Chương trình lãnh đạo nữ Cambridge – Việt Nam
BỘ NGOẠI GIAO
“Nâng cao năng lực lãnh đạo cho phụ nữ trong khu vực
Nhà nước trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế”
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 2012
VAI TRÒ CỦA NỮ GIỚI TRONG KHỐI CƠ QUAN NHÀ
NƯỚC CẤP TỈNH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CÀ MAU
Cà Mau, 12/2012
1
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
Đoàn Xuân Diệp
NHÓM THAM GIA THỰC HIỆN
Lưu Mỹ Hạnh
Trần Thu Anh
Hồ Thị Nhật Hoàng
2
LỜI NÓI ĐẦU
Luật Bình đẳng giới được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua
ngày 29 tháng 11 năm 2006, quy định nguyên tắc bình đẳng giới trong các lĩnh
vực của đời sống xã hội và gia đình, biện pháp bảo đảm bình đẳng giới, trách
nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân trong việc thực hiện bình đẳng
i
lợi và khó khăn khi chị em tham gia hoạt động xã hội; thực trạng triển khai thực
hiện Luật Bình đẳng giới và các văn bản có liên quan trên địa bàn Tỉnh. Trên cơ
sở đó, đề tài đưa ra các khuyến nghị nhằm góp phần phục vụ cho công tác điều
chỉnh, xây dựng các chính sách trong quá trình thực thi Luật bình giới và phát
huy vai trò của nữ giới trong thời kỳ hội nhập.
Báo cáo kết quả đề tài được trình bày gồm 5 phần:
Phần 1: Giới thiệu
Phần 2: Tổng quan về nghiên cứu
Phần 3: Phương pháp nghiên cứu
Phần 4: Kết quả nghiên cứu
Phần 5: Kết luận và khuyến nghị chính sách
Với kết quả trên, hy vọng đề tài sẽ giúp ích cho các nhà hoạch định và thực
thi chính sách có thể phân tích, đánh giá tình hình thực tiễn về vấn đề giới và có
những cơ chế chính sách, chương trình phù hợp nhằm thúc đẩy bình đẳng giới ở
địa phương.
ii
LỜI CẢM ƠN
Nghiên cứu “Vai trò của nữ giới trong khối cơ quan nhà nước cấp tỉnh
trên địa bàn tỉnh Cà Mau” được thực hiện từ tháng 5/11/2012, với tài trợ bởi
Chương trình Lãnh đạo nữ Cambridge - Việt Nam, trong khuôn khổ hợp tác
giữa Bộ Ngoại giao Việt Nam và Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc
(UNDP).
Trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành báo cáo này, nhóm nghiên cứu
Phần 1: GIỚI THIỆU..................................................................................................1
1.1. Tính cấp thiết của nghiên cứu................................................................................... 1
1.2. Mục đích và mục tiêu nghiên cứu..............................................................................1
1.2.1. Mục đích tổng quát......................................................................................... 1
1.2.2. Mục tiêu cụ thể.................................................................................................1
Phần 2: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU............................................................... 3
2.1 Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trong lịch sử phát triển của đất nước..................3
2.2. Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn coi trọng và phát huy bình đẳng giới............... 4
2.3. Các nghiên cứu về vai trò và vị thế của phụ nữ........................................................8
Phần 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU...............................................................13
3.1. Phương pháp luận/lý thuyết áp dụng.......................................................................13
3.2. Phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu......................................................................16
3.2.1. Lựa chọn địa bàn nghiên cứu.........................................................................16
3.2.2. Chọn mẫu.......................................................................................................16
3.2.3. Thông tin thu thập..........................................................................................17
3.2.4. Phương pháp xử lý số liệu.............................................................................18
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU..........................................................................19
4.1. Khả năng chuyên môn, vai trò lãnh đạo và cơ hội phát triển của nữ giới trong khối
cơ quan nhà nước cấp tỉnh của tỉnh Cà Mau..................................................................19
4.1.1. Mô tả chung về lực lượng công chức nam và nữ trong khối cơ quan nhà
