BÌNH LUẬN CÁC BẢN ÁN
VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG
QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
VỤ VIỆC SỐ 1
Nội dung vụ án:
Nguyên đơn ông Dương Quang H, bà Nguyễn Thị Ph trình bày:
Ngày 29/02/2003, vợ chồng ông H - bà Ph và vợ chồng ông Nguyễn Cao Th,
Dương Thị L thoả thuận chuyển nhượng cho nhau 1000 m2 đất với giá 2.000.000 đồng/m2
tại khu vực DC - DN - xã VH - huyện ĐA - tỉnh H. Cùng ngày 29/02/2003, ông H, bà Ph
đã giao cho ông Th 200.000.000 đồng tiền đặt cọc. Ngày 11/3/2003, ông H, bà Ph giao
tiếp tiền đặt cọc lần 2 là 100.000.000 đồng theo đề nghị của ông Th để làm thủ tục giấy
tờ. Khi hai bên giao tiền đặt cọc có viết giấy biên nhận tiền. Đến ngày 19/4/2003, gia
đình ông Th lập giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất với nội dung: Gia đình ông Th
chuyển nhượng cho ông H, bà Ph 1000 m 2 đất tại DC - DN - huyện ĐA - tỉnh H với giá là
2.000.000 đồng/m2. Ông H đã đặt cọc trước 300.000.000 đồng cho gia đình ông Th, khi
nào hoàn thành thủ tục sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì sẽ thanh toán nốt
số tiền còn lại. Theo thoả thuận ông Th phải làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
mang tên ông Dương Quang H nhưng ông Th không làm được Giấy chứng nhận quyền
sử dụng vì đất đó là đất canh tác chưa được cấp Giấy chứng nhận. Do vậy hai bên thống
nhất chuyển nhượng cho nhau mảnh đất khác là đất thổ cư của gia đình ông Th tại xóm 4
- khu Tr - DN - xã VH - huyện ĐA - tỉnh H. Gia đình ông Th và vợ chồng ông H đã thoả
thuận chuyển nhượng 160 m2 đất thổ cư thuộc thửa số 10, tờ bản đồ số 36 tại khu Tr - DN
- xã VH - huyện ĐA - tỉnh H trong tổng số 746 m2 đất ở của gia đình ông Th với giá
2.000.000
đồng/m2.
Số tiền đặt cọc 300.000.000 đồng để nhận chuyển nhượng 1000 m 2 đất ở DC - DN - xã
1
khai của ông H. Ông có nhận của ông H 300.000.000 đồng tiền đặt cọc, khi nhận tiền có
viết giấy biên nhận. Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa gia đình ông và vợ
chồng ông H không thành là đúng. Vì việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất này không
thành nên hai bên có thoả thuận chuyển nhượng 160m2 đất thổ cư của gia đình ông cho
vợ chồng ông H với giá 2.000.000 đồng/m 2, tổng số tiền là 320.000.000 đồng và gia đình
ông đã nhận 300.000.000 đồng còn lại 12.800.000 đồng. Lý do còn lại 12.800.000 đồng
lẽ ra phải còn 20.000.000 đồng vì hai bên thống nhất với nhau trừ tiền lãi của số tiền
300.000.000 đồng ông Th đã nhận trước. Thực tế giữa ông Th và ông H trước đó ngày
06/8/2003 thoả thuận 160 m2 đất này có giá 500.000.000 đồng, ông đã nhận đủ số tiền
500.000.000 đồng này. Sau đó ông Th cho ông H vay lại toàn bộ số tiền 500.000.000
đồng với thời hạn 01 năm, lãi suất theo mức lãi suất gửi vào ngân hàng. Như ng sau này
ông Th và ông H thoả thuận ghi thấp xuống giá trị chuyển nhượng 160 m2 đất là
320.000.000 đồng để đỡ phải nộp thuế nhiều. Tính lãi 01 năm của số tiền 300.000.000
đồng là 7.200.000 đồng nên số tiền ghi trong hợp đồng vợ chồng ông H phải trả cho ông
là 20.000.000 đồng - 7.200.000 đồng = 12.800.000 đồng. Sau khi lập giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất gia đình ông đã bàn giao cho vợ chồng ông H đủ 160 m 2 đất như
đã ghi trong hợp đồng và để cho vợ chồng ông H xây dựng công trình nhà ở trên đất.
