ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------
HOÀNG HỮU THỌ
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG CÂY
BA KÍCH TÍM (MORINDA OFFICINALIS HOW) BẰNG PHƢƠNG
PHÁP GIÂM HOM TẠI HỢP TÁC XÃ TOÀN DÂN HUYỆN BA CHẼ
TỈNH QUẢNG NINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành : Trồng trọt
Khoa
: Nông học
Khóa học
: 2011 – 2015
Thái Nguyên, 2015
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------
Vì vậy, mỗi sinh viên được đào tạo trong nhà trường cần nắm vững những
kiến thức lý thuyết qua đó vận dụng vào thực tế. Thực tập tốt nghiệp là một
giai đoạn quan trọng. Trong quá trình thực tập tốt nghiệp mỗi sinh viên có thể
vận dụng được những gì mình đã học, học hỏi những điều mình chưa biết và
làm quen với thực tiễn, tích lũy được kinh nghiệm để bổ sung kiến thức nâng
cao trình độ chuyên môn cho bản thân để phục vụ cho công việc sau này.
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự nhất trí của Ban giám
hiệu nhà trường và Ban chủ nhiệm khoa Nông Học trường Đại Học Nông
Lâm Thái Nguyên, tôi quyết định tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống cây Ba Kích tím (Morinda officinalis
How) bằng phƣơng pháp giâm hom tại hợp tác xã Toàn Dân huyện Ba
Chẽ - tỉnh Quảng Ninh”.
Để có được kết quả như ngày hôm nay tôi xin chân thành cảm ơn Ban
giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Nông Học đã tạo mọi điều kiện
thuận lợi giúp tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới
Ban chủ nhiệm hợp tác xã Toàn Dân huyện Ba Chẽ cùng toàn bộ cán bộ công
nhân viên của hợp tác xã Toàn Dân huyện Ba Chẽ đã giúp tôi hoàn thành đề
của mình.
Trong suốt quá trình thực tập mặc dù bản thân đã hết sức cố gắng
nhưng do kinh nghiệm cũng năng lực bản thân còn hạn chế. Vì vậy, đề tài
không tránh khỏi những thiếu sót và khuyết điểm. Tôi rất mong nhận được sự
đóng góp ý kiến, chỉ bảo của các thầy cô giáo và các bạn để đề tài trở nên
hoàn thiện hơn nữa.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Ba Chẽ, ngày 15 tháng 06 năm 2015
Sinh viên
ii
IAA : Acid indol axetic
IBA : Acid indol butylic
IPA : Acid indol propionic
CT : Công thức
NL : Nhắc lại
AND : Acid Deoxyribo Nucleic
TB: Trung bình
v
MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1 MỞ ĐẦU ........................................................................................... 1
1.1 Đặt vấn đề.................................................................................................... 1
1.2 Mục đích nghiên cứu ................................................................................... 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu .................................................................................... 2
1.4 Ý nghĩa của đề tài ........................................................................................ 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................ 3
2.1. Cơ sở khoa học ........................................................................................... 3
2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước ...................................... 3
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới ........................................................... 3
2.2.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam liên quan đến nhân giống cây trồng ..... 4
2.2.3 Tổng quan về đối tượng nghiên cứu ...................................................... 13
2.2.4. Tổng quan về khu vực nghiên cứu ........................................................ 15
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .. 18
3.1 Đối tượng, vật liệu và phạm vi nghiên cứu ............................................... 18
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu............................................................................ 18
3.1.2. Vật liệu nghiên cứu ............................................................................... 18
3.1.3. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................... 18
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu ............................................. 19
Cây Ba kích tím (Morinda officinalis How) là cây dược liệu quý được
tìm thấy nhiều ở một số tỉnh vùng núi phía Bắc như: Lạng Sơn, Quảng Ninh…
Trong nhiều thập kỷ qua, nguồn dược liệu Ba kích chỉ dựa vào việc khai
thác tự nhiên từ rừng thuộc một số tỉnh phía Bắc như: Tuyên Quang, Yên Bái,
Phú Thọ, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Hòa Bình, Quảng Ninh... Đặc biệt
trong những năm gần đây, do nhu cầu sử dụng loài cây này làm dược liệu ngày
càng gia tăng nên nó bị khai thác kiệt quệ. Mặt khác, vùng phân bố của Ba Kích
bị tàn phá nghiêm trọng khiến loài cây này lâm vào tình trạng gần như tuyệt
chủng và được đưa vào sách đỏ Việt nam cần được bảo vệ. Vì vậy, việc nghiên
cứu và gây trồng cây Ba kích là con đường duy nhất để duy trì và phát triển
nguồn dược liệu quý này.