nước cấp tỉnh của tỉnh Cà Mau.......................................................................................19
4.1.1.1. Tỷ lệ công chức nam và nữ....................................................................19
4.1.1.2. So sánh trình độ chuyên môn và ngoại ngữ ..........................................20
4.1.1.3. So sánh trình độ lý luận chính trị và vai trò lãnh đạo............................21
4.1.2. Đặc điểm đội ngũ công chức nữ trong khối cơ quan nhà nước cấp tỉnh của
Cà Mau............................................................................................................................22
4.1.2.1. Về dân tộc...............................................................................................23
4.1.2.2. Về độ tuổi................................................................................................23
4.1.2.3. Về phẩm chất, năng lực..........................................................................23
4.1.2.4. Về vị trí công tác.....................................................................................25
DANH SÁCH BẢNG
Bảng 4.1: So sánh trình độ chuyên môn giữa công chức nam và nữ..........................20
Bảng 4.2: So sánh trình độ ngoại ngữ giữa công chức nam và nữ..............................21
Bảng 4.3: So sánh trình độ lý luận chính trị giữa công chức nam và nữ...................22
Bảng 4.4: So sánh vai trò lãnh đạo giữa công chức nam và nữ...................................22
Bảng 4.5: So sánh về phẩm chất năng lực của công chức nam và nữ.........................24
Bảng 4.6: Ý kiến đánh giá về tỷ lệ nam và nữ tham gia lãnh đạo, quản lý.................26
Bảng 4.7. Đánh giá khả năng lực công tác của cán bộ, công chức nữ........................35
Bảng 4.8: Các chỉ tiêu chị em không đồng tình...........................................................36
vi
DANH SÁCH HÌNH
Hình 4.1: Tỷ lệ công chức nam và nữ trong khối cơ quan nhà nước cấp tỉnh của Cà
Mau..................................................................................................................................19
Hình 4.2: Độ tuổi công chức nữ trong khối cơ quan nhà nước cấp tỉnh ở Cà Mau......23
Hình 4.3: Vị trí của công chức nữ trong chính quyền....................................................26
Hình 4.4: Vị trí của công chức nữ trong tổ chức Đảng..................................................26
Hình 4.5: Đánh giá nguyên nhân tỷ lệ nữ tham gia lãnh đạo còn ít...............................28
Hình 4.6: Yếu tố trở ngại từ bản thân.............................................................................29
Hình 4.7: Yếu tố trở ngại từ môi trường làm việc..........................................................30
Hình 4.8: Mong muốn của công chức nữ về môi trường làm việc................................32
Hình 4.9: Mong muốn của công chức nữ về sự hỗ trợ trong quá trình thăng tiến.......32
Hình 4.10: Tỷ lệ đồng thuận quan điểm “Bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực”.............35
Hình 4.11: Mức độ đồng tình về vai trò của nữ giới khi tham gia lãnh đạo, quản lý....36
Hình 4.12: Mức độ đánh giá tầm quan trọng của cán bộ nữ..........................................37
: Dự án Nâng cao năng lực lãnh đạo cho phụ nữ
trong khu vực nhà nước trong bối cảnh hội nhập
kinh tế quốc tế
HĐND
: Hội đồng nhân dân
UBND
: Ủy ban nhân dân
BVSTBPN
: Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ
viii
TÓM TẮT
Nghiên cứu này với mục tiêu tìm hiểu thực trạng về khả năng chuyên môn,
vai trò lãnh đạo, quan điểm về bình đẳng giới và nguyện vọng đóng góp cho sự
nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của cán bộ, công chức nữ trong khối cơ quan
nhà nước trên địa bàn tỉnh Cà Mau; tìm hiểu, phân tích tính phù hợp của hệ
thống cơ chế, chính sách của Đảng, Nhà nước và của địa phương dành cho cán
bộ, công chức nữ trong thời gian qua. Từ đó, cung cấp những cơ sở khoa học
phục vụ thiết thực cho quá trình điều chỉnh, xây dựng hệ thống cơ chế, chính
sách phù hợp cho nữ giới và chiến lược phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam
trong thời kỳ hội nhập.
Bằng phương pháp kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính, kết quả cho
những cơ chế, chính sách phù hợp của Đảng, Nhà nước để tạo điều kiện cho họ
có thể phát huy hết khả năng cống hiến của mình cho xã hội.
