Đề bài: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn cho việc sửa đổi, bổ sung các biện pháp
tha miễn của Bộ luật hình sự năm 1999.
BÀI LÀM
A.
MỞ ĐẦU.
Các biện pháp tha miễn là một trong những chế định lớn và cơ bản của
luật hình sự Việt Nam, là sự thể hiện trực tiếp nhất nguyên tắc nhân đạo của luật
hình sự nói riêng và của cả chính sách hình sự nói chung. Chính vì vậy, trong
giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp hiện nay, việc
nghiên cứu để tìm hiểu nội dung, bản chất pháp lý, căn cứ và những điều kiện
áp dụng của từng biện pháp (chế định) tha miễn không chỉ có ý nghĩa nhận thức
khoa học, mà cả ý nghĩa thực tiễn quan trọng. Sau gần 14 năm thi hành BLHS
năm 1999, tình hình đất nước ta đã có những thay đổi lớn về mọi mặt nên
BLHS 1999 đã bộc lộ nhiều hạn chế bất cập, trong đó có những bất cập của các
biện pháp tha miễn cần sửa đổi, bổ sung. BLHS 2015 ra đời đã cơ bản khắc
phục được những thiếu sót đó. Trong phạm vi bài viết này, tôi xin phép được
trình bày vấn đề “Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn cho việc sửa đổi, bổ sung các
biện pháp tha miễn của Bộ luật hình sự năm 1999” để hiểu rõ hơn về chế định
này.
NỘI DUNG.
Khái niệm, đặc điểm, phân loại các biện pháp tha miễn trong Luật hình
B.
I.
sự.
Theo quan điểm được thừa nhận chung trong khoa học luật hình sự thì
chúng ta có thể hiểu các biện pháp tha miễn trong pháp luật hình sự là các quy
phạm (hoặc chế định) được quy định trong Bộ luật hình sự, thể hiện tính nhân
Biện pháp tha miễn trong PLHS có thể phân chia thành các dạng sau: thời
hiệu (bao gồm thời hiệu truy cứu TNHS và thời hiệu thi hành bản án kết tội);
miễn TNHS; miễn hình phạt; miễn chấp hành hình phạt; giảm mức hình phạt đã
tuyên; giảm thời hạn chấp hành hình phạt; án treo; tha tù trước thời hạn có điều
kiện; hoãn chấp hành hình phạt tù; tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù; xóa án
tích; đại xá, đặc xá, theo đó:
-
Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do BLHS quy định mà khi
-
hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Miễn trách nhiệm hình sự là một chế định nhân đạo của pháp luật hình sự Việt
Nam và được thể hiện bằng văn bản với nội dung huỷ bỏ hậu quả pháp lý bất lợi
2
của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm đối với
người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó, do cơ quan Điều tra, Viện
kiểm sát hoặc Tòa án tuỳ thuộc vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng áp dụng
-
khi có đầy đủ căn cứ pháp lý và những điều kiện luật định.
Miễn hình phạt là: Tòa án không quyết định hình phạt trong bản án kết tội có
hiệu lực pháp luật đối với người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện tội phạm,
tức là không áp dụng đối với người này biện pháp cưỡng chế về hình sự nghiêm
-
đủ căn cứ và những điều kiện do PLHS quy định.
Tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù là: Tòa án quyết định tạm dừng lại việc
CHHP tù đã được tuyên trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật đối với người
bị kết án (đang chấp hành hình phạt) trong một thời hạn nhất định khi có đầy đủ
-
căn cứ và những điều kiện do PLHS quy định.
Xóa án tích là: Sự hủy bỏ hậu quả pháp lý, tức là hoàn toàn chấm dứt việc thực
hiện TNHS đối với người bị kết án sau khi người này đã chấp hành xong hình
phạt và các quyết định khác của Tòa án trong bản án kết tội có hiệu lực pháp
luật khi có đầy đủ các căn cứ và những điều kiện do PLHS quy định.
