-CP ngày 02/5/2001 của
Chính phủ
Xử:
1- Chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính số 44/2002/HĐ-CTTC ngày 10/4/2002 giữa
Công ty cho thuê tài chính Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam và Công ty trách
nhiệm hữu hạn quảng cáo và hội chợ Thái Bình Dương kể từ ngày 24/7/2003.
2- Bác yêu cầu của Công ty trách nhiệm hữu hạn quảng cáo và hội chợ Thái Bình
Dương kiện đòi Công ty cho thuê tài chính 2.386.365.843 đồng.
3- Hủy quyết định của án sơ thẩm phần buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn quảng cáo
và hội chợ Thái Bình Dương phải trả cho Công ty tài chính 2 tỷ đồng tiền gốc và phí
thuê tài chính là 584.020.000 đồng vì án sơ thẩm đã giải quyết ngoài phạm vi đơn khởi
nguyên tắc đã được ký giữa bên B và nhà cung ứng, tài sản được bàn giao giữa 3 bên,
cả 3 bên sẽ ký vào biên bản nghiệm thu tài sản.
- Căn cứ đề nghị thanh toán của bên B và biện bản nghiệm thu tài sản bên A sẽ
thanh toán cho nhà cung ứng tổng số tiền đầu tư thiết bị.
* Thời hạn thuê là 30 tháng, kể từ ngày bên A thành toán món đầu tiên cho nhà
cung ứng cho đến khi bên B trả hết tiền thuê và phí cho bên A.
* Bên B có nghĩa vụ trả đầy đủ, đúng hạn tiền thuê và lãi suất quá hạn nếu có
theo đúng lịch thanh toán được ký kết kèm theo hợp đồng; thanh toán các chi phí có
liên quan đến việc nhập khẩu, thuế, đăng ký quyền sở hữu, đăng ký giao dịch bảo đảm,
bảo hiểm đối với tài sản thuê và các chi phí khác theo quy định của Nhà nước.
Ngày 01/3/2002 dựa trên thỏa thuận giữa Công ty trách nhiệm hữu hạn quảng
cáo và hội chợ Thái Bình Dương và Công ty Kumgang AD Systen Corporation – Hàn
Quốc, dựa trên Hợp đồng cho thuê tài chính số 44/2002 ngày 10/4/2002, Công ty cho
thuê tài chính đã ký “ Hợp đồng ủy thác nhập khẩu”. Theo đó Công ty cho thuê tài
chính ủy thác cho Công ty quảng cáo và hội chợ Thái Bình Dương ký kết hợp đồng
mua bán với nhà cung ứng là Công ty Kumgang AD Systen Corporation – Hàn Quốc
và làm các thủ tục nhập khẩu thiết bị màn hình LED nêu trên. Phí ủy thác 0%.
18
* Thực hiện hợp đồng cho thuê tài chính và hợp đồng ủy thác nhập khẩu.
Ngày 12/4/2002, Công ty trách nhiệm hữu hạn quảng cáo và hội chợ Thái Bình
Dương đã ký hợp đồng mua bán bảng thông tin LED với người bán là Công ty
Kumgang AD Systen Corporation – Hàn Quốc.
Thời gian bảo hành là 02 năm kể từ ngày hoàn thành lắp đặt và bàn giao bảng
LED cho bên mua. Trong thời gian bảo hành, bên bán có trách nhiệm sửa chữa ngay
những hư hỏng của bảng LED và phải chịu các chi phí. Hợp đồng có hiệu lực kể từ
ngày ký cho đến khi hết thời hạn bảo hành và nếu có tranh chấp sẽ chọn trọng tài
thương mại quốc tế là cơ quan tài phán.
Ngày 03/8/2002 đại diện của ba bên: bên bán, bên mua và bên cho thuê đã ký
biên bản bàn giao lắp đặt màn hình LED. Các bên xác nhận tài sản bàn giao và lắp đặt
quyết định trọng tài vụ kiện số 10/03 được công bố ngày 03/6/2004 của Trung tâm
trọng tài quốc tế Việt Nam về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán giữa Công ty
trách nhiệm hữu hạn quảng cáo và hội chợ Thái Bình Dương với Công ty Kumgang
AD System Corporation – Hàn Quốc có hiệu lực.
Công ty trách nhiệm hữu hạn quảng cáo và hội chợ Thái Bình Dương đã gửi đơn
đến cơ quan thi hành án Hà Nội. Ngày 28/3/2005 Phòng thi hành án Hà Nội đã ra
quyết định thi hành án số 48/2005 cho thi hành phán quyết của Trọng tài vụ kiện số
10/03 nêu trên. Tuy nhiên ngày 11/7/2005 cơ quan thi hành án Hà Nội đã ra quyết định
trả lại đơn yêu cầu thi hành án vì lý do bên phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành.