Trên cơ sở đó, nghiên cứu đưa ra gợi ý về những chính sách và biện pháp
hỗ trợ, góp phần giảm bớt những khó khăn mà cán bộ, công chức nữ đang gặp
phải trong quá trình phát triển sự nghiệp của mình. Các nhóm chính sách bao
gồm: (i) xóa bỏ định kiến giới và giảm áp lực gánh nặng gia đình để nữ giới
tham gia công tác xã hội tốt hơn; (ii) bình đẳng về tuổi nghỉ hưu, tuổi đào tạo
để nữ giới có cơ hội nhiều hơn trong việc tham gia đào tạo, qui hoạch và bổ
nhiệm, từ đó có nhiều đóng góp hơn cho xã hội; (iii) tạo cơ hội đào tạo nâng
cao trình độ và tạo môi trường làm việc thuận lợi để cán bộ, công chức nữ phát
huy tối đa năng lực của mình.
x
Phần 1: GIỚI THIỆU
1.1. Tính cấp thiết của nghiên cứu
Bình đẳng giới và nâng cao vai trò của phụ nữ trong sự nghiệp phát triển
kinh tế - xã hội là vấn đề đang được toàn thế giới quan tâm. Năm 2010, Liên
hợp quốc xác định bình đẳng giới là một trong tám lĩnh vực ưu tiên trong
“Chương trình hành động của Liên hợp quốc vì một thế giới tốt đẹp hơn”.
Ở Việt Nam, Ðảng và Nhà nước ta luôn quan tâm phát huy vai trò của phụ
nữ trong xã hội. Từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên năm 1930 của Đảng cho đến
nay đã có rất nhiều văn bản pháp luật và công trình nghiên cứu quan tâm đến
chủ đề giới và phát huy vai trò xã hội của phụ nữ. Sự ra đời của Luật Bình đẳng
giới (2006) đã đánh dấu một bước tiến mới trong việc hoàn thiện hệ thống pháp
luật của nước ta về bình đẳng giới, thể hiện sự cam kết của Việt Nam trong thúc
đẩy bình đẳng giới và coi đó là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Sau thời gian thực hiện, các
quy định của Luật đã được triển khai tương đối đồng bộ từ Trung ương đến địa
2
Phần 2: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trong lịch sử phát triển của đất
nước
Vai trò, vị thế của người phụ nữ Việt Nam luôn gắn liền với chiều dài lịch
sử của đất nước. Từ ngàn xưa, hình ảnh của Quốc mẫu Âu Cơ theo truyền thuyết
đã sinh ra nòi giống con rồng cháu tiên cho đất Việt, đến Hai Bà Trưng xưng
Vương, phất cờ khởi nghĩa làm vẻ vang truyền thống của phụ nữ Việt Nam
trong thời kỳ đầu giữ nước. Lịch sử lại tiếp tục ghi danh những vị nữ anh hùng
dân tộc, có ý chí quật cường chống giặc ngoại xăm như: Bà Triệu Thị Trinh,
Thái hậu Dương Vân Nga, Nguyên phi Ỷ Lan, Huyền Trân Công chúa, Công
chúa An Tư, Ngọc Hân Công chúa, Công chúa Ngọc Vạn, nữ tướng Bùi Thị
Xuân, Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan, Thái hậu Từ Dũ, …
Trong các thời kỳ đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm
lược, nhiều vị nữ anh hùng lại tiếp tục oanh liệt ngã xuống vì tinh thần “quyết tử
cho tổ quốc quyết sinh”. Trong hai thời kỳ lịch sử hiển hách này, hẵn trong mỗi
chúng ta không ai quên được những tấm gương sáng ngời của các nữ liệt sĩ
Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Thị Sáu, Hoàng Ngân, Mạc Thị Bưởi, Nguyễn Thị
Chiên, Nguyễn Thị Lét, Tạ Thị Kiều, Kan Lịch, Lê Thị Hồng Gấm, Nguyễn Thị
Út (Út Tịch),... Họ rất xứng đáng với tám chữ vàng “Anh hùng, Bất khuất,
Trung hậu, Đảm đang” mà Bác Hồ trao tặng. Đặc biệt trong thời kỳ chống Mỹ
cứu nước còn có một nữ tướng, phó tư lệnh Nguyễn Thị Định và nhà chính trị,
nhà ngoại giao lỗi lạc trên trường quốc tế Nguyễn Thị Bình đã góp phần quan
trọng cho hòa bình, độc lập dân tộc, làm rạng danh phụ nữ nước nhà.
