BÌNH LUẬN CÁC VỤ ÁN ĐIỂN HÌNH
VỀ TRANH CHẤP LY HÔN
VỤ VIỆC SỐ 1
Nội dung vụ án:
Nguyên đơn - ông Nguyễn Bá H trình bày:
Ông H và bà M kết hôn năm 1972 có đăng ký kết hôn ngày 21/3/1972 tại UBND xã
TD. Việc ông kết hôn với bà M là do lúc đó ông còn đang đi học, bị bố mẹ ép buộc.
Hai vợ chồng chung sống hoà thuận đến năm 1990 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên
nhân do vợ chồng ông có sự bất đồng về nhận thức, tư tưởng và lối sống, bà M đi theo
đạo Long Hoa Di Lặc, không thờ cúng tổ tiên. Ông H đã khuyên giải nhiều lần nhưng bà
M không nghe. Đặc biệt từ năm 2002 cho đến nay, bà M không tôn trọng chồng, bịa đặt
nhiều chuyện làm mất danh dự của ông H. Thực tế vợ chồng ông H bà M đã ly thân với
nhau từ năm 1990. Nay tình cảm giữa ông với bà M không còn, nên ngày 20/10/2007,
ông H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà M.
Về con chung: Vợ chồng ông có bốn con chung gồm:
- Nguyễn Thị N, sinh năm 1973.
- Nguyễn Bá D, sinh năm 1980 (đã chết 2001).
- Nguyễn Thị T, sinh năm 1982.
- Nguyễn Thị Lan P, sinh năm 1987.
Các con hiện nay đã trưởng thành, việc ở với ai là do các con tự quyết định.
Về động sản: Ông bà có những tài sản chung sau:
- 02 chiếc giường.
1
- 01 tủ đứng ba buồng.
- 01 bộ bàn ghế ngồi.
- 01 vô tuyến.
Khi
ly
sức ít hơn; các con khi đó còn nhỏ, đang đi học nên không có công sức gì.
Năm 2006, chị N bỏ tiền để làm chuồng gà nhưng không được sự đồng ý của ông
H. Chị N có lăn sơn tường nhà, trát lại tường cũng không được ông đồng ý. Chị P đi học
không có đóng góp gì. Gia đình ông đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
đứng tên bà M là chủ hộ. Đây là nhà đất của tổ tiên để lại nên khi ly hôn, ông đề nghị
được hưởng toàn bộ, ông sẽ hỗ trợ cho bà M 10.000.000 đồng để bà M lo chỗ ở mới.
Bị đơn - bà Nguyễn Thị M trình bày:
Bà M và ông H lấy nhau trên cơ sở tự nguyện và được sự đồng ý của hai gia đình,
có đăng ký kết hôn ngày 21/3/1972 tại UBND xã TD, huyện ĐA, tỉnh H. Cuộc sống vợ
chồng hoà thuận, hạnh phúc và đã có 4 con chung là:
- Nguyễn Thị N - sinh năm 1973.
- Nguyễn Bá D - sinh năm 1980 (đã chết).
- Nguyễn Thị T- sinh năm 1982.
- Nguyễn Thị Lan P - sinh năm 1987.
Suốt thời gian ông H công tác trong miền Nam, một mình bà nuôi dạy các con, gánh
vác công việc gia đình nhà chồng, làm trọn đạo dâu con. Do ông H có quan hệ bất chính
với người phụ nữ khác nên nay có đơn xin ly hôn bà, bà M không đồng ý. Bà M vẫn còn
2
tình cảm với ông H, lúc nào mẹ con bà cũng giang tay đón ông H về, bà đề nghị Toà án
bác đơn ly hôn của ông H, tạo điều kiện cho vợ chồng bà được đoàn tụ. Bà M xác nhận
bà có theo đạo Long Hoa Di Lặc, nhưng với mục đích tu nhân, tích đức làm điều thiện,
không hại ai. Đồng thời, bà M vẫn cúng giỗ tổ tiên bình thường.
Về tài sản:
- Động sản: Vợ chồng bà có: 01 tủ chè, 01 tủ đứng, 02 chiếc giường, 01 khuôn
tranh, 01 ti vi, 01 bộ bàn ghế.