Hiện nay vợ chồng ông H vẫn đang quản lý sử dụng 160m 2 đất ở đó và khi xây dựng
công trình trên đất gia đình ông Th không phản đối gì về việc mua bán giữa hai bên.
Nhưng ông Th và ông H thoả thuận với nhau khi nào ông H trả nốt số tiền 200.000.000
đồng và tiền lãi thì gia đình ông Th mới làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho cho vợ chồng ông H. Vì vợ chồng ông H không trả nốt ông Th số tiền
200.000.000 đồng và tiền lãi nên gia đình ông không làm thủ tục xin cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho cho vợ chồng ông H. Nay vợ chồng ông H khởi kiện buộc
gia đình ông Th thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 11/3/2004,
ông không chấp nhận vì khi nào vợ chồng ông H trả gia đình ông số tiền 200.000.000
đồng thì gia đình ông Th mới làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
cho cho vợ chồng ông H.
3
quyền sử dụng đất xác lập ngày 11/3/2004 giữa ông H, bà Ph và vợ chồng ông Th, bà L,
buộc vợ chồng ông Th, bà L phải hoàn tất thủ tục để cơ quan nhà nước có thẩm quyền
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng diện tích 160 m 2 đất thuộc thuộc thửa số 10, tờ bản
đồ số 36 tại khu Tr - DN - VH - ĐA - H theo thỏa thuận các bên đã ký trong hợp đồng
ngày 11/3/2004. Từ các phân tích trên, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các
bên là tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 705
BLDS năm 1995. Thời điểm xác lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa
các bên BLDS năm 1995 đang có hiệu lực pháp luật nên áp dụng BLDS năm 1995 và
Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân
và gia đình để giải quyết tranh chấp.
Điều 705 BLDS năm 1995 quy định:
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là sự thoả thuận giữa các bên tuân
theo các điều kiện, nội dung, hình thức chuyển quyền sử dụng đất được Bộ luật này và
pháp luật về đất đai quy định, theo đó người sử dụng đất (gọi là bên chuyển quyền sử
dụng đất) chuyển giao đất và quyền sử dụng đất cho người được chuyển nhượng (gọi là
bên nhận quyền sử dụng đất), còn người được chuyển nhượng trả tiền cho người chuyển
nhượng.
* Về tính hợp pháp của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
11/3/2004 giữa ông Th, bà L và ông H, bà Ph:
Về hình thức hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở ngày 11/3/2004 giữa
đại diện bên bán gồm ông Nguyễn Cao Th, bà Dương Thị L; bên mua là ông Dương
Quang H và bà Nguyễn Thị Ph không có công chứng, chứng thực của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền theo quy định tại Điều 707 BLDS năm 1995. Tuy nhiên, thời điểm chuyển
nhượng diện thực hiện trước khi Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực (ngày 01/7/2004).
Sau khi chuyển nhượng đất ông Th, bà L đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
5
a.1) Người tham gia giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có năng
lực hành vi dân sự;
a.2) Người tham gia giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoàn toàn
tự nguyện;
a.3) Mục đích và nội dung của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không
trái pháp luật, đạo đức xã hội;
a.4) Đất chuyển nhượng đã được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm
2003;
a.5) Bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có đủ điều kiện chuyển nhượng và
bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có đủ điều kiện về nhận chuyển nhượng
theo quy định của pháp luật;
a.6) Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được lập thành văn bản có chứng
nhận của Công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm
quyền.
b) Xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không có đầy đủ các điều
kiện được hướng dẫn tại điểm a tiểu mục 2.3 mục 2 này.
b.1) Đối với hợp đồng được giao kết trước ngày 01/7/2004 vi phạm điều kiện được
hướng dẫn tại điểm a.4 tiểu mục 2.3 mục 2 này, nhưng đã có một trong các loại giấy tờ
về quyền sử dụng đất được quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai
năm 2003, mà có phát sinh tranh chấp, nếu từ ngày 01/7/2004 mới có yêu cầu Toà án giải
quyết, thì không coi là hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều kiện này.
b.2) Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà tại thời điểm giao kết
vi phạm các điều kiện được hướng dẫn tại điểm a.4 và điểm a.6 tiểu mục 2, 3 mục 2 này,
nhưng sau đó đã được Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất hoặc một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của
7
Luật Đất đai năm 2003 mà có phát sinh tranh chấp và từ ngày 01/7/2004 mới có yêu cầu
Bên ông Th, bà L cho rằng giá trị của hợp đồng là 500.000.000 đồng và ông H, bà
Ph còn vay nợ của ông bà 500.000.000 đồng nhưng không xuất trình được chứng cứ
chứng minh nên ý kiến của ông Th, bà L là không có cơ sở.
Từ những phân tích trên, vụ việc có thể được giải quyết như sau:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Dương Quang H và bà Nguyễn Thị Ph đối
với ông Nguyễn Cao Th và bà Dương Thị L về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất ở.
Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở ngày 11/3/2004 gữa ông
Dương Quang H, bà Nguyễn Thị Ph và ông Nguyễn Cao Th, bà Dương Thị L có hiệu lực.
Ông Dương Quang H và bà Nguyễn Thị Ph được quyền đến cơ quan nhà nước có
thẩm quyền làm thủ tục sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 160m 2 đất
thuộc thửa số 10 tờ bản đồ số 36 tại khu Tr - DN - xã VH - huyện ĐA - tỉnh H của hộ gia
đình ông Nguyễn Cao Th theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở ngày
11/3/2004.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà Ph, ông H chịu mọi khoản thuế theo quy định của
pháp luật khi làm thủ tục sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng phần diện tích đất
chuyển nhượng với gia đình ông Th.
2. Ông Dương Quang H và bà Nguyễn Thị Ph phải có trách nhiệm thanh toán cho
ông Nguyễn Cao Th, bà Dương Thị L 4% giá trị hợp đồng tại thời điểm xét xử (tương
ứng với 12.800.000 đồng ông H, bà Ph còn phải trả cho ông Th, bà L tại thời điểm giao
kết hợp đồng) cụ thể là 22.400.000 đồng.
VỤ VIỆC SỐ 2
Nội dung vụ án:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:
Nguồn gốc diện tích đất vườn 264m 2 thuộc thửa số 12, tờ bản đố số 5 tại tổ 13,
phường Thượng Thanh, quận Long B, thành phố Hà N là của ông Đặng Văn V mua của
9
ông Đặng Văn L từ năm 1979. Năm 1988, sau khi đã ly hôn với chồng là ông Nguyễn
ông đã trồng cây và xây dựng công trình trên đất. Hiện tại vợ chồng ông đã được cấp sổ
đỏ, trên diện tích đất này ông vẫn trồng cây ăn quả và xây dựng các công trình.
Nay bà H cho rằng ông còn nợ bà 200.000 đồng do tiền bà H bán lại đất cho ông
năm 1991 là không đúng và không có căn cứ vì ông và bà H đã thanh toán sòng phẳng
không có nợ nần. Đề nghị Toà án không chấp nhận yêu cầu vô lý của bà H.
Bà Nguyễn Thị Kh trình bày thống nhất với lời trình bày của ông V.
Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện:
Diện tích đất vườn 264m2 thuộc thửa số 12, tờ bản đồ số 5 tại tổ 13, phường
Thượng Thanh, quận Long B, thành phố Hà N đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số 02315764 ngày 26/5/2002 đứng tên ông Đặng Văn V và bà Nguyễn Thị Kh.
“Giấy nhượng đất và hoa màu” ngày 20/4/1988 có nội dung ông V bán cho bà H diện tích
264m2 đất và hoa màu có giá trị bằng chiếc máy khâu.
Bình luận:
* Về quan hệ pháp luật tranh chấp:
Năm 1991, giữa bà H và ông V xác lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
264m2 đất vườn. Về hình thức của hợp đồng cả hai bên đều thừa nhận chỉ thỏa thuận
miệng. Quá trình thực hiện hợp đồng bên nhận chuyển nhượng ông V đã giao cho bên
nhận chuyển nhượng bà H số tiền 300.000 đồng (là tiền bà Hợp và của ông V). Bên nhận
chuyển nhượng đã nhận đất và trồng cây, xây dựng công trình trên đất, hai bên không có
bất cứ tranh chấp gì. Bên chuyển nhượng bà H khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng 264m2 đất tại tổ 13, phường Thượng Thanh, quận Long B,
thành phố Hà N giữa bà và ông V là vô hiệu, buộc ông V phải trả lại cho bà số tiền
200.000 đồng chưa thanh toán bằng 1/5 giá trị đất hiện nay hoặc bằng tiền đất theo giá thị
trường tại thời điểm hiện nay.
Từ các tình tiết trên của vụ án chúng ta xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong
vụ án là tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
11
* Về giá chuyển nhượng diện tích đất tranh chấp giữa ông V và bà H năm 1991:
200.000 đồng chưa thanh toán bằng 1/5 giá trị đất hiện nay hoặc bằng tiền đất theo giá thị
trường tại thời điểm hiện nay của bà H không được chấp nhận.
* Về tính hợp pháp của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà H
và ông V năm 1991:
Về nguồn gốc diện tích đất đang tranh chấp hiện nay các bên đương sự trong vụ án
đều xác nhận là của ông Đặng Văn V mua của ông Đặng Văn L từ năm 1979, đến nay
giữa ông V và ông L không có tranh chấp gì. Tại thời điểm năm 1988 và năm 1991, pháp
luật thời kỳ này nghiêm cấm việc mua bán, chuyển nhượng đất dưới bất kỳ mọi hình
thức. Do đó, về mặt nguyên tắc, hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông V và bà H năm
1988 và hợp đồng nhượng lại đất giữa bà H và ông V năm 1991 là vi phạm Điều 5 Luật
Đất đai năm 1987. Tuy nhiên, sau khi xác lập hợp đồng, các bên đã thực hiện hợp đồng.
Bà H đã nhận 300.000 đồng (là số tiền bà H vay của ông V). Thực tế, ông V cũng đã
nhận đất và đã quản lý sử dụng, từ năm 1991 gia đình ông V đã trồng cây lâu năm, xây
dựng công trình trên đất và hiện tại gia đình ông vẫn đang là người sử dụng đất. Mặt
khác, ông Đặng Văn V và bà Nguyễn Thị Kh đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đối với diện tích đất 264m2 thuộc thửa số 12, tờ bản đố số 5 tại tổ 13, phường
Thượng Thanh, quận Long B, thành phố Hà N nên đủ điều kiện công nhận hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất xác lập giữa bà H và ông V năm 1991 theo quy định
tại Tiểu mục 2.2, Mục 2 Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao ngày 12/8/2004 hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết
các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình. Do đó, yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất xác lập giữa bà H và ông V năm 1991 vô hiệu của bà H không
được chấp nhận.
Điều 5 Luật Đất đai năm 1987 quy định:
Nghiêm cấm việc mua, bán, lấn, chiếm đất đai, phát canh thu tô dưới mọi hình thức,
nhận đất được giao mà không sử dụng, sử dụng không đúng mục đích, tự tiện sử dụng đất
nông nghiệp, đất có rừng vào mục đích khác, làm huỷ hoại đất đai.