Đất nước phát triển được như ngày hôm nay là có sự đóng góp quan trọng
và hy sinh thầm lặng cả cuộc đời mình của những người mẹ, người chị. Phát huy
truyền thống đó trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phụ nữ Việt Nam
ngày nay không chỉ với vai trò là người vợ, người mẹ, người con trong gia đình,
mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 02/9/1945, Người tuyên bố:“Tất cả mọi
người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai
có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do
và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Người cũng đã tuyên bố với thế giới và quốc
dân rằng “Phụ nữ Việt Nam đã được đứng ngang hàng với đàn ông để được
hưởng chung mọi quyền tự do của một công dân”. Phát biểu tại lễ kỷ niệm lần
thứ 20 ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam ngày 19/10/1966, Chủ
tịch Hồ Chí Minh ôn lại truyền thống yêu nước của phụ nữ Việt Nam và tự hào
rằng “Từ đầu thế kỷ thứ nhất, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, đánh giặc, cứu
dân cho đến ngày nay mỗi khi nước nhà gặp nguy nan, thì phụ nữ ta đều hăng
hái đứng lên, góp phần xứng đáng của mình vào sự nghiệp giải phóng dân tộc”.
Theo Người, nữ cũng nam, đều có thể đảm nhận và hoàn thành tốt những công
việc lớn của cách mạng, của nhân dân. Người luôn quan tâm đến vị trí của phụ
nữ trong các tổ chức của hệ thống chính trị, mong muốn ngày càng có nhiều chị
em tham gia công tác trong các cấp ủy Đảng, chính quyền cũng như trong các tổ
chức quần chúng nhân dân do Đảng tổ chức, lãnh đạo. Người còn thấy rõ khả
năng làm việc không thua kém nam giới của phụ nữ và yêu cầu đối với chị em
4
phụ nữ rằng: “Mỗi một người và tất cả phụ nữ phải hang hái nhận trách nhiệm
của người làm chủ đất nước, tức là phải ra sức thi đua sản xuất và thực hành
tiết kiệm để xây dựng nước nhà, xây dựng xã hội chủ nghĩa. Muốn làm tròn
nhiệm vụ vẻ vang đó, phụ nữ phải xóa bỏ tâm lý tự ti và ỷ lại, phải có ý chí tự
cường tự lập, phải nâng cao lên mãi trình độ chính trị, văn hóa, kỹ thuật”.
Khi nói về vai trò của phụ nữ đóng góp vào thắng lợi của sự nghiệp cách
mạng nước nhà, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tin tưởng và khẳng định: “Sự tham
gia của phụ nữ là nhân tố quyết định thắng lợi trong sự nghiệp cách mạng Việt
Nam”. Trong Di chúc năm 1969 để lại cho toàn Đảng, toàn dân, Người đã căn
dặn: “Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, phụ nữ đảm đang đã góp phần
Nam 1992 quy định: Công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt
chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình. Nghiêm cấm mọi hành vi phân
biệt đối xử với phụ nữ. Lao động nữ và nam việc làm như nhau thì tiền lương
ngang nhau. Lao động nữ có quyền hưởng chế độ thai sản. Phụ nữ là viên chức
Nhà nước và người làm công ăn lương có quyền nghỉ trước và sau khi sinh đẻ
mà vẫn hưởng lương, phụ cấp theo quy định của pháp luật. Nhà nước và xã hội
tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ mọi mặt, không ngừng phát huy vai
trò của mình trong xã hội; chăm lo phát triển các nhà hộ sinh, khoa nhi, nhà trẻ
và các cơ sở phúc lợi xã hội khác để giảm nhẹ gánh nặng gia đình, tạo điều
kiện cho phụ nữ sản xuất, công tác,học tập, chữa bệnh, nghỉ ngơi và làm tròn
bổn phận của người mẹ”. Nội dung về bình đẳng giới của Hiến pháp 1992 được
Đảng ta cụ thể hóa và chỉ đạo bàng Nghị quyết 04-NQ/TW ngày 12/7/1993 của
Bộ Chính trị về “đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình
hình mới”, Nghị quyết đã xác định vai trò quan trọng đặc biệt của phụ nữ là
“người thầy đầu tiên” của mỗi đời người, “nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ là thật sự
thực hiện quyền bình đẳng và nâng cao địa vị xã hội của phụ nữ”; Chỉ thị số 28CT/TW ngày 29/9/1993 củ Ban Bí thư Trung ương Đảng về “thực hiện nghị
