LỜI CẢM ƠN
Để nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi còn nhận được
sự giúp đỡ từ các cá nhân, tổ chức từ trong và ngoài trường.
Vậy qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến toàn thể thầy cô giáo trong Trường Đại học Lâm
Nghiệp, đặc biệt là thầy cô thuộc khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh đã dạy dỗ, dìu dắt tôi trong suốt thời
gian tôi học tại trường giúp tôi có kiến thức chuyên sâu về kinh tế.
Tôi xin cảm ơn cán bộ và nhân dân xã Trực Đại, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định đã giúp đỡ và tạo
điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu thu thập số liệu và khảo sát thực tế tại địa phương.
Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã quan tâm, chăm sóc, động viên tôi trong quá trình học tập, tích
lũy kiến thức.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thạc sĩ Đặng Thị Hoa, người đã giảng dạy, tận tình hướng
dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình.
Trong thời gian thực tập tôi đã cố gắng để hoàn thành báo cáo của mình, tuy nhiên khó tránh khỏi
thiếu xót. Vì vậy mong nhận được sự nhận xét, bổ sung của thầy cô.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày 30 tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Lưu Văn Hiền
DANH MỤC VIẾT TẮT
CNH-HDH
NTM
UBND
THCS
THPT
CTXH
QHXD
HD-ND
KT-XH
HTX
quá trình thực hiện chủ trương của Đảng về phát triển nông thôn, xã Trực Đại đã tiến hành xây dựng mô hình
nông thôn mới xây dựng làng, xã có cuộc sống no đủ, văn minh, môi trường trong sạch.
Từ năm 2011, xã Trực Đại đã triển khai áp dụng hoạt động nông thôn mới của chính phủ và đạt
được một số thành tựu đáng kể trong phát triển nông nghiệp ở địa phương, nếp sống, mức sống, thu nhập
tăng cao so với những thời kỳ trước. Người dân đã áp dụng khoa học kĩ thuật vào trồng trọt chăn nuôi. Đời
sống người dân đã được nâng cao cả về vật chất lẫn tinh thần, bộ mặt làng xã đã thay đổi rõ rệt, cảnh quan
môi trường được đảm bảo hơn. Mặc dù đã có nghị quyết hướng dẫn thi hành, nhưng vẫn còn nhiều bất cập ở
cấp xã cần được giải quyết. Do đó tôi chọn nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá kết quả xây dựng nông thôn mới
tại xã Trực Đại, Huyện Trực Ninh, Tỉnh Nam Định”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Tìm hiểu thực trạng xây dựng nông thôn mới tại xã Trực Đại và trên cơ sở đó đưa ra giải pháp nhằm
đẩy nhanh quá trình xây dựng nông thôn mới tại xã Trực Đại, Trực Ninh, Nam Định.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng mô hình nông thôn mới.
- Đánh giá kết quả xây dựng mô hình nông thôn mới tại xã Trực Đại.
- Phân tích những thuận lợi và khó khăn trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại xã.
- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả xây dựng nông thôn mới tại xã.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là kết quả xây dựng nông thôn mới đang được triển khai tại địa
phương.
Nghiên cứu những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn về xây dựng mô hình nông thôn mới.
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Tại xã Trực Đại, huyện Trực Ninh, Tỉnh Nam Định.
- Về thời gian:+ Số liệu được lấy trong 4 năm 2011-2014.
+ Thời gian thực hiện đề tài từ 01/2015-05/2015
1.4. Nội dung nghiên cứu
điểm khác cho rằng nông thôn là nơi có mật độ dân số thấp hơn so với thành thị. Vùng nông thôn là vùng có
dân cư làm nông nghiệp là chủ yếu, nguồn sinh kế chính của cư dân trong vùng là sản xuất nông nghiệp.
Quan điểm khác lại cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường, phát triển hàng hóa để xác
định vùng nông thôn vì cho rằng vùng nông thôn có trình độ sản xuất hàng hóa và tiếp cận thị trường thấp
hơn so với thành thị. Hay dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển cơ sở hạ tầng, nghĩa là cơ sở hạ tầng của vùng
nông thôn không phát triển bằng đô thị.
Như vậy khái niệm nông thôn chỉ có tính chất tương đối, nó thay đổi theo thời gian và tiến trình phát
triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia trên thế giới. Trong điều kiện hiện nay của Việt Nam chúng ta có thể
hiểu: “ Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân. Tập hợp cư dân này
tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và
chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác”.
Nông nghiệp là quá trình sản xuất ra lương thực, thực phẩm cung cấp cho con người và tạo ra của
cải cho xã hội.
Nông dân là những người lao động cư trú ở nông thôn, tham gia sản xuất nông nghiệp, sống chủ yếu
bằng ruộng vườn sau đó đến ngành nghề khác và tư liệu chính là đất đai.