13
bà Nguyễn Thị Kh.
VỤ VIỆC SỐ 3
Nội dung vụ án:
* Nguyên đơn ông Phi Quang T, bà Lê Minh H trình bày:
Ngày 28/8/2003 vợ chồng ông và vợ chồng anh H, chị H đã ký kết “Hợp đồng
chuyển nhận quyền sử dụng đất và nhà ở” có nội dung: vợ chồng anh H, chị H chuyển
nhượng cho vợ chồng ông T, bà H quyền sử dụng khoảng 85m 2 đất, giá là: 3.000.000
đồng/m2 thửa đất số 16, tờ bản đồ 29 năm 1994 (thửa 385, tờ bản đồ 06 năm 1986) tại
Đội 3 - Tả Thanh Oai - Thanh T- Hà N.
Ngày 18/10/2003 hai bên tiến hành giao đất theo vị trí tường bao khuôn viên và xác
định thực tế đất chuyển nhượng là 77,5m 2 với giá tiền là 232.500.000 đồng, có biên bản
đo thực tế mảnh đất kèm theo.
Do anh H, chị H không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không thể hoàn
tất thủ tục hợp đồng. Vì vậy, ngày 01/11/2005, ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết
tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Toà án nhân dân huyện Thanh T
đã thụ lý vụ án số 45 về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Ngày 17/01/2006 Toà án nhân dân huyện Thanh T ra Quyết định đình chỉ số 02 do
nguyên đơn rút yêu cầu để yêu cầu công an huyện Thanh Trì xử lý. Ngày 26/5/2006
Công an huyện Thanh T đã có Thông báo giải quyết đơn thư với nội dung: việc mua bán
đất chưa làm đầy đủ thủ tục theo quy định của pháp luật, không có dấu hiệu hình sự và là
tranh chấp dân sự, không thuộc thẩm quyền giải quyết của Công an huyện Thanh T. Ngày
04/12/2007 vợ chồng ông T, bà H tiếp tục khởi kiện vụ án dân sự tại Toà án nhân dân
huyện Thanh T. ông T, bà H yêu cầu:
- Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T, bà H ngày
28/8/2003 là vô hiệu.
15
- Yêu cầu vợ chồng anh H, chị H phải thanh toán trả cho vợ chồng ông bà tổng cộng
Bình luận:
* Về quan hệ pháp luật tranh chấp:
Giữa ông T, bà H và anh H, chị H đã xác lập và thực hiện quan hệ hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp (đất 5%). Ông T, bà H yêu cầu tuyên bố hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 28/8/2003 là vô hiệu, vợ chồng anh H, chị
H phải thanh toán trả cho vợ chồng ông bà tổng cộng số tiền là: 493.402.000 đồng. Từ
các tình tiết trong vụ án chúng ta xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là
tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
* Về tính hợp pháp của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất xác lập
giữa ông T, bà H và anh H, chị H ngày 28/8/2003:
- Về hình thức: hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không được công
chứng; chứng thực tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền là vi phạm vào Điều 131, 707
BLDS năm 1995 về hình thức hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Điều 131 BLDS năm 1995 quy định:
Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
1- Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;
2- Mục đích và nội dung của giao dịch không trái pháp luật, đạo đức xã hội;
3- Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện;
4- Hình thức giao dịch phù hợp với quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Thửa đất số 385 tờ bản đồ số 06 năm 1986 (thửa 16 tờ 29 năm 1994)
mà hai bên chuyển nhượng là đất nông nghiệp 5% chưa có quyết định của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền về chuyển đổi mục đích sử dụng từ đất nông nghiệp sang đất ở và
cũng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Như vậy, các bên đã vi phạm
vào Điều 693 BLDS năm 1995 và khoản 1 Điều 30 Luật Đất đai năm 1993. Do đó, hợp
17
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên là giao dịch dân sự vô hiệu về nội dung, vi
phạm Điều 137 BLDS năm 1995.