Sau đó, Công ty Thái Bình Dương đã quyết định khởi kiện Công ty cho thuê tài
chính tại Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội đã
thụ lý, giải quyết và ra bản án sơ thẩm số 106/2005/KDTM-ST ngày 06, 08,
15/12/2005.
Ngày 28/12/2005, bị đơn – Công ty trách nhiệm hữu hạn quảng cáo và hội chợ
Thái Bình Dương có đơn kháng cáo với nội dung kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm
của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
2.3. Yêu cầu của các bên trong vụ án
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn – Công ty Thái Bình Dương yêu cầu Tòa
phúc thẩm xử xác định:
20
- Hợp đồng cho thuê tài chính số 44/2002/HĐ-CTTC chấm dứt trước thời hạn kể từ
ngày màn hình LED gặp sự cố không thể khắc phục được và Công ty TBD nộp đơn
khởi kiện ra Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam, ngày 30/4/2003.
- Công ty cho thuê tài chính (Bên A) phải có trách nhiệm thu hồi nợ từ tập đoàn
Kumgang và thanh toán cho Công ty Thái Bình Dương 2.386.365.843 đồng, do bên
cho thuê tài chính mua bảo hiểm không đầy đủ.
Bị đơn, Công ty cho thuê tài chính yêu cầu Tòa án:
- Bác yêu cầu của Công ty Thái Bình Dương.
- Hoặc chấm dứt hợp đồng cho thuế tài chính với điều kiện Công ty Thái Bình Dương
b) Bồi thường thiệt hại cho bên thuê trong trường hợp bên cho thuê vi phạm hợp đồng
cho thuê.”
Điều 63 Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997.
“Điều 63. Quyền và nghĩa vụ của bên thuê
1. Bên thuê có những quyền sau đây:
a) Lựa chọn, thương lượng và thoả thuận với người bán về đặc tính kỹ thuật, chủng
loại, giá cả, việc bảo hiểm, cách thức và thời hạn giao nhận, lắp đặt và bảo hành tài
sản thuê;
b) Trực tiếp nhận tài sản thuê từ người bán theo thoả thuận trong hợp đồng mua tài
sản;
c) Lựa chọn việc tiếp tục thuê hoặc mua tài sản thuê khi kết thúc hợp đồng cho thuê.
2. Bên thuê có những nghĩa vụ sau đây:
a) Sử dụng tài sản thuê đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng cho thuê; không
được chuyển quyền sử dụng tài sản thuê cho cá nhân, tổ chức khác nếu không được
bên cho thuê đồng ý bằng văn bản;
b) Trả tiền thuê theo quy định trong hợp đồng cho thuê và thanh toán các chi phí liên
quan đến việc nhập khẩu, thuế, bảo hiểm đối với tài sản thuê;
c) Chịu mọi rủi ro về việc mất mát, hư hỏng đối với tài sản thuê và những rủi ro mà tài
sản thuê gây ra đối với tổ chức, cá nhân khác;
d) Bảo dưỡng, sửa chữa tài sản thuê trong thời hạn thuê;
đ) Khi hết hạn thuê, bên thuê mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo thoả thuận
trong hợp đồng cho thuê;
22
e) Bên thuê không được dùng tài sản thuê để cầm cố, thế chấp hoặc để bảo đảm cho
bất kỳ một nghĩa vụ tài chính nào.”
Điều 17 của Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 02 tháng 5 năm 2001 về Tổ
chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính.
“Điều 17.
1. Hợp đồng cho thuê tài chính là thoả thuận giữa bên cho thuê và bên thuê về
12 của Hợp đồng. Tại khoản 3 Điều 12 của hợp đồng đã quy định rõ: “Hợp đồng cho
thuê tài chính được chấm dứt trước hạn trong trường hợp tài sản cho thuê bị mất, hỏng
không thể phục hồi sửa chữa”. Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng việc chấm dứt
hợp đồng cho thuê tài chính trước thời hạn trong trường hợp này là phù hợp với quy
định của pháp luật về việc chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính trước thời hạn được
quy định tại Khoản 3 Điều 27 nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 02 tháng 5 năm 2001
về Tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính.