- Nông thôn mới:
Trước tiên, nông thôn mới phải là nông thôn, chứ không phả là thị xã, thị trấn hay thành phố, nông
thôn mới khác với nông thôn truyền thống. Mô hình nông thôn mới là tổng thể, những đặc điểm, cấu trúc tạo
thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới đáp ứng yêu cầu mới đặt ra trong nông thôn hiện nay.
Nhìn chung mô hình nông thôn mới là mô hình cấp xã, thôn được phát triển toàn diện theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, dân chủ và văn minh. Mô hình nông thôn mới được quy định bởi các tính chất: đáp
ứng yêu cầu phát triển, có sự đổi mới về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trường; đạt hiệu quả cao nhất
trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội. Tiến bộ hơn so với mô hình cũ, chứa đựng các đặc điểm
chung, có thể phổ biến và vận dụng trên toàn lãnh thổ.
Xây dựng mô hình nông thôn mới là việc đổi mới tư duy, nâng cao năng lực của người dân, tạo
động lực cho mọi người phát triển kinh tế, xã hội góp phần thực hiện chính sách vì nông nghiệp, nông dân,
nông thôn. Thay đổi cơ sở vật chất, diện mạo đời sống, văn hóa qua đó thu hẹp khoảng cách giữa nông thôn
và thành thị. Đây là quá trình lâu dài và liên tục, là một trong những nội dung quan trọng cần tập trung lãnh
đạo, chỉ đạo trong đường lối, chủ trương phát triển đất nước và các địa phương.
Nghị quyết 26/TQ – TW của ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã đề ra chủ trương xây dựng
truy cập internet. Cả nước còn khoảng hơn 300 nghìn nhà ở tạm.
Quan hệ sản xuất chậm đổi mới, đời sông người dân còn thấp. Kinh tế hộ phổ biến ở quy mô nhỏ.
Kinh tế tập thể phát triển chậm, hầu hết các xã có hợp tác xã nhưng chỉ hoạt động dưới hình thức, chất lượng
yêu và kém. Tỷ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn còn cao, chênh lệch giữa nông thôn và thành thị ngày càng
lớn.
Về văn hóa - môi trường - y tế - giáo dục. Tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp. Mức hưởng thụ về
văn hóa của người dân còn thấp, phát sinh nhiều vấn đề bức xúc, bản sắc văn hóa dân tộc dần bị mai một, tệ
nạn xã hội có xu hướng gia tăng. Hệ thống an sinh xã hội chưa phát triển. Môi trường sống bị ô nhiễm. Số
trạm y tế đạt tiêu chuẩn thấp, y tế dự phòng của xã còn hạn chế.
Hệ thống chính trị tại cấp xã còn yếu về trình độ và năng lực điều hành. Nhiều cán bộ xã chưa qua
đào tạo, trình độ đại học chỉ khoảng 10%.
Vậy xây dựng nông thôn mới là một mô hình phát triển cả nông nghiệp và nông thôn, đi sâu giải
quyết nhiều lĩnh vực, có sự liên kết giữa các lĩnh vực với nhau tạo nên khối thống nhất vững mạnh.
2.1.3. Vai trò của xây dựng mô hình nông thôn mới
Về kinh tế: Hướng đến nông thôn có nền sản xuất hàng hóa mở, thị trường hội nhập. Thúc đẩy nông
nghiệp, nông thôn phát triển nhanh, khuyến khích mọi người tham gia vào thị trường, hạn chế rủi ro cho
nông dân, giảm bớt sự phân hóa giàu nghèo và khoảng cách mức sống giữa nông thôn và thành thị. Xây dựng
các hợp tác xã theo mô hình kinh doanh đa ngành. Hỗ trợ ứng dụng khoa học kĩ thuật, công nghệ tiên tiến
vào sản xuất kinh doanh, phát triển ngành nghề ở nông thôn. Sản xuất hàng hóa có chất lượng cao, mang nét
đặc trưng của từng địa phương. Chú ý đến các ngành chăm sóc cây trồng vật nuôi, trang thiết bị sản xuất, thu
hoạch, chế biến và bảo quản nông sản.
Về chính trị: Phát huy tinh thần dân chủ trên cơ sở chấp hành luật pháp, tôn trọng đạo lý bản sắc địa
phương. Tôn trọng hoạt động của đoàn thể, các tổ chức, hiệp hội vì cộng đồng, đoàn kết xây dựng nông thôn
mới.
Về văn hóa – xã hội: Chung tay xây dựng văn hóa đời sống dân cư, các làng xã văn minh, văn hóa.
Về con người: Xây dựng hình tượng người nông dân tiêu biểu, gương mẫu. Tích cực sản xuất, chấp
hành kỉ cương, ham học hỏi, giỏi làm kinh tế và sẵn sàng giúp đỡ mọi người.
