Công tác xã hội nhóm với bệnh nhân tâm thần phân liệt nhằm phục hồi chức năng tự phục vụ (can thiệp tại mô hình phục hồi chức năng bệnh viện tâm thần tỉnh bắc giang) - Pdf 39

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ LOAN

CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM VỚI BỆNH NHÂN TÂM THẦN PHÂN
LIỆT NHẰM PHỤC HỒI CHỨC NĂNG TỰ PHỤC VỤ
( Can thiệp tại mô hình phục hồi chức năng bệnh viện tâm thần tỉnh Bắc Giang)

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI

HÀ NỘI – 2016

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ LOAN

CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM VỚI BỆNH NHÂN TÂM THẦN PHÂN
LIỆT NHẰM PHỤC HỒI CHỨC NĂNG TỰ PHỤC VỤ
( Can thiệp tại mô hình phục hồi chức năng bệnh viện tâm thần tỉnh Bắc Giang)
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI
Ngƣời hƣớng dẫn khoa hoc: PGS.TS Nguyễn Hồi Loan

HÀ NỘI – 2016

viện.
Tiếp đến, là sự chân thành cảm ơn của bản thân tôi tới chính bệnh nhân và
gia đình, người thân của họ đã vô cùng nhiệt tình cộng tác và giúp đỡ tôi trong thời
gian tại viện.
Cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên về vật chất, tinh
thần, kết nối các mối quan hệ, nhằm tạo dựng lên nguồn lực tốt nhất để tôi hoàn
thành công việc học tập.
Mặc dù đã có sự nỗ lực cố gắng của bản thân, song luận văn vẫn không thể
tránh khỏi những thiếu sót. Tôi mong nhận được sự góp ý chân thành của Quý các
Thầy giáo, Cô giáo, của bạn bè và đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 06 tháng 06 năm 2016
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Loan

4


MỤC LỤC
Trang

MỞ ĐẦU………………………………………………………………………1
1.Lý do lựa chọn vấn đề can thiệp ............................................................................. 10
2. Tổng quan những nghiên cứu liên quan đến vấn đề can thiệp ........................... 11
2.1. Trên thế giới: .......................................................................................................... 12
2.2. Tại Việt Nam .......................................................................................................... 15
3. Ý nghĩa của can thiệp .............................................................................................. 18
3.1 Ý nghĩa lý luận: ....................................................................................................... 18
3.2 Ý nghĩathực tiễn: ..................................................................................................... 18

3.2 CTXH nhóm ............................................................................................................ 39
3.3 Khái niệm về chức năng và phục hồi chức năng .................................................... 40
3.4 Khái quát về bệnh viện tâm thần tỉnh Bắc Giang ................................................... 41
3.5 Cơ sở pháp lý của can thiệp: ................................................................................... 43
3.6. Đặc điểm của bệnh nhân TTPL: ............................................................................ 44
3.7. Đặc điểm của đối tượng trước khi can thiệp: ......................................................... 46
Tiểu kết chƣơng 1 ................................................................................................ 48
CHƢƠNG 2: XÂY DỰNG CHƢƠNG TRÌNH CAN THIỆP, TRỢ GIÚP
NGƢỜI TÂM THẦN PHỤC HỒI CHỨC NĂNG TỰ PHỤC VỤ THÔNG
QUA HOẠT ĐỘNG CTXH NHÓM. ................................................................... 49
2.1 Các bƣớc CTXH nhóm đƣợc áp dụng để triển khai công việc can thiệp cho
bệnh nhân TTPL phục hồi chức năng tự phục vụ ................................................... 49
2.1.1. Bước 1:Chuẩn bị và thành lập nhóm ................................................................... 49
2.1.2 Bước 2: Khởi động và bắt đầu hoạt động ............................................................ 53
2.1.3 Bước 3: Tập trung hoạt động- giai đoạn trọng tâm .............................................. 56