Trong điều kiện thực tế hiện nay của nước ta cây Ba kích có thể được
nhân giống bằng các phương pháp hữu sinh như giâm củ, gieo hạt và các
phương pháp nhân giống vô tính như giâm hom, giâm cành và nuôi cấy mô tế
bào chủ yếu là: Giâm hom, giâm củ, nuôi cấy mô tế bào. Trong đó, phương
pháp nhân giống bằng giâm hom được xem là sử dụng phổ biến hiện nay hơn
vì: kỹ thuật thực hiện đơn giản, hệ số nhân giống khá cao), giữ được đặc tính
di truyền của cây mẹ. Tuy nhiên, hiện nay kỹ thuật giâm hom của người dân
còn nghèo nàn, hạn chế, đồng thời việc chăm sóc và theo dõi sinh trưởng của
cây con sau khi đem trồng cũng chưa có nhiều kinh nghiệm và sự quan tâm.
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trên, việc tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên
cứu kỹ thuật nhân giống cây Ba kích tím ( Morinda officinalis How)bằng
phương pháp giâm hom tại hợp tác xã Toàn Dân huyện Ba Chẽ - tỉnh
Quảng Ninh” là cần thiết và có tính khả thi cao.
2
1.2 Mục đích nghiên cứu
Nhân giống cây Ba kích tím thành công bằng phương pháp giâm hom
với hiệu quả cao. Đánh giá được tình hình sinh trưởng của hom cây Ba kích
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học
Nhân giống là bước cuối cùng của một chương trình cải thiện giống để
cung cấp hạt hoặc hom cành phục vụ cho công tác gây giống cây trồng trên quy
mô lớn và cho các bước cải thiện giống theo các phương thức sinh sản thích hợp.
Như ta đã biết, thực vật bậc cao có hai hình thức sinh sản chủ yếu là
sinh sản hữu tính (bằng hạt) và sinh sản sinh dưỡng (bằng giâm hom, chiết
ghép, nuôi cấy mô…). Sinh sản bằng hạt tạo được cây khỏe mạnh nhưng lâu
có quả và khó giữ được đặc tính di truyền tốt của cây mẹ. Để duy trì được đặc
tính tốt của cây giống người ta thường dùng các phương thức nhân giống sinh
dưỡng. Nhân giống sinh dưỡng là phương pháp dựa trên cơ sở phân bào
nguyên nhiễm. Đây là phương thức phân bào về cơ bản không có sự tái tổ hợp
của chất liệu di truyền cho nên các cây mới được tạo ra vẫn giữ được đặc tính
vốn có của cây mẹ lấy vật liệu giống [7].
Nhân giống bằng hom (cutting propagation): Là phương pháp dùng một
phần lá, một đoạn thân hoặc đoạn cành để tạo nên cây mới, cây mới có đặc
tính di truyền như của cây mẹ. Nhân giống bằng hom là phương pháp có hệ số
nhân giống cao nên được dùng phổ biến trong nhân giống cây trồng nói
chung. Do vậy, việc tiến hành nghiên cứu kỹ thuật nhân giống cây Ba kích
tím là cần thiết.