- Về bất động sản: Ngôi nhà cấp 4 năm gian trên diện tích 375m 2 đất là của bố mẹ
chồng bà để lại cho vợ chồng bà. Năm 1998, bà được UBND huyện ĐA cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất ở cho hộ gia đình bà. Quá trình ở đây bà có sửa chữa, tu bổ như:
dung xác nhận về sự thiệt thòi của bà M trong nhiều năm qua do phía ông H không quan
tâm. Đồng thời quý Hội cũng đề nghị xem xét và bác đơn xin ly hôn của ông H.
- “Đơn kiến nghị” ngày 15/3/2008 của nội tộc gia đình ông H gửi Toà án với nội
dung xác nhận: Quá trình chung sống hạnh phúc giữa ông H và bà M; bà M là người phụ
nữ chịu thương, chịu khó, sống chung thuỷ với chồng, có hiếu với bố mẹ, hoà thuận với
họ hàng nội ngoại; lý do ông H xin ly hôn bà M là không chính đáng; đề nghị Toà án xử
bác đơn ly hôn của ông H.
Tại phiên toà sơ thẩm: Ông Nguyễn Bá H vẫn giữ yêu cầu xin ly hôn bà Nguyễn
Thị M. Bà Nguyễn Thị M đề nghị Toà án bác yêu cầu ly hôn của ông H, để vợ chồng bà
có điều kiện đoàn tụ gia đình. Chị Nguyễn Thị N và chị Nguyễn Thị T đề nghị Toà án
giải quyết theo pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho bà M.
Bình luận:
* Về quan hệ hôn nhân của Ông Nguyễn Bá H và bà Nguyễn Thị M:
Ông Nguyễn Bá H và bà Nguyễn Thị M kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký
kết hôn tại UBND xã TD ngày 21/3/1972. Quan hệ hôn nhân giữa ông H và bà M không
vi phạm các điều kiện kết hôn do pháp luật quy định nên là hôn nhân hợp pháp. Quan hệ
4
hôn nhân giữa ông H và bà M xác lập vào năm 1972 nên luật áp dụng để xem xét tính
hợp pháp của quan hệ hôn nhân giữa ông H, bà M là Luật Hôn nhân và gia đình năm
1959. Cần phải căn cứ các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 để xác định
tính hợp pháp của hôn nhân, cụ thể các điều 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11 Luật Hôn nhân và gia
đình năm 1959 đã quy định các điều kiện kết hôn.
Điều 4 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 quy định:
Con trai và con gái đến tuổi, được hoàn toàn tự nguyện quyết định việc kết hôn của
mình; không bên nào được ép buộc bên nào, không một ai được cưỡng ép hoặc cản trở.
Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 quy định:
Cấm người đang có vợ, có chồng kết hôn với người khác.
Điều 6 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 quy định:
nhà chồng. Việc bà theo đạo Long Hoa Di Lặc là với mục đích tu nhân, tích đức làm điều
thiện, không hại ai. Nay ông H xin ly hôn bà là do ông có quan hệ bất chính với người
phụ nữ khác nên bà không đồng ý ly hôn.
Xem
xét
các
tài
liệu,
chứng
cứ
có
trong
hồ
sơ
vụ
án,
cụ thể:
không phù hợp với Điều 18, 22 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Trong quan hệ hôn
nhân và gia đình, vợ chồng bình đẳng và mỗi người đều có quyền tự do tín ngưỡng, tự do
theo hoặc không theo tôn giáo; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở.
Điều 18 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định:
Tình nghĩa vợ chồng
Vợ chồng chung thuỷ, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau
xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững.
7
Điều 22 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định:
Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng
Vợ, chồng tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhau; không được cưỡng
ép, cản trở nhau theo hoặc không theo một tôn giáo nào.
Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định:
Căn cứ cho ly hôn
1. Toà án xem xét yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống
chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Toà án quyết định
cho ly hôn.
2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Toà án tuyên bố mất tích xin ly
Muc 8 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2000 quy định:
Căn cứ cho ly hôn (Điều 89)
a) Theo quy định tại khoản 1 Điều 89 thì Toà án quyết định cho ly hôn nếu xét thấy
tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài được, mục đích của hôn nhân
không đạt được.
a.1) Được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi:
- Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào
chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì
tuông nên đã đánh đập chị L. Nay cả anh Nh và chị L đều khẳng định tình cảm vợ chồng
không còn, vợ chồng không ai quan tâm đến ai, chị L làm đơn xin ly hôn, anh Nh không
đồng ý, đề nghị Toà án hoà giải để vợ chồng được đoàn tụ.
- Về con chung: Anh chị có 2 con chung:
9
+ Cháu Nguyễn Anh T, sinh ngày 28/02/1989.