6


2.1.4 Bước 4:Lượng giá và kết thúc .............................................................................. 58
2.2. Thực nghiệm hoạt động công tác xã hội nhóm nhằm trợ giúp ngƣời mắc
bệnh tâm thần phân liệt phục hồi chức năng tự phục vụ ........................................ 60
2.2.1 Bước 1: Chuẩn bị và thành lập nhóm ................................................................... 60
2.2.2 Bước 2: Khởi động và bắt đầu hoạt động ............................................................ 71
2.2.3 Bước 3: Tập trung hoạt động- giai đoạn trọng tâm:............................................. 75
2.2.4 Lượng giá kết quả thực nghiệm: .......................................................................... 87
2.3 Bài học kinh nghiệm: ............................................................................................ 91
2.3.1 Mức độ đáp ứng nhu cầu của đối tượng can thiệp: ............................................. 91
2.3.2 Mối liên hệ giữa kiến thức, lý thuyết, phương pháp ứng dụng và kiến thức
thực tế ............................................................................................................................ 91

Thân chủ

8


DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Điểm thực trạng các chức năng tự phục vụ của từng thân chủ trước khi
can thiệp……………………………………………………………………………39
Bảng 1.2: Điểm thực trạng các chức năng tự phục vụ của từng thân chủ sau khi can
thiệp ………………………………………………………………………………83

9


MỞ ĐẦU
1.Lý do lựa chọn vấn đề can thiệp
Tại sao tôi lại chọn đề tài này? Đó là lý do xuất phát từ những trăn trở của bản
thân, từ sự hứng thú đam mê cũng như tính cấp thiết và ứng dụng cao của đề tài.
Từ khi là học sinh tôi tự nguyện lựa chọn ngành học CTXH, đến khi trở
thành sinh viên thì được học đối tượng của CTXH chính là những người yếu thế
trong xã hội( trẻ em mồ côi, trẻ nhiễm HIV, trẻ em lang thang, người già cô đơn,
người già bị bạo hành, phụ nữ bị bạo hành, người đồng tính nam, đồng tính nữ,
những người bị thất nghiệp...) tóm lại là có đủ tất cả già, trẻ, gái, trai miễn sao có
vấn đề cần đến CTXH, bởi vậy mà nhóm đối tượng này đã được nghiên cứu rất
nhiều trên những chiều cạnh khác nhau. Nhưng điều thật đáng buồn là có rất ít
những nghiên cứu về những người bị mắc bệnh TTPL thuộc đối tượng làm việc của
CTXH, phải chăng đây là đối tượng nghiên cứu còn tương đối mới ở nước ta?
Tôi tưởng rằng những câu hỏi mình đặt ra vì những ánh mắt ấy sẽ lãng quên
trong tôi giữa dòng đời mưu sinh cơm, áo, gạo, tiền. Nhưng thật may mắn cho tôi

sâu vào việc tìm hiểu những nhu cầu, mong muốn, tâm tư tình cảm của họ…do vậy
mà hiệu quả trong quá trình phục hồi vẫn chưa cao.
Vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào để mang lại hiệu quả cao nhất bằng việc
tìm hiểu và xác định đúng các chức năng cần được phục hồi và các biện pháp can
thiệp trong mô hình PHCN cho bệnh nhân TTPL và phải có tính ứng dụng cao. Với
cách tiếp cận vấn đề bằng phương pháp CTXH nhóm trên cơ sở đam mê của nhà
nghiên cứu chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả trong việc PHCN cho bệnh nhân tại mô
hình. Vì những lý do trên mà tôi đã chọn đề tài“ CTXH nhóm với bệnh nhân tâm
thần phân liệt nhằm phục hồi chức năng tự phục vụ”(Can thiệp tại mô hình phục
hồi chức năng bệnh viện tâm thần tỉnh Bắc Giang).
2. Tổng quan những nghiên cứu liên quan đến vấn đề can thiệp
Sức khỏe tâm thần nói chung và TTPL nói riêng đã được nghiên cứu từ rất
lâu trong lịch sử phát triển của nhân loại. Bởi vậy mà đã có rất nhiều những công
trình nghiên cứu về căn bệnh này, nhưng chủ yếu là từ góc nhìn y học, nhưng đó lại
là nền tảng hiểu biết về bệnh mang tính quyết định cho việc ứng dụng CTXH với