Về môi trường nông thôn: Xây dựng môi trường nông thôn trong lành, đảm bảo môi trường nước
lượng đời sống người dân ở nông thôn, hướng đến mục tiêu dân giàu nước mạnh, dân chủ văn minh.
2.1.5. Các tiêu chí xây dựng nông thôn mới
Căn cứ quyết định số 491/QĐ – TTg ngày 16/04/2009 của Thủ tướng Chính Phủ về việc ban
hành Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới.
Các tiêu chí gồm 5 nhóm:
- Nhóm 1: Quy hoạch (1 tiêu chí)
- Nhóm 2: Hạ tầng kinh tế - xã hội (8 tiêu chí)
- Nhóm 3: Kinh tế và tổ chức sản xuất (4 tiêu chí)
- Nhóm 4: Văn hóa – Xã hội – Môi trường (4 tiêu chí)
- Nhóm 5: Hệ thống chính trị ( 2 tiêu chí)
Cụ thể 19 tiêu chí về nông thôn mới vùng Đồng bằng sông Hồng.
+ Tiêu chí thứ 1: Quy hoạch và thực hiện quy hoạch
Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho sự phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ. Đạt.
Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường theo tiêu chuẩn mới. Đạt.
Quy hoạch phát triển các khu dân cư mới theo hướng văn minh và bảo tồn bản sắc dân tộc. Đạt.
+ Tiêu chí thứ 2: Giao thông nông thôn
Tỷ lệ km đường trục xã, liên xã được bê tông hóa hoặc nhựa hóa đạt chuẩn theo cấp kĩ thuật của Bộ
GTVT. Đạt 100%.
Tỷ lệ km đường trục thôn, xóm được cứng hóa chuẩn theo cấp kĩ thuật của Bộ GTVT. Đạt 100%.
Tỷ lệ km đường trục chính nội đồng được cứng hóa, xe cơ giới đi lại thuận tiện. Đạt 100%.
+ Tiêu chí 3: Thủy lợi
Hệ thống thủy lợi đáp ứng cơ bản yêu cầu sản xuất, sinh hoạt. Đạt.
Tỷ lệ kênh mương do xã quản lý được kiên cố hóa. Đạt 85% trở lên.
+ Tiêu chí 4: Điện nông thôn
Hệ thống điện đảm bảo yêu cầu kĩ thuật. Đạt.
Tỷ lệ người dân tham gia các hình thức bảo hiểm y tế đạt 40% trở lên.
+ Tiêu chí 16: Văn hóa
Xã có 70% làng, thôn đạt tiêu chuẩn văn hóa theo quy định của Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch.
+ Tiêu chí 17: Môi trường
Tỷ lệ hộ sử dụng nước hợp vệ sinh theo tiêu chuẩn quốc gia. Đạt 90% trở lên. Các cơ sở sản xuất,
kinh doanh đạt tiêu chuẩn về môi trường.
Hạn chế tối đa các hoạt động suy giảm môi trường, tích cực phát triển môi trường xanh, sạch đẹp.
Nghĩa trang được xây dựng đúng quy định.
Nước thải, chất thải được thu gom và xử lý theo quy định.
+ Tiêu chí 18: Hệ thống tổ chức chính trị
Đảng bộ, chính quyền xã đạt tiêu chuẩn “trong sạch, vững mạnh”. Các tổ chức đoàn thể trong xã đạt
danh hiệu tiên tiến trở nên. Hệ thống chính trị xã đầy đủ các tổ chức. Cán bộ xã đạt tiêu chuẩn.
+ Tiêu chí 19: An ninh trật tự xã hội
An ninh địa phương phải được đảm bảo giữ vững.
2.2. Cơ sở thực tiễn
2.2.1. Mô hình nông thôn mới của một số nước trên thế giới
2.2.1.1. Xây dựng nông thôn mới ở Hàn Quốc
Những năm đầu 60 đất nước hàn quốc còn phát triển chậm, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, dân số
trong khu vực nông thôn chiếm đến 2/3 dân số cả nước. trước tình hình đó Hàn Quốc đã đưa ra nhiều chính
sách mới nhằm phát triển nông thôn. Qua đó xây dựng niềm tin của người nông dân, tích cực sản xuất phát
triển, làm việc chăm chỉ, độc lập và có tính cộng đồng cao. Trọng tâm là phong trào xây dựng “làng mới”
(Seamoul Undong).
Nguyên tắc cơ bản của làng mới là: nhà nước hỗ trợ vật tư cùng với sự đóng góp của nhân dân.