quyết của Bộ Chính trị về đổi mới, tăng cườngcông tác vận động phụ nữ trong
tình hình mới”; Chỉ thị số 37/CT-TW ngày 16/5/1994 của Ban Bí thư Trung
ương về “một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới”, nội dung Chỉ
thị khẳng định: “Cần xây dựng Chiến lược đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng lao
động nữ nói chung và cán bộ nữ nói riêng…Chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ
nữ làm công tác khoa học- kỹ thuật, kinh tế, pháp luật, hành chính, quản lý nhà
nước,...cán bộ nữ dân tộc ít người, tôn giáo, vùng sâu, vùng xa. Các trường lớp
đào tạo, bồi dưỡng của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể khi chiêu sinh cần có
quy định tỷ lệ nữ một cách thoả đáng, đưa vào chương trình đào tạo những kiến
thức về giới...”.
Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX năm 2001 của Đảng chỉ
rõ: “Đối với phụ nữ, thực hiện tốt luật pháp và chính sách bình đẳng giới, bồi
dưỡng, đào tạo nghề nghiệp, nâng cao học vấn; có cơ chế, chính sách để phụ nữ
tham gia ngày càng nhiều vào các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp, các
xã hội, góp phần hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật về bình đẳng giới, là công
cụ để thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình phấn đấu thực hiện mục tiêu bình đẳng giới ở
nước ta. Tất cả các văn bản trên đều nhất quán một quan điểm: “thực hiện tốt
chính sách, pháp luật về bình đẳng giới, bồi dưỡng đào tạo nghề nghiệp, nâng
cao trình độ học vấn, có cơ chế chính sách để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều
vào các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp ”.
Bên cạnh những thành tựu về chủ trương, đường lối và luật pháp, nước ta
cũng đã có một bộ máy quản lý nhà nước về thực hiện bình đẳng giới từ Trung
ương đến các địa phương. Chính phủ có văn bản chính thức giao cho UBND các
cấp thực hiện các vấn đề về bình đẳng giới. Hằng năm Chính phủ có báo cáo với
Quốc Hội về thực hiện các mục tiêu quốc gia về Bình đẳng giới. Những kết quả
đó đã ngày càng tạo điều kiện cho phụ nữ bình đẳng về quyền và cơ hội phát
triển. Cùng với sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, pháp luật của đất nước, sự
7
nghiệp “giải phóng phụ nữ”, “nam, nữ bình quyền”, vì sự tiến bộ của phụ nữ
Việt Nam ngày càng càng được phát huy mạnh mẽ.
2.3. Các nghiên cứu về vai trò và vị thế của phụ nữ
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học ở những khía cạnh khác
nhau về vai trò của phụ nữ Việt Nam trong gia đình và xã hội. Trước hết có thể
kể đến tác phẩm "Phụ nữ Việt Nam qua các thời đại" của tác giả Lê Thị Nhâm
Tuyết (1975), là công trình khoa học đầu tiên ở Việt Nam ghi dấu ấn quan trọng
khởi đầu lĩnh vực nghiên cứu về phụ nữ và giới. Tác phẩm đã làm nổi bật vai
trò phụ nữ Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc. Qua tác phẩm, tác
giả đã phân tích sâu sắc những nét cơ bản về các truyền thống của phụ nữ Việt
Nam trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội và đã trình bày nhiều tư liệu dân tộc
học - lịch sử có giá trị khoa học, gây tiếng vang trong giới nghiên cứu. Tiếp theo
đó, nhiều tác phẩm viết về quyền của phụ nữ được ra đời như “Công ước về việc
của người phụ nữ nông thôn trong lịch sử và trong thời kỳ đổi mới, qua đó tác
giả cũng đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ
và tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ nông thôn phát huy được những tiềm năng
để họ có thể đảm nhận tốt vai trò trong quá trình CNH nông nông nghiệp, nông
thôn. Tất cả những công trình trên đều phản ánh những thay đổi về vai trò của
phụ nữ trong gia đình và bước đầu đã có một số kiến nghị nhằm phát huy vai trò
của phụ nữ trong gia đình và trong công cuộc đổi mới.