11


đối tượng là bệnh nhân TTPL. Sau đây là những nghiên cứu và can thiệp liên quan
đến vấn đề.
2.1. Trên thế giới:
Bệnh TTPL đã có từ rất lâu nhưng đến mãi đến thế kỷ XVIII mới được miêu
tả trong y văn. Sự hiểu biết về TTPL bắt đầu bằng quan niệm của Griesinger, ông
gọi đó là sự điên loạn tiên phát. Morel vào năm 1857 mô tả một loại bệnh tâm thần
ở người trẻ tuổi dẫn đến mất trí. Hecker vào năm 1871 mô tả thể thanh xuân thường
xuất hiện ở người trẻ tuổi với những triệu chứng dữ dội và bệnh nhân nhanh chóng
đi đến trạng thái sa sút về trí tuệ, tan rã nhân cách. Năm 1874 Khlboumk mô tả thể
căng trương lực với một hội chứng chủ yếu là rối loạn tâm lý. Magnan V vào năm
1983 mô tả bệnh hoang tưởng mãn tính, trong đó một số bệnh nhân kết thúc bằng

Eugen Bleuler (1857-1939) vào năm 1911 đề nghị thay từ “sa sút sớm” bằng
danh từ TTPL một từ bắt nguồn theo danh từ của Hy Lạp “Schlzein” tách ra hoặc
chia ra. Ông muốn đặt một dấu cộng thêm cho sự quan trọng của sự chia cắt các
chức năng tâm thần cũng như sự tiến triển của sa sút. Ông cũng nhấn mạnh đến điều
mà TTPL không được tạo nên bởi một bản chất hoàn toàn dứt khoát mà nó là một
tổng hợp các rối loạn tâm thần “ Tôi muốn đặt tên sự sa sút sớm là TTPL bởi vì, như
tôi muốn chứng minh sự chia cắt các chức năng tâm thần nhiều loại là một trong
những tính chất rất quan trọng của nó. Để cho thuận lợi tôi dùng danh từ ở số ít
mặc dù một nhóm gần như rất nhiều bệnh”[3, tr21].
Ở Pháp một lập luận tương tự cũng được thực hiện tiếp theo đó là Chasline,
ông là người đặt sự thiếu hòa hợp vào nguồn gốc cá biểu hiện lâm sang của TTPL,
chính sự thiếu hòa hợp này mà Bleuler trước kia mô tả là sự phân ly. Chaslin làm rõ
ràng sự thiếu hòa hợp này qua những cử chỉ của bệnh nhân nhất là về phương diện
hành vi [10, tr29].
Các trường phái nói tiếng Anh nhất là Hoa Kỳ đã cho ho ra những công trình
hiện đại nhất liên quan đến lâm sàng của TTPL kể từ những năm 1950. Quan niệm
về TTPL ở đây đã được mở rộng bằng tất cả những nghiên cứu về tiến triển, về
nguyên nhân hoặc tâm thần bệnh lý; tất cả những trường hợp này đều theo sát các
công trình nghiên cứu ở Châu Âu [ 16, tr9].
Thật đáng buồn là trong một thời gian dài việc tổ chức chữa bệnh cho
họchưa được đặt ra