2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nƣớc
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Tốc độ phát triển nhanh chóng của nền kinh tế toàn cầu và khu vực đã làm
cho môi trường sống bị ô nhiễm, rừng bị suy giảm cả về số lượng lẫn chất lượng,
đặc biệt ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người. Đứng trước tình hình đó
4
các nhà khoa học về lĩnh vực nông lâm nghiệp đã và đang nỗ lực để tìm ra
những phương pháp tạo giống cây mới đóng góp vào ngân hàng hạt giống ngày
2.2.2.2.Nghiên cứu về cơ sở di truyền học
Sinh vật bậc cao được phát triển từ một tế bào hợp tử qua nhiều lần
phân bào liên tiếp cùng với quá trình phân hóa các cơ quan. Đặc trưng của
hình thức phân bào trên là số lượng NST của tế bào khởi đầu và tế bào mới
được phân chia như nhau nên được gọi là phân bào nguyên nhiễm hay nguyên
phân. Phân bào nguyên nhiễm là quá trình phân chia tế bào mà kết quả từ một
tế bào ban đầu cho ra hai tế bào con có số lượng NST cũng như cấu trúc và
thành phần hóa học của nó giống như tế bào ban đầu [2] .
Nhờ có quá trình nguyên phân mà các NST được phân phối đồng đều,
chính xác cho các tế bào con. Ở kỳ đầu của quá trình nguyên phân, NST tự tái
bản trước tiên theo chiều dọc rồi tách theo chiều ngang, sau đó qua các kỳ tiếp
theo NST phân chia về các tế bào con đảm bảo cho các tế bào con đều có bộ
NST như nhau và giống tế bào ban đầu. Nhờ có quá trình nguyên phân mà
khối lượng cơ thể tăng lên, sau đó nhờ có quá trình phân hóa các cơ quan
trong quá trình phát triển cá thể mà tạo thành một cây con hoàn chỉnh. Đây là
một quá trình đảm bảo cho cây con duy trì tính trạng của cây mẹ.
2.2.2.3.Nghiên cứu về cơ sở phát sinh phát triển cá thể
Ở các sinh vật đa bào, thông qua nguyên phân, với quá trình phân
hóa các mô, hình thành các cơ quan tạo nên cơ thể. Phát triển cá thể là quá
trình phát triển của một cơ thể, từ khi sinh ra đến khi trưởng thành, già và
chết tự nhiên. Như vậy, phát triển là quá trình triển khai một chương trình
đã được mã hóa trong AND của tế bào khởi đầu. Trong quá trình sinh
trưởng và phát triển của mọi sinh vật đều dưới sự điều hòa của bộ gen, và
bộ gen chịu ảnh hưởng do môi trường xung quanh tác động. Môi trường ở
đây bao gồm môi trường bên trong và môi trường bên ngoài ảnh hưởng đến
6
tế bào chất – nơi cung cấp vật chất, năng lượng và thông tin cho sự thực
hiện chương trình phát triển. [2].
Mô sẹo là khối tế bào nhu mô có mức độ ligin hóa khác nhau. Thông
thường trước khi xuất hiện rễ thấy xuất hiện một lớp mô sẹo nên thường tin
rằng sự xuất hiện của mô sẹo là sự xuất hiện của rễ của hom. Nhưng ở nhiều
loài cây, sự xuất hiện của mô sẹo là một dự báo tốt về khả năng ra rễ. Mức độ
hóa gỗ cũng ảnh hưởng tới sự ra rễ của hom. Hom hóa gỗ nhiều, hay phần gỗ
chiếm nhiều thì khả năng ra rễ kém. Hiện tượng cực tính là hiện tượng phổ
biến trong giâm hom, do vậy khi giâm hom phải đặt cho cho đúng chiều [4].
2.2.2.5. Nghiên cứu về cơ sở sinh lý của sự hình thành rễ bất định
Thông thường người ta chia các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của
hom thành hai nhóm là nhóm nhân tố nội sinh và nhóm nhân tố ngoại sinh.
Các nhân tố thuộc nhóm nội sinh là những đặc điểm di truyền của loài,
của xuất xứ và của cá thể, tuổi cây, tuổi cành, vị trí cành, pha phát triển và cá
chất điều tiết sinh trưởng [1].