ông Phi Quang T, bà Lê Minh H và anh Nguyễn Văn H, chị Vũ Thị H là giao dịch dân sự
vô hiệu cả về hình thức và nội dung nên yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu của bên
nguyên đơn được chấp nhận, ý kiến của bị đơn về việc công nhận hợp đồng là không
đúng pháp luật
* Về giải quyết yêu cầu của ông T, bà H:
Do giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu nên căn cứ vào Điều 146
BLDS năm 1995 để giải quyết hậu quả. Trong trường hợp này cả hai bên tham gia giao
dịch chuyển nhượng đều có lỗi. Bên chuyển nhượng biết là đất nông nghiệp 5% những
vẫn cố tình thực hiện việc chuyển nhượng. Bên nhận chuyển nhượng do quá tin vào lời
hứa của người chuyển nhượng, đồng thời không tìm hiểu kỹ đã nhận chuyển nhượng phải
đất nông nghiệp 5%. Song vì vợ chồng anh H, chị H đã cam kết về tính hợp pháp của
thửa đất và quá trình sử dụng cũng như làm thủ tục kê khai để xin cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất được thể hiện tại nội dung khoản 2 Điều 4 Hợp đồng chuyển nhượng
ngày 28/8/2003 và bản cam kết giữa hai bên ngày 10/10/2003. Vì vậy, phải xác định anh
H, chị H có lỗi nhiều hơn nên phải chịu 2/3 lỗi, vợ chồng ông T, bà H phải chịu 1/3 lỗi là
phù hợp với pháp luật và thực tế.
Tổng giá trị hợp đồng là 232.500.000 đồng, ông T, bà H đã giao cho vợ chồng anh
H, chị H 227.500.000 đồng. Như vậy đã thực hiện 97,85% giá trị của hợp đồng.
Vì đối tượng chuyển nhượng là quyền sử dụng đất, do đó phải tính thiệt hại của hợp
đồng cũng trên cơ sở của giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm xét xử. Theo biên bản
của hội đồng định giá thì giá trị quyền sử dụng đất là 4.000.000 đồng/m 2 cụ thể là:
4.000.000 đồng/m2 x 77,5m2 x 97,85% - 227.500.000 đồng = 75.835.000 đồng.
19
Do vợ chồng ông T, bà H phải chịu 1/3 lỗi nên phải chịu số tiền là 75.835.000 đồng
x 1/3 = 25.278.000 đồng.
Vợ chồng anh H, chị H phải chịu 2/3 lỗi nên phải chịu số tiền là: 75.835.000 đồng x
2/3 = 50.556.000 đồng.
trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật, thì phải hoàn trả
bằng tiền. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.
Tuỳ từng trường hợp, xét theo tính chất của giao dịch vô hiệu, tài sản giao dịch và
hoa lợi, lợi tức thu được có thể bị tịch thu theo quy định của pháp luật.
Điểm c.3 - Mục 2.3 phần II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004
của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao quy định:
c.3. Xác định thiệt hại.
- Khi tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu thì Toà án cần
xác định thiệt hại gồm:
Khoản tiền mà bên chuyển nhượng phải bỏ ra để khôi phục lại tình trạng ban đầu
của diện tích đất do bên nhận chuyển nhượng đã làm huỷ hoại đất; khoản tiền mà bên
nhận chuyển nhượng đã đầu tư để cải tạo làm tăng giá trị quyền sử dụng đất, giá trị công
trình, tài sản, cây lâu năm... trên đất. Trong trường hợp hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất không có thoả thuận khác về việc áp dụng biện pháp phạt vi phạm hợp đồng
và bồi thường thiệt hại quy định tại Điều 379 BLDS để bảo đảm thực hiện hợp đồng thì
thiệt hại còn bao gồm khoản tiền chênh lệch giá trị quyền sử dụng đất do các bên thoả
thuận với giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm xét xử sơ thẩm hoặc các thiệt hại khác,
nếu có.