+ Cháu Nguyễn Minh H, sinh ngày 03/5/1995.
Cháu T đã trưởng thành. Ly hôn cả chị L và anh Nh đều xin được nuôi cháu H.
- Về tài sản chung:
+ Động sản: Đồ dùng sinh hoạt gồm có: 1 xe máy Trung Quốc biển kiểm soát L4783, 1 tủ tường, 1 vô tuyến, 1 bộ bàn ghế sa lông, 1 quạt cây, 1 quạt bàn, 2 giường đôi, 1
tủ giấy, 1 chăn to, 1 tủ gỗ cũ, 1 bếp gas đôi, 1 nồi cơm điện, 1 nồi gang, 1 bộ loa Trung
Quốc, 3 đồng hồ treo tường, 4 chậu nhôm to nhỏ, 3 chăn cũ, 1 hòm sắt cũ, 1 ấm đun điện,
2 quạt treo tường, 1 vỏ bình gas, 2 gối cũ. Ly hôn anh Nh, chị L thỏa thuận để anh Nh sở
hữu toàn bộ số tài sản trên mà không yêu cầu phải thanh toán chênh lệch tài sản cho chị.
+ Về bất động sản:
Nhà đất tại thửa số 19 tờ bản đồ số 27 thôn PL, xã MK huyện TL, tỉnh H. Nhà tại
thôn PL, xã MK, huyện TL hiện anh Nh đang ở quản lý sử dụng có nguồn gốc đất trước
đây năm 1980 ông Nguyễn Văn T - bố của anh Nh, làm đơn xin cấp đất giãn dân. Sau khi
được cấp đất giãn dân một thời gian ngắn thì ông T mất. Anh Nh đi bộ đội về và ra mảnh
đất này làm nhà cấp 4 để ở. Năm 1988, anh Nh và chị L lấy nhau và ở tại đây. Quá trình
ở, anh Nh, chị L tôn đất trồng cây, xây tường bao quanh. Năm 2003, anh Nh được cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 264m 2. Khi làm nhà năm 2004, vợ chồng
anh Nh, chị L phá nhà cũ đi có tận dụng khoảng 60% gạch cũ để xây nhà, xây công trình
phụ, bếp, bể nước, láng sân xi măng, xây tường rào xung quanh nhà, tôn đất lên cao. Nay
ly hôn chị L có yêu cầu xin được chia chỗ ở. Anh Nh không nhất trí với yêu cầu này của
chị L.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (anh Nguyễn Văn C - anh trai anh Nh)
trình bày:
năm 1986 để xác định tính hợp pháp của hôn nhân giữa chị L và anh Nh, cụ thể tại các
điều 5, 6, 7, 8, 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 đã quy định các điều kiện kết hôn.
11
Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 quy định:
Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên mới được kết hôn.
Điều 6 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 quy định:
Việc kết hôn do nam nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc bên
nào, không ai được cưỡng ép hoặc cản trở.
Điều 7 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 quy định:
Cấm kết hôn trong những trường hợp sau đây:
a) Đang có vợ hoặc có chồng;
b) Đang mắc bệnh tâm thần không có khả năng nhận thức hành vi của mình; đang
mắc bệnh hoa liễu;
c) Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa anh chị em cùng cha mẹ, cùng
cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha; giữa những người khác có họ trong phạm vi ba đời;
d) Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi.
Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 quy định:
Việc kết hôn do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thường trú của một trong
hai người kết hôn công nhận và ghi vào sổ kết hôn theo nghi thức do Nhà nước quy định.
Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau ở ngoài nước do cơ quan đại diện
ngoại giao của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận.
Mọi nghi thức kết hôn khác đều không có giá trị pháp lý.
Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 quy định:
Việc kết hôn vi phạm một trong các ddiều 5, 6, 7 của Luật này là trái pháp luật.
Một hoặc hai bên đã kết hôn trái pháp luật, vợ, chồng hoặc con của người đang có
vợ, có chồng mà kết hôn với người khác, Viện kiểm sát nhân dân, Hội liên hiệp phụ nữa
12
2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Toà án tuyên bố mất tích xin ly
hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn.
* Về việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con:
Anh Nh và chị L có 2 con chung: Cháu Nguyễn Anh T - sinh ngày 28/02/1989,
Cháu Nguyễn Minh H - sinh ngày 03/5/1995. Cháu T đã đủ 18 tuổi, không bị mất năng
lực hành vi dân sự nên theo quy định tại Điều 92 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
việc ở với ai là do các cháu tự quyết định, Toà án không xem xét việc giao nuôi cháu T.