Nhóm nhân tố ngoại sinh là các loại hóa chất kích thích ra rễ và các
nhân tố ngoại cảnh như độ ẩm, ánh sáng, nhiệt độ, thời vụ giâm hom…
a. Các nhân tố nội sinh
* Đặc điểm di truyền của từng xuất xứ, từng cá thể
Do đặc điểm biến dị mà các xuất xứ và các cá thể khác nhau cũng có
khả năng ra rễ không giống nhau. Nghiên cứu cho Bạch đàn trắng Caman
(E.Camaldulensis) 4 tháng tuổi đã thấy rằng trong khi xuất xứ Katherine có tỷ
lệ ra rễ 95% thì xuất xứ Gilbert River chỉ có tỷ lệ ra rễ 50%, còn xuất xứ
Nghĩa Bình chỉ ra rễ 35% [10].
+ Tuổi cây mẹ lấy cành: Khả năng ra rễ của hom giâm không những do
tính di truyền quy định mà còn phụ thuộc rất lớn về tuổi cây mẹ lấy cành.
Thông thường cây chưa sinh sản hạt thì dễ nhân giống bằng hom hơn khi cây
8
đã sinh sản hạt. Hom lấy từ cây tuổi non dễ ra rễ hơn hom lấy từ cây tuổi
già.Ở một số loài cây, thậm chí khả năng ra rễ của hom chỉ tồn tại ở những
của nhiều loài cây.
- Đồng nhân tố ra rễ (rooting – factors): Hess (1961) cho rằng một số
chất nội sinh điều tiết phân phối hoạt tính của IAA gây nên khởi động ra rễ và
gọi là đồng nhân tố.
- Các chất kích thích ra rễ và kìm hãm ra rễ: Nhiều nghiên cứu đã nêu
lên sự tồn tại của chất kích thích ra rễ trong các mô của các loài cây dễ ra rễ.
Ví dụ: Serquiterpnic lactone được tách chiết từ lá cây Hướng dương. Các chất
kích thích và kìm hãm ra rễ đều có thể tồn tại ở hầu hết thực vật. Tiềm năng
ra rễ của hom giâm được xác định bằng nồng độ tương đối cao của các chất
này. Các loài cây dễ ra rễ chứa nồng độ cao các chất kích thích ra rễ, còn các
loài cây khó ra rễ lại chứa nồng độ cao các chất kìm hãm ra rễ [6].
b. Các nhân tố ngoại sinh
Khả năng ra rễ của hom giâm chịu ảnh hưởng của các nhân tố ngoại
sinh trước hết là điều kiện sống của cây mẹ lấy giống, sau đó các nhân tố ảnh
hưởng đến quá trình giâm hom như mùa vụ giâm hom,các điều kiện ánh sáng,
nhiệt độ, độ ẩm và giá thể giâm hom.
* Điều kiện sinh sống của cây mẹ lấy cành
Điều kiện sinh sống của cây mẹ lấy cành có ảnh hưởng khá rõ đến tỷ lệ
ra rễ của hom giâm, nhất là hom lấy từ các cây non. Những điều kiện như: chế
độ chiếu sáng, độ ẩm không khí, độ ẩm đất, tuổi cây mẹ đều ảnh hưởng đến
khả năng ra rễ của hom giâm [2].
*Thời vụ giâm hom
Thời vụ là một trong những nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự
ra rễ của hom giâm. Tỷ lệ ra rễ của hom giâm phụ thuộc vào thời vụ lấy cành
10
và thời vụ giâm hom. Một số loài cây có thể giâm quanh năm, song bên cạnh
đó nhiều loài cây có thời vụ giâm hom nhất định. Theo Frison (1967) và
Nesterov (1967) thì mùa mưa là mùa có tỷ lệ giâm hom đạt tỷ lệ cao hơn so
giá thể thích hợp cho giâm hom là 50- 70% .Khi tăng độ ẩm lên 100% chỉ một
số loài như Nerium oleander vẫn giữ được tỉ lệ ra rễ cao, các loài khác đều
giảm rõ rệt hoặc không ra rễ [2].