Nhân dân quyết định các dự án thi công, nghiệm thu và chỉ đạo các công trình. Nhà nước hàn Quốc chú trọng
tới nhân tố con người trong việc xây dựng nông thôn mới. do trình độ của người nông dân còn thấp, việc thực
hiện các chính sách gặp phải khó khăn, vì thế chú trọng đào tạo các cán bộ cấp làng, địa phương. Tại các lớp
tập huấn, sẽ thảo luận với chủ đề: “ làm thế nào để người dân hiểu và thực hiện chính sách nhà nước”, sau đó
các lãnh đạo làng sẽ cũng đưa ra ý kiến và tìm giải pháp tối ưu phù hợp với hoàn cảnh địa phương.
Nội dung thực hiện dự án nông thôn mới của Hàn Quốc gồm có: phát huy nội lực của nhân dân để
xây dựng kết cấu hạ tầng ở nông thôn. Cải thiện cơ sở hạ tầng cho từng hộ dân và hỗ trợ kết cấu hạ tầng phục
của Trung Quốc đã tăng lên 3 lần so với những năm đầu 70. Mục tiêu phát triển nông nghiệp là sản xuất các
nông sản chuyên dụng, phát triển chất lượng tăng cường chế biến nông sản.
Chương trình giúp đỡ vùng nghèo: Mục tiêu là nâng cao sức sống của các vùng nghèo, vùng miền
núi, dân tộc ít người, mở rộng ứng dụng thành tựu khoa học tiên tiến, phổ cập tri thức khoa học công nghệ và
bồi dưỡng khoa học cho cán bộ thôn, tăng sản lượng lương thực và thu nhập nông dân. Sau khi chương trình
được thực hiện, số dân nghèo đã giảm từ 1,6 triệu người còn 5 vạn người, diện nghèo khó giảm tử 47%
xuống còn 1,5%.
Rút bài học từ các nước phát triển, Việt Nam cần tập trung đầu tư vào nông thôn, nhằm thay đổi
diện mạo của nông thôn, làm nông nghiệp phát triển theo hướng hiện đại hóa.
2.2.2. Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
Phong trào xây dựng nông thôn mới đã có bước phát triển mới, đã trở thành phong trào chung
và sâu rộng đến tất cả các địa phương trong cả nước kể từ khi Chính phủ tổ chức hội nghị toàn quốc về xây
dựng nông thôn mới và chính thức phát động phong trào thi đua "Cả nước chung sức xây dựng nông thôn
mới".
Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày 28/10/2008.Thủ tướng Chính phủ
đã ra quyết định số 193/QĐ-TTg "Phê duyệt công trình, rà soát quy hoạch xây dựng nông thôn mới", Quyết
định số 800/QĐ-TTg "phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 2020". Các bộ ngành như: Bộ Nông nghiệp phát triển nông thôn, Xây dựng, Tài nguyên Môi trường, Giao
thông vận tải và các Bộ khác đã ban hành nhiều thông tư liên hộ, thông tư hướng dẫn để triển khai thực hiện.
Đặc biệt đã ban hành bộ tiêu chí gồm 19 tiêu chí cụ thể về nông thôn mới, hướng dẫn chi tiết cho các địa
phương thực hiện. Thông tư liên tịch quy định việc lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch xây dựng xã nông
thôn mới.
Trung ương đã chỉ đạo làm điểm ở một số tỉnh, rút kinh nghiệm chỉ đạo ra diện rộng. Tập trung
đầu tư ngân sách cho các địa phương nhất là những nơi làm điểm, những địa phương có nhiều khó khăn.
Trên cơ sở đó đã tạo được lòng tin của nhân dân đối với chủ trương của Trung ương, xây dựng quyết tâm
thực hiện. Ở các địa phương đã làm tốt công tác tổ chức học tập quán triệt Nghị quyết của Ban chấp hành
Trung ương lần thứ VII (Khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, các văn bản của Chính phủ, hướng
dẫn của các bộ ngành đã nâng cao nhận thức đối với cấp ủy, chính quyền các cấp, cán bộ đảng viên và nhân
dân về mục tiêu, yêu cầu và nội dung của việc xây dựng nông thôn mới của địa phương có kết cấu hạ tầng
nông thôn theo hướng hiện đại, đảm bảo phát triển về cả kinh tế và đời sống xã hội. Nghị quyết X của Đảng
đã đề ra nhiệm vụ thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới. xây dựng các làng xã cuộc sống no đủ,
văn minh, môi trường lành mạnh.
Để xây dựng mô hình nông thôn mới thành công phải là một phong trào quần chúng rộng lớn,
phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân, có sự tham gia chủ động, tích cực của mỗi người dân, cộng
đồng dân cư, hệ thống chính trị cơ sở, sự hỗ trợ, giúp đỡ của Nhà nước, chính quyền cấp cao.