- Để xác định đúng các thiệt hại nói trên, Toà án phải tiến hành định giá giá trị
quyền sử dụng đất và xác định thiệt hại về đất như sau:
Nếu các đương sự không thoả thuận được về giá trị quyền sử dụng đất và giá trị
thiệt hại, thì Toà án yêu cầu cơ quan chuyên môn định giá hoặc ra quyết định thành lập
21
hội đồng định giá. Giá trị quyền sử dụng đất được xác định theo giá thị trường chuyển
nhượng tại địa phương nơi đất đang tranh chấp đối với từng loại đất vào thời điểm xét xử
sơ thẩm.
Trong trường hợp UBND cấp tỉnh có quy định giá trị quyền sử dụng đất cụ thể phù
hợp với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo giá thị trường tại địa phương hoặc
VỤ VIỆC SỐ 4
Nội dung vụ án:
Nguyên đơn chị Tạ Thị Thu H trình bày:
Chị có nhu cầu mua đất để làm nhà ở, thông qua chị Ngô Thị Đ giới thiệu vợ chồng
anh L ở Minh Phú, Sóc S có đất thổ cư, nhưng không có nhu cầu sử dụng, muốn chuyển
nhượng quyền sử dụng đất, chị H gặp vợ chồng anh L, chị L đặt vấn đề chuyển nhượng
để lấy đất làm nhà ở. Hai bên thoả thuận chuyển nhượng 175m 2 với giá thành là
165.000.000 đồng. Ngày 01/6/2004, chị và anh Nguyễn Văn L trú tại Phú Thịnh, xã Minh
Phú, huyện Sóc S, Hà N giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất viết tay có
diện tích là 175m2. Trước ngày hai bên giao kết hợp đồng, chị đặt cọc tiền cho vợ chồng
anh L hai lần (lần 1 là 6.000.000 đồng, lần 2 là 59.000.000 đồng). Vợ chồng anh L cam
kết sau 45 ngày sẽ hoàn thành thủ tục chuyển nhượng, trước đó giữa hai bên còn giao kết
hợp đồng kèm theo đảm bảo thực hiện hợp đồng. Nhưng đến nay, vợ chồng anh L vẫn
chưa làm được giấy tờ hợp pháp để chuyển nhượng đất.
Qua thông tin chị biết được, diện tích đất chuyển nhượng và toàn bộ khu đất liền kề
xung quanh mà thôn, xã tự ý bán cho dân, nhưng đến nay chưa chuyển đổi thành đất thổ
cư, hiện vẫn là đất nông nghiệp, do đó, chị muốn không mua nữa, mặt khác, thực tế anh L
cũng không làm được thủ tục chuyển đổi thành đất thổ cư để sang tên cho chị như đã cam
kết trong hợp đồng, lỗi này do vợ chồng anh L phải chịu. Chị yêu cầu vợ chồng anh L
phải hoàn lại số tiền đặt cọc 65.000.000 đồng và phải chịu phạt cọc là 60.000.000 đồng
và phải trả số tiền cọc và phạt cọc một lần.
Bị đơn Nguyễn Văn L và chị Ngô Thị L trình bày:
23
Gia đình anh được mua đất đấu thầu đất giãn dân, nhưng không có nhu cầu sử dụng
nên ngày 01/6/2004 vợ chồng anh giao kết hợp đồng chuyển nhượng diện tích đất được
mua cho chị H. Trước khi chuyển nhượng chị H đã đến xem đất và tự nguyện đặt cọc hai
lần. Tổng số tiền là 65.000.000 đồng. Hai bên còn thoả thuận điều kiện thực hiện hợp
đồng là: sau 45 ngày kể từ ngày 01/6/2004 phải hoàn thành thủ tục. Hết thời hạn trên, anh