3
-
Đại xá là một biện pháp khoan hồng của Nhà nước do Quốc hội quyết định nhân
dịp kỷ niệm lịch sử quan trọng nhất định đối với những người phạm tội nhất
định. Đối với những hành vi phạm tội được đại xá thì dù trong giai đoạn tố tụng
nào thì đều được tha tội hoàn toàn, được phục hồi toàn bộ quyền công dân và
-
được coi như không phạm tội, không có án tích.
Đặc xá là sự khoan hồng đặc biệt của Nhà nước do Chủ tịch nước quyết định
tha tù trước thời hạn cho người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân nhân
II.
gương cho người khác”, Điều 28 BLHS 2015, ngoài việc kế thừa như quy định
BLHS năm 1999 trước đây thì chế định nhân đạo này còn không được áp dụng
đối với 2 tội danh: Tội tham ô tài sản và Tội nhận hối lộ nhưng được thực hiện
trong các trường hơp đặc biệt nghiêm trọng (khoản 3 và khoản 4 của các điều
353, 354 BLHS) vì, đấu tranh phòng, chống tham nhũng là một trong những vấn
đề được Đảng, Nhà nước ta coi trọng và dành sự quan tâm đặc biệt. Đã có nhiều
biện pháp nhận diện hành vi tham nhũng và biện pháp phòng ngừa, phát hiện và
xử lý tệ tham nhũng đã được ban hành. Tuy nhiên, công tác phòng ngừa, đấu
tranh, xử lý các hành vi tham nhũng vẫn còn nhiều hạn chế mà một trong những
nguyên nhân quan trọng là do những bất cập của hệ thống pháp luật, trong đó có
pháp luật hình sự. Ngoài ra, với tư cách là quốc gia thành viên Công ước chống
tham nhũng, chúng ta có trách nhiệm nội luật hoá các quy định về hình sự hóa
của Công ước. Vì vậy, để góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh chống
tham nhũng, một trong những giải pháp tích cực đó là không quy định thời hiệu
truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội tham nhũng đặc biệt
nghiêm trọng. Như vậy, với quy định này, thì những người phạm tội tham nhũng
đặc biệt nghiêm trọng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự bất cứ lúc nào, nếu
cơ quan chức năng phát hiện được hành vi phạm tội của họ. Do vậy, bên cạnh
quy định không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các tội
xâm phạm an ninh quốc gia và các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và
tội phạm chiến tranh, BLHS năm 2015 đã bổ sung quy định về không áp dụng
thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về tham nhũng đặc
biệt nghiêm trọng.
2.
Miễn trách nhiệm hình sự.
Điều 25 BLHS năm 1999 quy định 03 trường hợp người phạm tội được miễn
trách nhiệm hình sự: (1) Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự, nếu
khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm,
cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm, thì cũng có thể được
miễn trách nhiệm hình sự” trong BLHS năm 1999 sửa đổi thành “Người phạm
tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra
tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập
công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận”.
Tức là bổ sung thêm điều kiện “và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt,
được Nhà nước và xã hội thừa nhận”.
Và bổ sung thêm căn cứ mới so với BLHS năm 1999 để có thể được miễn
TNHS, đó là quy định tại khoản 3 Điều 29 BLHS 2015: “Người thực hiện tội
6
phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng do vô ý gây thiệt hại về tính
mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác và được
người bị hại hoặc người đại diện của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề
nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự”. Quy
định này là phù hợp với thực tiễn xét xử và pháp luật hình sự các nước, cũng
như góp phần nhân đạo hóa hơn nữa chính sách hình sự của Nhà nước trong giai
đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền.
Tuy nhiên, Bộ luật Hình sự năm 1999 cũng như BLHS năm 2015 đều có mặt
hạn chế là chưa đưa ra định nghĩa pháp lý của khái niệm miễn trách nhiệm hình
sự, hậu quả pháp lý cụ thể của việc miễn trách nhiệm hình sự là gì? Các trường
hợp miễn trách nhiệm hình sự lại được quy định rải rác ở các điều luật, các
chương thuộc Phần chung và Phần các tội phạm Bộ luật Hình sự rõ ràng là chưa
chính xác về mặt khoa học và chưa đạt về mặt kỹ thuật lập pháp.