2.2.4. Cơ sở pháp lý xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
- Nghị Quyết số 26/TW ngày 05/8/2008 của BCH Trung ương Đảng (Khóa X) về “Nông
nghiệp, nông dân, nông thôn”.
- Quyết định số 491/TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành bộ tiêu chí Quốc
gia về nông thôn mới.
- Thông tư số 54/2009/TT – BNNN&PTNT ngày 21/8/2009 của Bộ NN&PTNT hướng dẫn thực
hiện Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới.
- Quyết định số 800/ QĐ – TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình
mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-20120.
- Quyết định số 22-QĐ/TTg của Thủ tướng Chính phủ về “Phát triển văn hóa nông thôn đến năm
2015, định hướng đến năm 2020”;
- Nghị định số 41/2010/NĐ-CP của Chính phủ về “Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông
nghiệp, nông thôn” để chỉ đạo các chi nhánh, ngân hàng thương mại các tỉnh, thành phố bảo đảm tang cường
nguồn vốn tín dụng xây dựng NTM tại các xã.
- Nghị định 61/2010/NĐ-CP về khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn.
Phần III. ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
3.1. Điều kiện tự nhiên
3.1.1. Vị trí địa lý và địa hình
- Vị trí địa lý:
Xã Trực Đại nằm cách xa trung tâm huyện, phía Bắc giáp sông Ninh Cơ, phía Nam giáp xã Trực
Thắng, Phía Đông giáp huyện Hải Hậu, phía Tây giáp xã Trực Thái, Trực Cường. Xã có 21 xóm tương ứng
là 21 đội sản xuất.
Tổng diện tích đất
Đất nông nghiệp
Đất trồng cây hằng năm
Đất trồng cây lâu năm
Đất nuôi trồng thủy sản
Đất phi nông nghiệp
Đất ở
Đất chuyên dùng
Đất tôn giáo tín ngưỡng
Đất nghĩa trang
Đất sông và mặt nước
Đất phi nông nghiệp khác
Diện tích ( ha )
930,61
659,19
510,85
80,45
67,89
268,79
72,29
143,66
4,08
10,30
38,01
0,45
Tỷ lệ ( % )
100
70,83
động, chiếm 24,4%; THPT: 828 lao động, chiếm 13,1%.
- Lao động đào tạo chuyên môn: Sơ cấp: 1.220, chiếm 19,3%; Trung cấp: 160 lao động, chiếm
2,5%; Đại học: 68 lao động, chiếm 1%.
Bảng 3.2: Hiện trạng lao động và kế hoạch giai đoạn 2011-2015
Đơn vị tính: Lao động
Stt
Nội dung
Hiện trạng
Năm 2013
Số lao
Cơ cấu
Kế hoạch phát triển
Năm 2014
Năm 2015
Số lao
Cơ cấu
Số lao
Cơ cấu
(%)
100
38,3
18,6
động
6.392
Tổng
Nông nghiệp–Thủy sản
Công nghiệp – XD
động
6.332
2.422
1.180
3
Dịch vụ
2.730
Nguồn: Ban quản lý dự án xây dựng NTM xã Trực Đại
3.2.2. Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng là hệ thống các công trình làm nền tảng cung cấp những yếu tố cần thiết cho sự phát
triển sản xuất và nâng cao chất lượng cuộc sống. Việc quan tâm xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm thực hiện công
nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, từng bước thay đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, xóa đói giảm
nghèo và giảm dần khoảng cách giữa nông thôn và thành thị.
- Về giao thông:
Đường bộ: Nhìn chung giao thông xã Trực Đại tương đối phát triển, xã có vị trí địa lý thuận
lợi, có tỉnh lộ 56 dài 1,7km, huyện lộ Nam Ninh Hải chạy qua góp phần mở rộng giao lưu hàng hóa với các
huyện lân cận, thúc đẩy phát triển kinh tế, sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân. Hệ thống đường giao thông
nông thôn có chiều dài 95,2 km, gồm đường trục xã 4km, đường liên thôn 11,2 km, đường dong xóm 56,9
km, đường giao thông nội đồng 8,7 km. Phần lớn đã được rải nhựa và bê tông hóa. Hệ thống giao thông nội
đồng chưa hoàn chỉnh còn nhỏ hẹp. Để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội yêu cầu cấp thiết làm mới
một số tuyến đường, mở rộng và nâng cấp những tuyến đường đã có.
- Môi trường và nước sạch: xã chưa có hệ thống cấp nước sinh hoạt tập trung. Nguồn nước mặt chịu
ảnh hưởng của thủy triều, mạch nước ngầm sâu hơn 100m. Nhân dân chủ yếu dùng nước ngầm qua giếng
khoan. Tỷ lệ dùng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 90%. Tỷ lệ hộ có cơ sở chăn nuôi hợp vệ sinh 42%. Tỷ lệ
cơ sở sản xuất đạt tiêu chuẩn môi trường là 30%. Xã có 7 điểm thu gom rác thải, diện tích trung bình là
0,2ha.