Mặc dù đồng quan điểm với Tòa án cấp sơ thẩm về việc chấm dứt hợp đồng cho
thuê tài chính trước thời hạn song Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại quyết định của
Tòa án cấp sơ thẩm về ngày chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính nêu trên. Cụ thể tại
bản án sơ thẩm, cơ quan xét xử đã quyết định ngày chấm dứt hợp đồng cho thuê tài
chính là ngày xét xử sơ thẩm, tức ngày 30/4/2003. Hội đồng xét xử phúc thẩm cho
rằng quyết định này của Hội đồng xét xử sơ thẩm là không có cơ sở và cho rằng ngày
chấm dứt hợp đồng phải là ngày 24/7/2003, tức là ngày Công ty cho thuê tài chính biết
tài sản cho thuê hỏng không thể phục hồi sửa chữa và ủy quyền cho Công ty Thái Bình
Dương gửi đơn đến Trung tâm trọng tài quốc tế.
Về việc xử lý hậu quả khi chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính trước thời hạn,
Tòa án cấp phúc thẩm nhận định: “Tại phiên Tòa phúc thẩm Công ty cho thuê tài
chính khẳng định chưa bao giờ kiện đòi Công ty Thái Bình Dương về khoản tiền gốc
và lãi trong Hợp đồng cho thuê tài chính, án sơ thẩm phán quyết buộc Công ty Thái
Bình Dương phải bồi thường cho Công ty cho thuê tài chính là đã giải quyết việc mà
đương sự không yêu cầu trái với quy định của khoản 1 Điều 5 Bộ luật tố tụng dân
sự…”. Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm quyết định hủy phần xử lý
24
hậu quả khi chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính trước thời hạn mà Tòa án cấp sơ
thẩm đã tuyên.
3.1.2. Đánh giá, bình luận về giải pháp của Tòa án
Theo quan điểm của chúng tôi, Tòa án cấp sơ thẩm (Tòa án nhân dân Hà Nội) và
Tòa án cấp phúc thẩm (Tòa án nhân dân tối cao) quyết định chấp nhận yêu cầu của các
khoản 3 của Điều này, sau khi bên B (Công ty Thái Bình Dương) đã trả đủ số tiền thuê
phải trả cho bên A (Công ty cho thuê tài chính) theo hợp đồng thuê và khi bên A
(Công ty cho thuê tài chính) đã nhận được tiền bảo hiểm do cơ quan bảo hiểm thanh
toán thì bên A (Công ty cho thuê tài chính) sẽ hoàn trả lại cho bên B (Công ty Thái
Bình Dương) số tiền bảo hiểm tài sản”. Thỏa thuận trên của các đương sự phù hợp với
quy định tại Khoản 4 Điều Nghị định số 16/2001/NĐ-CP : “Trong trường hợp hợp
đồng cho thuê tài chính chấm dứt trước hạn theo khoản 3 Điều 27 của Nghị định này,
bên cho thuê phải hoàn trả lại cho bên thuê số tiền bảo hiểm tài sản khi bên thuê đã trả
đủ số tiền thuê phải trả cho bên cho thuê và khi bên cho thuê đã nhận được tiền bảo
hiểm do cơ quan bảo hiểm thanh toán”. Như vậy, nghĩa vụ thanh toán tiền thuê gốc và
lãi theo hợp đồng của Công ty Thái Bình Dương đã được hai bên thỏa thuận trước và
là hậu quả pháp lý tất yếu của việc chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính trước thời
hạn được quy định tại khoản 4 Điều 28 Nghị định số 16/2001/NĐ-CP. Ngoài ra, trong
quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, Công ty
cho thuê tài chính đều khẳng định chỉ chấp nhận chấm dứt hợp đồng trước thời hạn với
điều kiện Công ty Thái Bình Dương phải thanh toán hết tiền thuê gốc và phí thuê theo
hợp đồng.
Do vậy, việc Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng quyết định của bản án sơ thẩm buộc
Công ty Thái Bình Dương thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho Công ty cho thuê tài chính là
“đã giải quyết việc mà đương sự không yêu cầu trái với quy định của khoản 1 Điều 5
Bộ luật tố tụng dân sự. Cần hủy phán quyết về phần này của án sơ thẩm ” là không
có căn cứ pháp luật. Bản án cấp phúc thẩm vì thế chỉ mới xử chấm dứt hợp đồng trước
thời hạn mà không giải quyết hậu quả tất yếu, kéo theo của việc chấm dứt hợp đồng.
Phán quyết trong bản án cấp sơ thẩm buộc Công ty Thái Bình Dương phải trả cho
Công ty cho thuê tài chính số tiền gốc còn lại là 2 tỷ đồng và phí thuê tài chính là
584.020.000 đồng là có căn cứ, đúng pháp luật.