3.
Miễn chấp hành hình phạt.
hình phạt: Người được miễn chấp hành hình phạt theo quy định này vẫn phải
thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ dân sự do Tòa án tuyên trong bản án.
4.
Giảm mức hình phạt đã tuyên.
Giảm mức hình phạt đã tuyên được ghi nhận tại Điều 63 BLHS năm 2015,
theo đó BLHS 1999 được sửa đổi quy định sau:
+ Người bị kết án cải tạo không giam giữ, phạt tù có thời hạn hoặc phạt
tù chung thân, nếu đã chấp hành hình phạt được một thời gian nhất định, có
nhiều tiến bộ và đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự, thì theo đề nghị
của cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định giảm
thời hạn chấp hành hình phạt.
+ Thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là 1/3 thời
hạn đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, hình phạt tù có thời hạn, 12 năm
đối với tù chung thân.
- Bổ sung quy định đối với trường hợp người bị kết án về nhiều tội trong
đó có tội bị kết án phạt tù chung thân:
+ Trường hợp người bị kết án về nhiều tội trong đó có tội bị kết án phạt
tù chung thân thì Tòa án chỉ xét giảm lần đầu xuống 30 năm tù sau khi đã chấp
hành được 15 năm tù và dù được giảm nhiều lần nhưng vẫn phải bảo đảm thời
gian thực tế chấp hành là 25 năm.
- Bổ sung quy định đối với người đã được giảm một phần hình phạt
nhưng lại phạm tội mới ít nghiêm trọng:
Đối với người đã được giảm một phần hình phạt mà lại thực hiện hành
vi phạm tội mới ít nghiêm trọng do cố ý, thì Tòa án chỉ xét giảm lần đầu sau khi
người đó đã chấp hành được 1/2 mức hình phạt chung.
- Quy định lại việc áp dụng giảm một phần hình phạt mà phạm tội mới
nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng:
Đối với người đã được giảm một phần hình phạt mà lại thực hiện hành
kiện chặt chẽ hơn so với người bị kết án tù chung thân khác, đó là: thời gian đã
chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là 25 năm và dù được giảm nhiều
lần thì vẫn phải bảo đảm thời hạn thực tế chấp hành hình phạt là 30 năm.
5.
Án treo.
Căn cứ Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015:
9
- Ngoài việc được hưởng án treo, người phạm tội còn phải thực hiện các
nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự:
Khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và
các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù,
thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05
năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật
thi hành án hình sự.
- Bao hàm hết các hình phạt bổ sung thay vì kể tên như quy định trước đây:
Tòa án có thể quyết định áp dụng đối với người được hưởng án treo hình phạt
bổ sung nếu trong điều luật áp dụng có quy định hình phạt này.
- Bổ sung quy định trong trường hợp trong thời gian thử thách vi phạm nghĩa
vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự:
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ
theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể
quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng
án treo.
Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp
hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo
trường xã hội bình thường dưới sự giám sát của chính quyền và cơ quan thi
hành án hình sự. Đây là một giải pháp hợp lý theo tinh thần Chiến lược cải cách
tư pháp, góp phần khắc phục những bất cập hiện nay trong việc áp dụng án treo,
đặc xá. Tuy nhiên, để bảo đảm tính nghiêm minh và chặt chẽ, khoản 1 Điều 66
cũng quy định người đang chấp hành án phạt tù phải hội đủ nhiều yếu tố mới
được xem xét áp dụng, trong đó, kết quả “đã chấp hành xong hình phạt bổ sung
là hình phạt tiền, án phí và các nghĩa vụ bồi thường dân sự” là một trong các
điều kiện bắt buộc; đồng thời, khoản 2 Điều 66 cũng quy định loại trừ những
trường hợp không được áp dụng1. Ngoài ra, người được tha tù trước thời hạn có
điều kiện mà cố ý vi phạm nghĩa vụ hoặc bị xử phạt vi phạm hành chính từ 02
lần trở lên trong thời gian thử thách thì Tòa án có thể hủy bỏ quyết định tha tù
và buộc họ phải chấp hành phần hình phạt tù còn lại (khoản 4 Điều 66). Việc
quy định chặt chẽ các điều kiện được tha tù trước thời hạn đối với người đang
chấp hành án phạt tù, ngoài kết quả chấp hành án, người được xét phải có đủ
các yếu tố nhân thân khác là hết sức cần thiết, bảo đảm ý nghĩa, tác dụng của
biện pháp này, phòng ngừa được nguy cơ tái phạm từ người bị kết án, đồng thời
tránh lạm dụng, tùy tiện trong quá trình áp dụng biện pháp này.
1 Người bị kết án về tội xâm phạm an ninh quốc gia; tội khủng bố; tội phá hoại hòa bình, chống loài
người và tội phạm chiến tranh hoặc người bị kết án từ 10 năm tù trở lên đối với tội cố ý xâm phạm tính mạng,
sức khỏe, nhân phẩm của con người; 07 năm tù trở lên đối với các tội cướp tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt
tài sản và sản xuất trái phép, mua bán trái phép, chiếm đoạt chất ma túy; người bị kết án tử hình được ân giảm
hoặc thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 40 của BLHS.
11
Những quy định hết sức chặt chẽ nhằm tạo cơ hội cho những phạm nhân
tích cực cải tạo tốt trong quá trình chấp hành án ở các cơ sở giam giữ được sớm
trở về với gia đình và tiếp tục chứng tỏ sự cải tạo của mình trong môi trường xã
hội bình thường có sự giám sát của chính quyền địa phương và xã hội. Nếu
phần đạt được mục tiêu của việc xử lý người chưa thành niên phạm tội là giáo
dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có
ích cho xã hội mà còn thực sự vì lợi ích tốt nhất của người chưa thành niên, phù
hợp với nguyên tắc chỉ áp dụng hình phạt giam giữ đối với người chưa thành
niên phạm tội như biện pháp sau cùng, trong thời gian thích hợp ngắn nhất mà
CƯQTE và các chuẩn mực quốc tế khác đã nêu ra.
Năm là, hàng năm, sẽ có một lượng lớn người đang chấp hành án phạt tù
được trả tự do khi áp dụng quy định này. Đây là cơ hội để giảm tình trạng quá
tải trong các cơ sở giam giữ hiện nay, đảm bảo các điều kiện sinh hoạt tốt nhất
cho người đang chấp hành án phạt tù.
Sáu là, việc áp dụng chế định này sẽ giảm bớt gánh nặng về kinh tế cho
nhà nước, đồng thời, sẽ tạo ra nguồn cung lao động lớn cho xã hội, góp phần
thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước.
Bảy là, nâng cao hiệu quả của công tác phòng ngừa tái phạm đối với
người bị kết án được miễn chấp hành hình phạt.
7.
Xóa án tích.
Xoá án tích là một chế định mang tính nhân đạo của luật hình sự, thể hiện sự
thừa nhận của Nhà nước về mặt pháp lý việc người bị kết án đã có đủ điều kiện
theo luật định để được coi là không còn mang án tích và do vậy họ không phải
tiếp tục gánh chịu bất cứ hậu quả nào do việc kết án mang lại. Sự thừa nhận này
nhằm khuyến khích những người bị kết án chấp hành nghiêm chỉnh bản án và
cải tạo tốt để hoà nhập cộng đồng. Chương IX Bộ luật hình sự năm 1999 với 5
điều quy định các vấn đề về xoá án tích đã tạo cơ sở pháp lý cho các cơ quan có
thẩm quyền xem xét xoá án tích đối với người bị kết án, tạo điều kiện thuận lợi
cho người bị kết án hòa nhập cộng đồng, thực hiện các quyền và nghĩa vụ công
dân.