3.2.4. Hệ thống chính trị tại xã:
Tổ chức Đảng có 519 đảng viên sin hoạt ở 29 chi bộ. Cán bộ xã có 21 người, trong đó có 2 người ở
trình độ Cao Đẳng, 19 người thuộc trình độ Trung Cấp. Trực Đại là xã có truyền thống cách mạng, được
phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Đảng bộ,
chính quyền địa phương nhiều năm được công nhận là trong sạch, vững mạnh, đoàn kết, thống nhất ý chí và
hành động, thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị địa phương. Tình hình ăn ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa
phương ổn định, không có khiếu kiện vượt cấp.
3.2.5. Hệ thống thông tin liên lạc
Xã hội ngày càng phát triển, hệ thống thông tin liên lạc là một phần không thể thiếu được của
bà con nhân dân trong xã. Nhờ hệ thống thông tin thông suốt từ xã đến thôn đã thực hiện tuyên truyền những
đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và những quy định của địa phương đến người dân.
Góp phần nâng cao dân chí và phục vụ kịp thời cho các sự kiện chính trị, vận động học tập theo tấm gương
đạo đức Hồ Chí Minh, tổ chức xét nhận gia đình văn hóa…
3.2.6. Thực trạng kinh tế
- Kinh tế: Trực Đại là một xã sản xuất nông nghiệp chủ yếu, có 2.442 lao động sản xuất trong lĩnh
vực nông nghiệp chiếm 17,7% dân số, chủ yếu là trồng lúa, rau màu, cây ăn quả, chăn nuôi và nuôi trồng
thủy sản. Chăn nuôi tuy phát triển nhưng chủ yếu là chăn nuôi hộ gia đình quy mô nhỏ, số gia trại, trang trại
chưa nhiều. Ngành nghề nông thôn có: nghề mộc, may mặc, xây dựng dân dụng, sản xuất vật liệu xây dựng,
chế biến nông sản… nhìn chung ngành nghề phát triển, tỷ trọng khá tuy nhiên quy mô nhỏ lẻ, phân tán.
- Giá trị sản xuất năm 2013 đạt 304.369 triệu đồng trong đó:
Nông nghiệp thủy sản: 111.318 triệu đồng (36,57%)
Tiểu thủ công nghiệp, xây dựng: 88.711 triệu đồng (29,15%)
Dịch vụ: 104.340 triệu đồng (34,28%)
Phần IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Thực trạng xây dựng nông thôn mới tại xãTrực Đại
4.1.1. Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng nông thôn mới tại xã Trực Đại
Trong những năm vừa qua, cùng với sự phát triển kinh tế chung của tỉnh Nam Định, kinh tế
huyện Trực Ninh cũng đã phát triển với nhịp độ cao, hiệu quả và khá bền vững. Nhưng đến nay, bối cảnh đã
có nhiều yếu tố mới tác động mạnh mẽ đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội của cả nước nói chung, tỉnh
Nam Định nói riêng và trong đó có huyện Trực Ninh. Sự phát triển của từng vùng lãnh thổ, huyện, thị xã,
thành phố ngày càng năng động hơn và vị thế của Trực Ninh trong tổng thể nền kinh tế - xã hội của tỉnh ngày
càng thấy nhiều yếu tố mang tầm lớn hơn, đòi hỏi phát triển mạnh hơn, vững chắc hơn. Do vậy cần phải cập
nhật điều chỉnh bổ sung và xây dựng mới, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế huyện Trực Ninh hay xã
Trực Đại nói riêng với tầm nhìn dài hạn.
Những năm gần đây, mô hình nông thôn mới đã không còn mới mẻ với nước ta, mô hình phát triển nông
thôn đã góp phần quan trọng trong việc phát triển và cải thiện nông thôn nước ta. Để đáp ứng nhu cầu về đời
sống vật chất và tinh thần ngày càng cao của người nông dân theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, dân
chủ hóa, hợp tác hóa, Bộ chính trị đưa ra Nghị quyết số 06 NQ-TW ngày 10/11/1998 và chỉ thị số
49/2001/CT – BNN/CS ngày 27/04/2001 của Bộ trưởng Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn về việc
“Xây dựng mô hình phát triển nông thôn mới”.
Quán triệt tình hình trên, xã Trực Đại thực hiện quyết định của UBND huyện Trực Ninh về
việc phê duyệt đề án xây dựng nông thôn mới xã Trực Đại, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định đến năm 2015.