* Các chất kích thích điều hòa sinh trƣởng
Các Auxin: Các chất điều hòa sinh trưởng đóng vai trò đặc biệt quan
trọng trong quá trình hình thành rễ của hom giâm trong đó các Auxin được sử
dụng nhiều nhất đối với những loài thuộc nhóm ra rễ.
Các Auxin được chia thành hai nhóm: Auxin tự nhiên và Auxin tổng
hợp, auxin tự nhiên được biết là các axit indol- axetic (IAA). Các Auxin tổng
hợp là axit indol butylic (IBA), axit indol propionic (IPA) và axit naphty
axetic axit (NAA). Các chất được dùng kích thích ra rễ hiện nay chủ yếu là
những chất nói trên hoặc dẫn xuất của chúng [4].
2.2.2.6. Các nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực giâm hom
Nhân giống sinh dưỡng bằng hom là biện pháp đang được phát triển rất
nhanh và được áp dụng rộng rãi vào sản xuất lâm nghiệp. Tạo dòng vô tính là
hướng đi nhiều triển vọng, trong đó giâm hom là một trong những yếu tố có ý
nghĩa quyết định. Đối với nhân giống bằng hom, có vô số nhân tố tác động tới
tỷ lệ ra rễ của hom, vì quá trình hình thành rễ ở hom phụ thuộc vào điều kiện
nội sinh của cây mẹ và vào điều kiện môi trường, trong đó một số nhân tố có
ảnh hưởng lớn là: đặc điểm của cây cá thể, trạng thái sinh lý của hom, kích
thước của hom được dùng trong giâm hom, xử lý chất kích thích ra rễ (loại
thuốc, nồng độ, cách xử lý), thời vụ giâm hom... Muốn giâm hom có tỷ lệ ra
rễ cao phải biết tiến hành ở thời vụ thích hợp, sử dụng chất kích thích ra rễ và
12
kỹ thuật giâm hom hợp lý. Do vậy giâm hom để sản xuất hàng loạt vật liệu
giống đã được cải thiện là một biện pháp kỹ thuật tổng hợp bao gồm nhiều
công đoạn.
Việt Nam đã và đang ứng dụng những thành tựu trong nghiên cứu tạo
giá thể làm bằng cát hay trực tiếp trong túi bầu.
- Đối với cây Bách xanh có độ tuổi từ 2- 10 tuổi lấy cành của cây
trưởng thành hoặc đã tạo qua chồi. Hom ra rễ đạt 85- 95% khi xử lý IBA 1%
với giá thể làm bằng cát.
- Với cây Hồng tùng giâm hom thành công ở các giai đoạn có độ tuổi
khác nhau bằng chồi vượt của cây trưởng thành hoặc đã qua tạo chồi. Hom ra
rễ đạt 80- 85% khi xử lý bằng IBA 1,5% trên giá thể bằng cát.
2.2.3 Tổng quan về đối tượng nghiên cứu
Cây Ba kích, có tên khoa học là Morinda officinalis How, thuộc họ Cà
phê (Rubiaceae). Ba kích còn có nhiều tên gọi khác nhau như: Ba kích thiên,
Ba Kích (Bản Thảo Đồ Kinh), Bất điêu thảo (Nhật Hoa Tử Bản Thảo), Ba
cức, Diệp liễu thảo, Đan điền lâm vũ, Lão thử thích căn, Nữ bản (Hòa Hán
Dược Khảo), Kê nhãn đằng, Đường đằng, Tam giác đằng, Hắc đằng cổ
(Trung Dược Đại Từ Điển), Kê trường phong (Trung Dược Chí), Tam mạn
thảo (Đường Bản Thảo), Thỏ tử trường (Trung Dược Tài Thủ sách), Dây ruột
gà, Chẩu phóng xì, Sày cáy (Thái), Thau tày cáy (Tày), Chồi hoàng kim,
Chày kiằng dòi (Dao).