Tuy nhiên, theo báo cáo tổng kết thi hành BLHS của nhiều địa phương, quá
định hiện hành; 5) bổ sung quy định mới và cụ thể về cách tính thời hạn để xóa
án tích đối với người phạm nhiều tội và bổ sung quy định Cơ quan quản lý cơ
sở dữ liệu lý lịch tư pháp có trách nhiệm cập nhật thông tin về tình hình án tích
của người bị kết án và khi có yêu cầu thì cấp phiếu lý lịch tư pháp xác nhận
không có án tích, nếu người bị kết án đủ điều kiện (Điều 70). Theo quy định
mới này, thì Tòa án sẽ không còn trách nhiệm phải cấp giấy chứng nhận xóa án
tích cho người đương nhiên được xóa án tích nữa mà trách nhiệm này thuộc về
cơ quan hành pháp. Đây là đổi mới căn bản thủ tục xóa án tích theo hướng
14
thuận lợi cho người dân, theo đó Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp
phải cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án.
8.
Đặc xá, đại xá.
Đặc xá, đại xá là một trong những biện pháp tha miễn của Luật hình sự, thể
hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước ta. Đại xá được quy định trong Hiến
pháp 2013, tại điều 70, khoản 11, là một chế định mang ý nghĩa chính trị to lớn,
thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước; do Quốc hội – cơ quan có thẩm
quyền quyết định, căn cứ vào tình hình kinh tế chính trị đất nước; thực hiện theo
trình tự ngoài Tòa án và khi có văn bản đại xá thì cơ quan khác phải tuân theo.
Đặc xá là sự khoan hồng đặc biệt của Nhà nước do Chủ tịch nước quyết định
tha tù trước thời hạn cho người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân nhân
sự kiện trọng đại, ngày lễ lớn của đất nước hoặc trong trường hợp đặc biệt.
Mặc dù là một trong những biện pháp tha miễn của LHS nhưng 2 chế định này
lại chỉ được ghi nhận trong Hiến pháp 2013 và trong Luật đặc xá mà chưa được
quy định trong Bộ luật hình sự 1999 hay BLHS 2015. Đây là một thiếu sót cần
44%). Điều này đặt ra yêu cầu về việc xem xét lại cách thức xử lý người chưa
thành niên phạm tội ở nước ta để bảo đảm hiệu quả giáo dục, phòng ngừa. Bên
cạnh đó, để thực hiện chủ trương nhân đạo hóa, tăng tính hướng thiện trong
chính sách xử lý hình sự, nhất là đối với đối tượng cần bảo vệ đặc biệt là người
chưa thành niên theo hướng sớm đưa các em ra khỏi vòng quay tố tụng khi có
điều kiện để tránh những tác động tiêu cực không cần thiết thì một trong những
giải pháp là nghiên cứu sửa đổi, bổ sung vào BLHS quy định về các biện pháp
thay thế xử lý hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội.
Để tạo điều kiện giảm tối đa việc xử lý TNHS đối với NCTN phạm tội, Bộ
luật năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung quy định này theo hướng cơ quan tiến hành
tố tụng có thể xem xét, áp dụng việc miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi
phạm tội mà có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả,
trong các trường hợp cụ thể theo quy định của Bộ luật (khoản 2 Điều 91)2.
- BLHS năm 1999 không quy định khi miễn TNHS đối với NCTN phạm tội,
2 a) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng, trừ trường
hợp quy định tại Điều 134 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác); Điều 141
(tội hiếp dâm); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội
tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái
phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy) của Bộ luật này;
b) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý quy định tại khoản 2 Điều
12 của Bộ luật này, trừ trường hợp quy định tại Điều 123 (tội giết người); Điều 134, các khoản 4, 5 và khoản 6
(tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác); Điều 141 (tội hiếp dâm), Điều 142 (tội
hiếp dâm người dưới 16 tuổi); Điều 144 (tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi); Điều 150 (tội
mua bán người); Điều 151 (tội mua bán người dưới 16 tuổi); Điều 168 (tội cướp tài sản); Điều 171 (tội cướp
giật tài sản); Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều
250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm
đoạt chất ma túy) của Bộ luật này;
c) Người dưới 18 tuổi là người đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể trong vụ án.