Đề án xây dựng nông thôn mới nhằm giải quyết bốn nội dung cơ bản là: Phát triển kinh tế nông thôn; Xây
dựng kết cấu hạ tầng nông thôn; Xây dựng thiết chế văn hóa, không ngừng nâng cao chất lượng văn hóa đời
sống ở nông thôn; Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của chính quyền, phát huy sức mạnh của hệ
thống chính trị ở nông thôn.
Với mục tiêu phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại với chủ thể là người nông dân được đảm
bảo hài hòa các lợi ích. Do đó trên quan điểm: Lấy công nghiệp tác động vào nông nghiệp, văn minh
đô thị tác động vào nông thôn, xã sẽ tiếp tục đẩy nhanh việc hoàn chỉnh quy hoạch phát triển nông
nghiệp và tăng cường đầu tư hạ tầng nông thôn nhằm mục tiêu xây dựng nông thôn mới với đầy đủ
các tiêu chí từ kết cấu hạ tầng, đời sống kinh tế xã hội, thiết chế văn hóa… đồng thời thúc đẩy phát
triển sản xuất nông nghiệp theo hướng nông nghiệp công nghệ cao, với việc hình thành các vùng sản
ban đầu
Nâng cao trình độ cho
sách
Phát triển ngành nghề
cán bộ
Đưa giống mới vào sản
truyền thống
xuất
Phát triển cơ sở hạ tầng
Bê tông hóa đường GTNT
Xây dựng nhà văn hóa
Phát triển văn hóa xã hội, bảo vệ
Xây dựng khu sinh hoạt
môi trường
Phát triển kinh tế
Nâng cao mức sống người dân
Xây dựng hệ thống cấp nước
tiêu
hoại
sạch
Tu sửa đình chùa
gom rác
Nguồn: Ban quản lý dự án xây dựng NTM xã Trực Đại
Với mục tiêu phát triển con người một cách toàn diện, việc nâng cao trình độ dân trí là vấn đề
cấp thiết hiện nay. Khi có trình độ, con người có thể tiếp cận với các tiến bộ khoa học kĩ thuật hiện đại, nền
văn minh của nhân loại, cải thiện cuộc sống. Vì vậy công tác giáo dục phải được đặc biệt quan tâm. Vấn đề
chăm sóc sức khỏe cũng hết sức quan trọng, cần chú trọng việc khám sức khỏe định kì, có những chính sách
hỗ trợ hợp lý với những gia đình có công với cách mạng và hoàn cảnh khó khăn, để mọi người đều được
sống cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
Về phát triển tổ chức: Cần thường xuyên bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ cơ
sở. đây là một việc rất cần thiết, vì là bộ máy lãnh đạo của nhân dân, gần gũi nhất và lắng nghe mọi ý kiến
trực tiếp từ người dân. Từng bước hoàn thiện tổ chức trong thôn, xã và phối hợp các hoạt động của tổ chức
để tạo ra sức mạnh tổng hợp góp phần cho sự thúc đẩy phát triển của xã.
Phát triển kinh tế: Xã Trực Đại là xã thuần nông, nhằm tận dụng lao động lúc nông nhàn, nâng
cao thu nhập cho người dân, xã khuyến khích phát triển các ngành nghề phụ, như mộc, may, và tiểu thủ công
nghiệp… ngoài ra cần đưa các giống cây, con mới có năng suất cao vào sản xuất, thực hiện chuyển dịch cơ
cấu cây trồng và vật nuôi hợp lý. Đồng thời áp dụng những tiến bộ khoa học mới vào sản xuất, từng bước
phát triển nền kinh tế của địa phương.
có phát triển thì những yếu tố xã hội mới được phát triển và đây chính là động lực chính cho những tiến bộ
xã hội được thực hiện. Sau khi có thu nhập ổn định đảm bào cuộc sống, người dân mới có điều kiện xây dựng
những công trình phục vụ đời sống cho gia đình và đóng gớp cho sự phát triển chung.
Bảng 4.2: Phân bổ nguồn vốn xây dựng mô hình nông thôn mới
Xã Trực Đại, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định
Đơn vị tính: 1000 đồng
Vốn mới từ chương trình nông thôn mới
TT
Nội dung
Tổng vốn
Trung ương
1
2
Tổng cộng
3
323,613,00
0
Tỷ lệ (%)
Vốn đầu tư
1
9
10
38,013,10
11
127,763,600 55,420,100 29,675,200 1,444,000 24,300,900 71,559,700
39.48
9.2
0.4
7.5
22.1
0
11.7
30,856,500
9.5
255,625,000 106,891,000 43,528,000 19,648,000
920,000
22,960,000 70,740,000 22,209,500 12,256,500
1,893,600
0
Nguồn: Ban quản lý dự án xây dựng NTM xã Trực Đại
Những công trình cần thiết trong xây dựng nông thôn mới của mỗi địa phương là có bộ mặt
nông thôn đổi mới trong đó, xây dựng cơ sở hạ tầng là yếu tố thiết yếu. Qua bảng trên ta thấy người dân ở
các thôn đã tham gia tích cực vào các việc đóng góp kinh phí để thực hiện những hoạt động xây dựng công
trình chung của thôn. Ngoài ra người dân còn đóng góp công sức lao động tại địa phương, những nguồn kinh
phí này là một phần không thể thiếu để hoàn thành các công việc theo tiến độ đề ra.