13


Thời trung cổ phần lớn những bệnh nhân TTPL được đưa vào các tu viện và
các nhà cứu tế, người ta nghĩ ra cách trói họ vào ghế để bệnh nhân không còn kích
động được nữa.
Đến cuối thế kỷ XVIII, thái độ đối bệnh nhân TTPL đã được cải thiện, sự
xuất hiện các cơ sở điều trị chuyên khoa cho các bệnh nhân tâm thần là bước tiến bộ

trong mô hình này bác sĩ gia đình với bệnh nhân, gia đình bệnh nhân tham gia hợp
tác trong đó bác sĩ, y tá, cán sự xã hội tổ chức giới thiệu về bệnh TTPL, các bác sĩ
cung cấp thông tin hỗ trợ, đề xuất, khuyến khích các thành viên tham gia, chia sẻ
kinh nghiệm với các gia đình khác giúp họ gắn liền với nhau đồng thời thảo luận
những vấn đề việc làm, lao động cho bệnh nhân [16, tr24].
Sudipto C ( 1998) đã nghiên cứu, so sánh mô hình PHCN dựa vào cộng đồng
với mô hình chăm sóc bệnh nhân ngoại trú cho bệnh nhân TTPL ở Bawari Ấn Độ từ
1997- 1998 cho thấy bệnh nhận TTPL ở cộng đồng có kết quả tốt hơn và phù hợp
với Ấn Độ và các nước đang phát triển.[ 22, tr19].
Nhìn chung các mô hình tổ chức, chăm sóc bệnh nhân tâm thần trên thế giới
ngoài việc chữa trị chuyên sâu tại các bệnh viện chuyên khoa thì luôn có xu hướng
chăm sóc bệnh nhân tâm thần tại cộng đồng do mô hình ưu việt của nó.
2.2. Tại Việt Nam
Vào năm 1991 một đề án hợp tác giữa ngành tâm thần học Việt Nam và tổ
chức y tế thế giới khu vực Tây Thái Bình Dương “ nghiên cứu thí điểm PHCN tâm
lý xã hội cho bệnh nhân TTPL và động kinh dựa vào cộng đồng” . Kết quả sau 1
năm nghiên cứu cho thấy số bệnh nhân tái phát giảm, thái độ cộng đồng đối với
bệnh nhân tâm thần đã được cải thiện hơn, sự hiểu biết của cộng đồng được nâng
cao rõ rệt, đã huy động được cộng đồng tham gia vào việc PHCN cho bệnh nhân.
Bùi Thế Khanh (1997) “nghiên cứu lồng ghép điều trị, phục hồi chức năng
cho bệnh nhân TTPL vào mạng lưới y tế ở xã Duyên Thái”.Sau 12 tháng nghiên cứu
cho thấy khả năng lồng ghép trong điều trị PHCN cho bệnh nhân TTPL vào mạng
lưới y tế cơ sở là thực hiện được và có hiệu quả.
Luận án Tiến sĩ do Bùi Thế Khanh bảo vệ vào năm 2005 với đề tài “ Phục hồi
chức năng cho bệnh nhân TTPL dựa vào cộng đồng tại Hà tây” lại một lần nữa đi
đến khẳng định tính ưu việt của mô hình và mang đến tính ứng dụng cao trong thực