Cháu H có đơn xin được ở với anh Nh; chị L, anh Nh đều thống nhất đề nghị Toà án giải
quyết theo nguyện vọng cháu H, chị L không phải đóng góp nuôi con. Sự tự nguyện của
cháu H, anh Nh, chị L là phù hợp với Điều 92 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
Điều 92 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định:
Việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn
1. Sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi
dưỡng con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự,
không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
2. Vợ, chồng thoả thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên
sau khi ly hôn đối với con; nếu không thoả thuận được thì Toà án quyết định giao con
cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ chín
tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
Về nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên
không có thoả thuận khác.
* Về tài sản chung:
- Về động sản: Các tài sản là động sản thuộc sở hữu chung của chị L, anh Nh gồm
có: 1 xe máy Trung Quốc biển kiểm soát L-4783, 1 tủ tường, 1 vô tuyến, 1 bộ bàn ghế sa
lông, 1 quạt cây, 1 quạt bàn, 2 giường đôi, 1 tủ giấy, 1 chăn to, 1 tủ gỗ cũ, 1 bếp gas đôi,
14
sở
hữu
chung
hợp nhất.
2. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy
định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong Giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của
cả vợ chồng.
3. Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có
tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung.
Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 quy định:
Quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự
15
1. Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Toà án có thẩm quyền giải
quyết vụ việc dân sự. Toà án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện,
đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó.
2. Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự có quyền chấm dứt, thay
đổi các yêu cầu của mình hoặc thoả thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp
luật và đạo đức xã hội.
Điều 10 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 quy định:
Hoà giải trong tố tụng dân sự
Toà án có trách nhiệm tiến hành hoà giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự
thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này.
Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định:
Nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn
UBND huyện TL đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng 264m 2 đất này cho hộ gia đình
anh Nh chứ không phải cho cá nhân anh Nh. Trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho chị L, anh Nh được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật và
tại thời điểm đó thì chính anh C có biết (vì anh C ở ngay gần đó cũng kê khai xin được
cấp Giấy chứng nhận diện tích đất anh C đang ở) mà không có phản đối gì.
Do vậy, về căn cứ pháp lý, Nhà nước đã xác nhận quyền sử dụng 264m 2 đất thửa số
19 tờ bản đồ số 27 thôn PL, xã MK, huyện TL, tỉnh H là tài sản chung của anh Nh, chị L
theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Luật Đất đai năm 2003.
Khoản 3 Điều 4 Luật Đất đai năm 2003 quy định:
3. Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất đối với người đang sử dụng đất ổn định
là việc Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho người đó.
Về giá trị xây dựng trên đất là tài sản chung của vợ chồng anh Nh, chị L, nay ly hôn
thì phải chia đôi giá trị xây dựng, còn quyền sử dụng đất thì chia cho chị L ít hơn anh Nh
17
vì nguồn gốc đất là do bố anh Nh để lại. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm, chị L chỉ yêu
cầu được chia 75 m2 đất có chiều rộng là 5m, chiều dài 15 m và tài sản trên đất gồm
tường rào, lối đi lát gạch, 06 cây bưởi trong tổng số 264 m 2 đất thửa số 19 tờ bản đồ số 27
thôn PL, xã MK, huyện TL, tỉnh H. Yêu cầu của chị L phù hợp với Điều 5 Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2004, như vậy yêu cầu của chị L được chấp nhận.
Từ những phân tích trên đây, vụ việc có thể được giải quyết như sau:
1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thuý L đối với anh Nguyễn Văn Nh.
Chị Trần Thuý L được ly hôn anh Nguyễn Văn Nh.
2. Về con chung: Có 2 con chung là Nguyễn Anh T - sinh ngày 28/02/1989, Nguyễn
Minh H - sinh ngày 03/5/19950.
- Nguyễn Anh T đã trưởng thành ở với ai là quyền của cháu T, Toà án không giải
quyết.
- Giao anh Nh trực tiếp nuôi cháu H, tạm hoãn việc đóng góp cấp dưỡng nuôi con
chung của chị L cho đến khi nào anh Nh yêu cầu hay có sự thay đổi khác.
trạng hôn nhân không được cải thiện. Đến năm 2003, vợ chồng sống ly thân, anh Q trở về
Việt Nam sinh sống cho đến nay. Hiện tại, chị vẫn đang cư trú, làm ăn sinh sống tại Ba
Lan, nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn đề nghị Toà giải quyết cho chị được
ly hôn anh Q.