4.1.4. Ban quản lý dự án xây dựng nông thôn mới
Đội ngũ cán bộ là một khâu quan trọng đóng vai trò quyết định đến chất lượng, hiệu quả hoạt
động của công tác hội và phong trào nông dân. Như chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “cán bộ là người đem
chính sách của Đảng, của Chính Phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và tiến hành. Đồng thời đem tình hình
của dân báo cáo cho Đảng, cho Chính Phủ để đặt ra chính sách đúng”. Vì vậy, cán bộ là cái gốc của mọi công
việc. thực tế cũng cho ta thấy rằng: “Cán bộ thế nào phong trào thế ấy”, tức là ở đâu có cán bộ có năng lực,
trình độ, khả năng vận động, tập hợp được quần chúng, có uy tín, nhiệt tình tâm huyết với công việc thì ở đó
phát huy được tác dụng của phong trào có hiệu quả.
Trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn trong quản lý nhà nước của cán bộ cấp cơ sở là mộ
trong những tiêu chí quan trọng trong phát triển nông nghiệp, nông thôn. Nhận thức được tầm quan trọng của
công tác cán bộ, trong những năm qua địa phương đã tập trung cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhất
là cán bộ giữ chức danh chủ chốt cấp xã, nhờ đó trình độ học vấn của cán bộ, công chức không ngừng được
nâng cao. Cán bộ đảng viên đều đã thông qua các lớp lý luận chính trị nên có khả năng lãnh đạo, điều hành
thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế ở địa phương. Tuy nhiên số có trình độ đại học, cao đẳng còn chiếm tỷ
lệ thấp, và cán bộ cơ sở có khả năng quản lý điều hành còn hạn chế, chưa ngang tầm với nhiệm vụ nhất là khi
thực hiện xây dựng nông thôn mới. Hiện tại đội ngũ cán bộ xã có 21 người trong đó có 2 người ở trình độ cao
đẳng còn lại đã qua đào tạo trung cấp.
các tiêu chí của Nghị quyết là do: nguồn vốn của địa phương còn hạn hẹp chưa thể khắc phục tất cả các yếu
kém cùng lúc mà ưu tiên từng khu vực để giải quyết sớm hơn; trình độ của người dân còn thấp, chưa áp dụng
được các kĩ năng kiến thức hoàn chỉnh; năng lực quản lý của cán bộ chỉ huy còn thấp dẫn đến công tác tuyên
truyền vận động người dân tham gia chưa đầy đủ. Để đảm bảo cho phát triển kinh tế địa phương, mức sống
người dân được nâng cao, xã sẽ tiếp tục xây dựng mô hình nông thôn mới, phát huy những mặt mạnh và cải
thiện dần những tiêu chí chưa đạt được trong những năm tới.
Bảng 4.3: Thực trạng và mục tiêu xây dựng nông thôn mới xã Trực Đại
TT
Tiêu Chí
I
Quy hoạch và thực hiện quy hoạch
1
Quy hoạch
II
Cơ sơ hạ tầng kinh tế - xã hội
2
Mục tiêu
Năm 2012
Cơ bản đạt
Đạt
4
Điện
Đạt
Đạt
Đạt
Đạt
5
Trường học
Chưa đạt
Cơ bản đạt
Cơ bản đạt
Đạt
6
Đạt
Đạt
9
Nhà ở dân cư
Cơ bản đạt
Đạt
Đạt
Đạt
III
Kinh tế và tổ chức sản xuất
10
Thu nhập
Chưa đạt
Chưa đạt
Cơ bản đạt
Đạt
Đạt
Đạt
Đạt
IV
Văn hóa xã hội môi trường
14
Giáo dục
Chưa đạt
Cơ bản đạt
Cơ bản đạt
Đạt
15
Y tế
Chưa đạt
V
Hệ thống chính trị
18
Hệ thống tổ chức CTXH vững mạnh
Đạt
Đạt
Đạt
Đạt
19
An ninh trật tự xã hội
Năm 2015
Đạt
Đạt
Đạt
Đạt
Nguồn: Ban quản lý dự án xây dựng NTM xã Trực Đại
Năm
Hiện trạng
Tỷ lệ (%)
Đạt
100
Đạt
Đạt
Đạt
100
Đạt
Đạt
Đạt
100
Đạt
Đạt