Nhiều tác phẩm viết về vai trò, sứ mệnh và cách nhìn nhận từ xã hội đối
với nữ giới tiếp tục lần lượt được ra đời như tác phẩm “Học thuyết Mác - Lênin
về phụ nữ và liên hệ với thực tiễn hiện nay ở nước ta” của tác giả Lê Ngọc Hùng
(2002); “Phụ nữ: những ưu ái và thiệt thòi - nhìn từ góc độ xã hội, pháp lý” của
tác giả Hoàng Thị Kim Quế (2003); “Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất
lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước” của tác giả
Nguyễn Phú Trọng và Trần Xuân Sầm, (2003); “Vai trò của nữ cán bộ quản lý
nhà nước trong quá trình CNH, HĐH” của tác giả Võ Thị Mai (2003); “Vai trò
của phụ nữ trong hệ thống chính trị cơ sở” của tác giả Phạm Thị Thúy (2004);
“Gia đình Việt Nam và vai trò của người phụ nữ trong gia đình hiện nay” của tác
giả Dương Thị Minh (2004); “Nâng cao năng lực phát triển bền vững: giới và
giảm nghèo” của Nguyễn Thị Hiên và Lê Ngọc Hùng (2005),…
Song theo đó, vấn đề về nguồn lực phụ nữ và vai trò của nữ giới trong bộ
máy chính trị cũng được nhiều tác giả quan tâm. Nguồn nhân lực nữ là bộ phận
quan trọng trong chiến lược xây dựng và phát triển nguồn nhân lực. Tiêu biểu là
tác phẩm “Quan tâm bồi dưỡng nguồn nhân lực nữ trong quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước” của PGS Bùi Thị Kim Quỳ (1996); “Cơ sở khoa
học và thực tiễn để xác định nghề đào tạo dự phòng cho phụ nữ” của Tiến sĩ
Nguyễn Tín Nhiệm và Tiến sĩ Phan Thị Thanh (2002); “Việc làm của phụ nữ
Hà Nội” của Tiến sĩ Trần Thị Vân Anh (2003).
Tác phẩm “Phụ nữ tham gia lãnh đạo quản lý” của Trung tâm nghiên cứu
khoa học về lao động nữ (1997) đã phân tích về địa vị của phụ nữ Việt Nam
trong bộ máy chính trị hiện tại. Tác giả Trần Xuân Sầm (1998) với tác phẩm
cán bộ nữ; thứ tư, tình trạng tự ti hoặc níu kéo lẫn nhau trong giới nữ… Ngoài
ra, phụ nữ cũng có nhiều khó khăn trong cộng việc quản lý như công việc gia
đình, định kiến giới, dư luận xã hội, phong tục tập quán, văn hóa dân tộc…”.
Tác phẩm còn khuyến nghị “cần tăng quyền và mở rộng cơ hội lựa chọn cho cả
hai giới một cách hợp lý, để hai giới có thể phát huy mọi tiềm năng, sức lực của
mình đóng góp cho sự phát triển bền vững của xã hội, của đất nước”. Nghiên
cứu của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà (2008) về “Định kiến giới đối với nữ trong
lãnh đạo, quản lý” đã đưa ra được phần điểm luận tương đối chi tiết về khái
niệm định kiến giới.