Về con: Vợ chồng anh chị có 1 con chung là Nguyễn Hồng K (trai) sinh ngày
18/7/1997. Cháu hiện đang ở Ba Lan cùng chị Kh. Nguyện vọng của chị là muốn được
nuôi con, không yêu cầu anh Q cấp dưỡng và cháu K cũng có đơn xin được ở với mẹ
Về tài sản chung: Không có. Không yêu cầu Toà giải quyết.
Về nhà ở: Xin tự thoả thuận. Không yêu cầu Toà giải quyết.
Do điều kiện công tác không về được nên chị Kh đề nghị Toà án giải quyết và xét
xử vắng mặt.
19
Bị đơn - anh Nguyễn Đức Q trình bày:
Về thời gian và điều kiện kết hôn như chị Kh trình bày. Vợ chồng sống hạnh phúc
cho đến năm 2004, do sức khoẻ của anh Q bị giảm sút và hoàn cảnh gia đình có một mẹ
già không có người chăm sóc nên anh phải về nước chăm sóc mẹ và chữa bệnh cho bản
thân còn chị Kh vẫn ở lại Ba Lan để làm ăn. Nay chị Kh làm đơn xin ly hôn, anh tôn
trọng ý kiến của chị Kh. Nhưng chưa nhất trí ly hôn khi chưa thoả thuận xong về tài sản.
Về con: Vợ chồng anh chị có 1 con chung như chị Kh trình bày, anh Q đồng ý với
yêu cầu của chị Kh và nguyện vọng của cháu K.
Về tài sản chung của vợ chồng:
- Số tài sản tại Việt Nam gồm:
+ Nhà 1A - NC - nguồn gốc là của ông Nguyễn Văn R (bố đẻ anh Q) được Xí
nghiệp quản lý nhà HBT phân năm 1989 cho một nhà cấp 4, diện tích = 12m 2. Công trình
phụ dùng chung. Sau khi kết hôn anh Q và chị Kh về đây ở. Trong quá trình ở, năm 2000
anh chị đã phá nhà cũ và xây lại thành nhà 2 tầng như hiện tại. Hiện anh Q đang làm thủ
tục để mua nhà theo Nghị định số 61-CP. Nhà này hiện do anh Q quản lý, hợp đồng thuê
nhà đứng tên anh và chị Kh. Khi ly hôn anh Q yêu cầu chia cho anh được hưởng toàn bộ
phân cho chồng bà, nhưng hiện nay hợp đồng thuê nhà đứng tên anh Q và chị Kh, diện
tích = 12m2 nhà cấp 4 công trình phụ dùng chung. Quá trình ở năm 2000 vợ chồng phá
nhà cũ xây lại thành nhà 2 tầng như hiện tại.
Ngoài ra, năm 2002 bà Đ có vay của chị Kh 150.000.000 đồng để sửa lại nhà của bà
tại số 246 - BT. Năm 2003, bà Đ đã trả lại cho chị Kh 120.000.000 đồng hiện còn nợ
30.000.000 đồng. Số tiền này để mẹ con bà tự giải quyết, bà Đ không yêu cầu Toà giải
quyết. Nay nếu anh Q, chị Kh ly hôn đề nghị Toà giải quyết theo pháp luật.
Nhà đất tại số 12 lô C2 phường XL, quận TH, thành phố H là tiền của vợ chồng bà
Đ, ông T bỏ ra mua với giá 261.360 USD. Hợp đồng mua bán nhà đứng tên ông Nguyễn
Văn T. Nay nhà đất trên là thuộc quyền sở hữu của vợ chồng bà Đ. Chứ không phải là
thuộc quyền sở hữu của anh Q, chị Kh. Nay anh Q đòi chia vợ chồng bà Đ không nhất trí.
21
Công ty quản lý và phát triển nhà H do ông Lê Văn C - Phó Giám đốc uỷ quyền
cho Xí nghiệp quản lý và phát triển nhà số 4 đại diện trình bày:
Nhà 1A - NC là nhà của Nhà nước quản lý. Ông Nguyễn Đức Q và bà Nguyễn Mai
Kh đứng tên chủ hợp đồng thuê nhà số 140/ĐM-HĐNC ngày 05/9/1998; diện tích ở =
12m2 tầng 1. Diện tích phụ dùng chung. Hiện gia đình ông Q đã cải tạo thêm 2 tầng mái
bằng, diện tích 12,92m2. Tháng 02/2007, ông Q đã làm thủ tục mua nhà theo Nghị định
số 61-CP. Công ty đang giải quyết theo quy định. Hiện tại chưa có thông báo chấm dứt
hợp đồng thuê nhà và Công ty xin được giải quyết vắng mặt.
Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện:
Trong quá trình giải quyết phần tài sản mà chị Kh và anh Q thống nhất bao gồm:
- Về nhà tại 1A - NC, phường ĐM, quận HBT, thành phố H là nhà của Công ty
quản lý và phát triển nhà thành phố H ký hợp đồng thuê nhà với anh Nguyễn Đức Q và
chị Nguyễn Mai Kh số 140/ĐM-HĐNC ngày 05/9/1998. Diện tích thuê 1 buồng tầng 1 là
12m2. Công trình phụ sử dụng chung. Trong quá trình ở năm 2000, vợ chồng anh Q, chị
Kh đã cải tạo lại thành nhà 2 tầng đổ trần và công trình phụ 1 tầng đổ trần như hiện tại.
Tiền xây dựng là do vợ chồng anh chị bỏ ra.
Q đã trầm trọng, khả năng đoàn tụ là không còn, chị Kh kiên quyết xin ly hôn vì vậy chấp
nhận yêu cầu của chị Kh là phù hợp với khoản 1 Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình năm
2000 và hướng dẫn tại Mục 8 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
* Về nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung:
Chị Kh và anh Q có 1 con chung là cháu Nguyễn Hồng K (trai) sinh ngày
18/7/1997, nay ly hôn chị Kh có nguyện vọng nuôi cháu K, không yêu cầu anh Q cấp
dưỡng. Mặt khác, hiện cháu K cũng đang ở Ba Lan cùng chị Kh và có đơn xin ở với chị
23
Kh vì vậy giao cho chị Kh nuôi dưỡng cháu K đến khi đủ 18 tuổi là đảm bảo quyền lợi
mọi mặt của cháu theo quy định tại Điều 92 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
* Về tài sản chung:
- Phần tài sản mà chị Kh và anh Q thống nhất bao gồm:
+ Tài sản là nhà tại 1A - NC, phường ĐM, quận HBT, thành phố H là nhà của Công
ty quản lý và phát triển nhà thành phố H ký hợp đồng thuê nhà với anh Nguyễn Đức Q và
chị Nguyễn Mai Kh số 140/ĐM-HĐNC ngày 05/9/1998. Diện tích thuê 1 buồng tầng 1 là
12m2. Công trình phụ sử dụng chung. Trong quá trình ở năm 2000, vợ chồng anh Q, chị
K đã cải tạo lại thành nhà 2 tầng đổ trần và công trình phụ 1 tầng đổ trần như hiện tại.
Tiền xây dựng là do vợ chồng anh chị bỏ ra.
Chị Kh đề nghị Toà giải quyết theo pháp luật. Anh Q yêu cầu chia cho anh được
hưởng toàn bộ giá trị xây dựng và giá trị quyền thuê nhà của nhà 1A - NC theo hợp đồng
thuê nhà số 140/ĐM/HĐNC ngày 05/9/1998 của Xí nghiệp quản lý nhà quận HBT.
Xét thấy, nhà 1A - NC, phường ĐM, quận HBT, thành phố H là nhà thuê của Nhà
nước. Hợp đồng thuê nhà số 140/ĐM-HĐNC ngày 05/9/1998 đứng tên anh Nguyễn Đức
Q và chị Nguyễn Mai Kh. Trong quá trình ở, anh Q và chị Kh đã bỏ tiền ra cải tạo xây
dựng lại trên diện tích thuê của Nhà nước. Bản thân cháu K còn nhỏ, không có công sức
cho chị Kh số tiền là: 187.783.645 đồng. Anh Q phải chấp hành các quy định của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền theo đúng quy định của pháp luật.
Điều 28 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 của Chính phủ quy định
chi tiết thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định:
Giải quyết quyền lợi của vợ chồng khi ly hôn đối với nhà ở thuê của Nhà nước
Việc giải quyết quyền lợi của vợ chồng khi ly hôn đối với nhà ở do vợ hoặc chồng
hoặc cả vợ và chồng được thuê của Nhà nước trước hoặc sau khi kết hôn, được thực hiện
theo quy định sau đây:
25