16
Tha tù trước thời hạn đối với NCTN phạm tội.
Tha tù trước thời hạn có điều kiện được quy định riêng đối với NCTN phạm
tội, ghi nhận tại Điều 106 BLHS 2015 mà trong BLHS 1999 trước đây chưa có.
Lần đầu tiên các nhà làm luật quy định NCTN phạm tội chỉ được hưởng chế
17
định nhân đạo này khi hội đủ 4 điều kiện cụ thể tại các điểm a,b,c,d khoản 1
Điều 106.
9.3.
Xóa án tích đối với NCTN phạm tội.
Xóa án tích được quy định riêng đối với NCTN phạm tội tại Điều 107 BLHS
2015: “1) Người dưới 18 tuổi bị kết án được coi là không có án tích, nếu thuộc
một trong các trường hợp sau đây:
a) Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi;
b) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng,
tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý;
c) Người bị áp dụng biện pháp tư pháp quy định tại Mục 3 Chương này.
2) Người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố
ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì đương nhiên xóa án tích nếu trong
thời hạn 03 năm tính từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc từ khi hết thời
hiệu thi hành bản án mà người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới”.
10. Các biện pháp tha miễn đối với pháp nhân thương mại.
Dựa trên những yêu cầu về lý luận và thực tiễn thi hành BLHS 1999, theo
báo cáo tổng kết thi hành BLHS của các Bộ, ngành, địa phương thì một trong
những bất cập nổi lên đáng lưu ý là BLHS hiện hành mới chỉ quy định trách
pháp nhân thương mại phạm tội cũng được ghi nhận, theo đó:
-
Căn cứ Điều 88 Bộ luật Hình sự năm 2015: Pháp nhân phạm tội có thể được
miễn hình phạt khi đã khắc phục toàn bộ hậu quả và đã bồi thường toàn bộ thiệt
hại do hành vi phạm tội gây ra.
- Căn cứ Điều 89 Bộ luật Hình sự năm 2015: Pháp nhân thương mại bị kết
án đương nhiên được xóa án tích nếu trong thời hạn 02 năm kể từ khi chấp hành
xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án hoặc
từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà pháp nhân thương mại không thực hiện
hành vi phạm tội mới.
C. KẾT LUẬN.
Các biện pháp tha miễn là chế định quan trọng thể hiện nguyên tắc nhân
đạo trong chính sách hình sự nói chung, trong luật hình sự Việt Nam nói riêng,
thể hiện phương châm đúng đắn của đường lối xử lý về hình sự – đảm bảo sự
kết hợp hài hòa giữa các biện pháp cưỡng chế hình sự nghiêm khắc nhất của nhà
nước với các biện pháp tác động xã hội khác để cải tạo, giáo dục người phạm
tội. Nó không chỉ giúp đảm bảo hơn nữa quyền lợi hợp pháp của con người, thể
19
hiện chính sách hình sự của quốc gia mà còn là thể hiện xu hướng khoa học luật
Hình sự của thế giới. Hoàn thiện chế định này là nhiệm vụ quan trọng của pháp
luật hình sự Việt Nam, không chỉ giúp hoàn thiện kĩ thuật lập pháp của nước ta
mà còn giúp những chế định nhân đạo thực sự đi vào đời sống xét xử cũng như
công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm một cách hiệu quả. Xuất phát từ
những yêu cầu của lý luận và thực tiễn, việc sửa đổi bổ sung quy định về các
biện pháp tha miễn của BLHS 1999 là cần thiết và quan trọng; đồng thời cần
được tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện hơn nữa.