Ba kích là cây thân thảo sống lâu năm, mọc hoang và phân bố nhiều
ở vùng đồi núi thấp của các tỉnh trung du miền núi phía Bắc như ở Quảng
Ninh, Vĩnh Phú, Thái Nguyên, Bắc Giang, Lạng Sơn, Hà Giang.... Ba Kích
là cây ưa ẩm, ưa sáng và hơi chịu bóng khi còn non. Trong tự nhiên thường
thấy Ba Kích trong các kiểu rừng thứ sinh hoặc rừng xen tre nứa. Độ cao
14
phân bố thường phổ biến dưới 300 m so với mực nước biển, trên các loại
đất feralit đỏ vàng hay vàng đỏ và hơi chua. Cây sinh trưởng mạnh vào
mùa xuân hè, ra hoa quả trong vụ hè thu, đến mùa đông nếu gặp sương
muối nhiều, cây bị rụng lá. Trong điều kiện trồng thâm canh, cây có giá thể
leo và được chiếu sáng đầy đủ sẽ ra hoa quả nhiều. Cây Ba Kích mọc tự
làm cho cây thuốc này trở nên hiếm. Tuy nhiên, Ba kích bước đầu đã được
đưa vào trồng xen và trồng thuần loài trong các mô hình vườn rừng, bước đầu
đã mang lại kết quả cao. Ba kích trồng được 3 năm có thể thu hoạch, thời gian
thu hoạch càng lâu thì giá trị dược liệu càng cao. Thời gian thu hoạch thường
vào tháng 10- 11. Dùng cuốc đào rộng chung quanh gốc, lấy toàn bộ rễ rửa
sạch. Loại rễ to, mập, cùi dầy, mầu tía là loại tốt. Rễ nhỏ, gầy, cùi mỏng, mầu
trong là loại vừa.
* Điều kiện gây trồng cây Ba kích
Với phương châm “Phòng bệnh hơn chữa bệnh” của ngành y tế thì việc
nghiên cứu và sản xuất các loại thuốc bổ để tăng cường sức khỏe thường xuyên
của cộng đồng, góp phần ngăn ngừa bệnh tật ngày càng được đẩy mạnh. Trong
bối cảnh đó, Ba kích đang trở thành một cây thuốc bản địa độc đáo ở nước ta.
Mặt khác, lại là cây trồng thích hợp ở đất đồi thoát nước, có thể trồng xen hoặc
trồng thuần loài, ít cạnh tranh về đất với các loại cây trồng khác, vì vậy nó có ý
nghĩa to lớn trong việc tăng thu nhập cho đồng bào vùng cao.
2.2.4. Tổng quan về khu vực nghiên cứu
* Vị trí địa lý
Thí nghiệm được tiến hành tại Hợp tác xã Toàn Dân thị trấn Ba Chẽhuyện Ba Chẽ- tỉnh Quảng Ninh. Hợp tác xã Toàn Dân trực thuộc địa bàn
huyện Ba Chẽ, cơ sở làm việc thuộc thôn Đồng Thầm- xã Thanh Lâm. Căn cứ
theo bản đồ địa lý của huyện Ba Chẽ thì vị trí của hợp tác xã như sau:
16
- Phía Bắc giáp với huyện Tiên Yên
- Phía Nam giáp với Xã Đồn Đạc
- Phía Tây giáp với Xã Đạp Thanh
- Phía Đông giáp với Xã Thanh Sơn
Hệ thống giao thông không được thuận lợi, có hàng rào bảo vệ xung
quanh, diện tích rộng lớn, hệ thống tưới tiêu đáp ứng tốt nhu cầu.
* Địa hình
P2O5
K2O
N
P2O5 K2O
pH
3,64
4,56
0,90
3,3
3,03
0,12
0.41
4,0
0,713 0,034 0,131 0,107 0,108
3,04
(oC)
1
27.4
80
18
2
28.6
83
21.0
3
80.4
88
20.5
4
147.6