“Nghiên cứu định lượng về phụ nữ làm lãnh đạo trong khu vực công ở
Việt Nam” của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (2009) chỉ ra rằng (i) phụ nữ có
rất ít đại diện trong lãnh đạo, trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đến mức
10
người ta có thể nghĩ rằng rằng có những rào cản có hệ thống cản trở sự vươn lên
vị trí lãnh đạo của phụ nữ; (ii) sự tham gia các vị trí lãnh đạo của phụ nữ không
đều khắp các ngành và các lĩnh vực của đời sống xã hội. Họ có xu hướng có sự
tham gia nhiều hơn trong các lĩnh vực như văn hóa, giáo dục và chăm sóc sức
khỏe, và họ có sự tham gia ít hơn trong xây dựng, giao thông vận tải, và các lĩnh
vực đòi hỏi công nghệ cao, và họ không có/rất ít đại diện lãnh đạo trong lĩnh
vực quốc phòng và an ninh; (iii) nơi có nhiều sự tham gia của phụ nữ thì họ
cũng thường không giữ những vị trí lãnh đạo cao nhất; (iv) việc có ít phụ nữ
tham gia lãnh đạo là điều rất phổ biến ở tất cả các tỉnh và mọi vùng địa lý.
Không có khác biệt nào về vấn đề này giữa các vùng, nhưng đồng bằng sông
Hồng tỏ ra là nơi có sự tham gia rất hạn chế của phụ nữ, và vùng Đông Nam bộ
là nơi có sự tham gia tương đối cao hơn. Điều này cho thấy định kiến văn hóa
đối với việc phụ nữ làm lãnh đạo là rất phổ biến; (v) không có bằng chứng
thuyết phục nào cho thấy có sự tiến bộ theo thời gian về tỷ lệ nữ làm lãnh đạo
(như thể hiện ở sự dao động tỷ lệ nữ trong Quốc hội theo thời gian); (vi) Những
Từ hệ thống văn bản và kết quả của những nghiên cứu được tổng quan trên
đây cho thấy, trước khi Quốc hội thông qua Luật Bình đẳng giới, nhìn chung, hệ
thống pháp luật về bình đẳng giới còn những hạn chế, bất cập nhất định: (i)
quyền bình đẳng giới được quy định tản mạn, rải rác trong nhiều văn bản quy
phạm pháp luật khác nhau, chưa được tập hợp, hệ thống hoá trong một văn bản
quy phạm pháp luật chuyên về bình đẳng giới; (ii) quy định quyền công dân của
nam và nữ trong một số văn bản quy phạm pháp luật, văn bản quản lý hành
chính còn chưa thống nhất, chưa quán triệt đầy đủ về nguyên tắc bình đẳng giữa
nam và nữ; (iii) Nhiều văn bản chuyên ngành quy định về bình đẳng giới nhưng
cũng chỉ lặp lại những quy định chung (mang tính chất khung), chính sách, giải
pháp thực thi chưa được cụ thể hoá; (iv) nhiều quy định mang tính “ưu tiên” cho
nữ nhưng đồng thời hạn chế không ít quyền bình đẳng với nam giới (về công tác
đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch, bổ nhiệm, khen thưởng... khi nữ cán bộ, công
chức, viên chức, công nhân lao động thực hiện thai sản, sinh con, nuôi con nhỏ;
(v) hệ thống pháp luật hiện hành nhìn chung còn thiếu quy định chế tài xử lý các
hành vi vi phạm về bình đẳng giới, một số văn bản có quy định nhưng chưa đủ
mạnh để ngăn chặn, xử lý các vi phạm pháp luật về bình đẳng giới.
Mặc dù Luật Bình đẳng giới được ban hành vào năm 2006, nhằm khắc
phục những bất cập trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, thực thi
pháp luật, thể hiện sự quyết tâm của Việt Nam trong thực hiện các cam kết với
quốc tế về quyền con người, xóa bỏ mọi hình thức phân biệt với phụ nữ. Tuy
nhiên cho đến nay ở từng cấp, từng ngành, từng địa phương Luật Bình đẳng giới
vẫn chưa thật sự đi vào cuộc sống. Cần có nhiều nghiên cứu, đặc biệt là ở các
địa phương để làm cơ sở xây dựng hệ thống văn bản pháp luật về bình đẳng giới
ngày càng hoàn thiện hơn.
12
Phần 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
nguồn lực và thụ hưởng những thành quả xã hội. Bất bình đẳng giới cũng có thể
được coi là hệ quả của sự phân biệt đối xử trên cơ sở giới, nghĩa là nam giới hay
nữ giới bị đối xử khác nhau, do các định kiến giới, dẫn đến cơ hội phát huy năng
13