15



16


lẻo, chỉ đến khi có sự nghiên cứu hàng loạt các công trình của “Trung tâm nghiên
cứu và đào tạo phát triển cộng đồng- RTCCD”kèm sau đó là sự mở đường cho
hàng hoạt các chính sách mới ra đời thì sự gắn kết giữu 2 bộ này có phần chặt chẽ
hơn. Tiêu biểu có các công trình nghiên cứu như:“ Đánh giá chi phí, lợi ích mô
hình chăm sóc sức khỏe tâm trí dựa vào cộng đồng tại Hà Tây và Hà Nam” được
nghiên cứu vào năm 2007[ 15]. Đây là một nghiên cứu định hướng chính sách được
thực hiện trong nỗ lực nhằm đo lường thiết kế, triển khai và lợi ích nhận được từ mô
hình chăm sóc sức khỏe tâm trí dựa vào cộng đồng do Bộ Y tế xây dựng và thực
hiện thông qua chương trình sức khỏe tâm trí quốc gia.
Tiếp đến nghiên cứu khá tổng quan của RTCCD đó chính là “ Đánh giá thực
trạng hệ thống chăm sóc sức khỏe tâm thần thuộc quản lý của BLĐTB&XH được
hoàn thành vào 2010”[ 15]. Hướng tới mục tiêu "công bằng, hiệu quả và bền
vững" của hệ thống chăm sóc sức khỏe tâm trí, Bộ LĐTB&XH hợp tác cùng
UNICEF và WHO, đã phát triển một kế hoạch hành động vì sức khỏe tâm trí giai
đoạn 2011-2015. Bước đầu tiên là tiến hành phân tích để trả lời cho câu hỏi chiến
lược và chính sách "nên tập trung vào việc nâng cấp hoặc mở rộng một cách bền
vững mạng lưới các trung tâm bảo trợ xã hội hay tập trung vào sự phát triển hệ
thống điều trị, chăm sóc và phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng". Nghiên cứu đã
đi đến 5 kết luận, nhưng kết luận nổi bật nhất đó chính là “Hệ thống BTXH đang
được nâng cấp thông qua 2 đề án quốc gia “ Đề án 32/QĐ- TTg về phát triển nghề
CTXH” được ban hành ngày 25/3/2010 và đề án 1215/ QĐ- TTg về trợ giúp xã hội
và phục hồi chức năng cho người bệnh tâm thần, người rối nhiễu tâm trí dựa vào
cộng đồng giai đoạn 2011- 2020” ban hành ngày 22/7/2011. Điều này phản ánh sự
chủ động, tích cực của BLĐTB&XH và quyết tâm chính trị cao của nhà nước Việt
Nam vì mục tiêu công bằng và an sinh xã hội nói chung và vì người bệnh tâm thần
nói riêng. Đây chính là cơ sở pháp lý vô cùng quan trọng cho việc phát triển nghể
CTXH trong lĩnh vực y tế nói chung và trong chăm sóc sức khỏe tinh thần nói riêng

đến đoàn tụ cùng gia đình và hòa nhập cộng đồng xã hội- đây cũng là đích hướng
tới trong công tác chăm sóc cho bệnh nhân tâm thần.
Đối với bản thân nhân viên CTXH, đây là cơ hội áp dụng những lý thuyết,
phương pháp khoa học được trang bị trên giảng đường vào thực tiễn cuộc sống. Từ

18


đó giúp cho tôi nắm vững kiến thức, rèn luyện kỹ năng và có thêm nhiều kinh
nghiệm cho các nghiên cứu tiếp theo cũng như trong quá trình công tác.
4. Mục đích can thiệp:
Tìm hiểu thực trạng vấn đề sức khỏe tâm thần của bệnh nhân tại bệnh viện nói
chung và hoạt động của mô hình phục hồi chức năng cho bệnh nhân TTPL nói
riêng. Qua đó đề xuất thực nghiệm hoạt động CTXH nhóm để nhằm phục hồi chức
năng tự phục vụ cho bệnh nhân TTPL. Lượng giá kết quả trước và sau khi thực
nghiệm để nhằm đánh giá tính hiệu quả của mô hình can thiệp.
5. Khách thể, vấn đề cần can thiệp
5.1 Khách thể can thiệp:
Bệnh nhân TTPL đã được điều trị ổn định về mặt y tế và hiện tại đang có
mong muốn phục hồi chức năng tự phục vụ.
5.2 Vấn đề can thiệp:
Hoạt động thực nghiệm mô hình CTXH nhóm nhằm phục hồi chức năng tự
phục vụ cho nhóm bệnh nhân tâm thần phân liệt đã được chọn làm nhóm viên
6. Phạm vi can thiệp
Thời gian được tiến hành từ tháng 3/2015-6/2015
Không gian: Nghiên cứu được tiến hành tại bệnh viên tâm thần tỉnh Bắc Giang
Nội dung ca thiệp:
+ Can thiệp được thực hiện bằng phương pháp CTXH nhóm trên nhóm đối
tượng là bệnh nhân TTPL nhưng đã có được sự điều trị ổn định về mặt y tế từ phía
bệnh viện đang trong quá trình phục hồi chức năng tại viện

Thực hiện:2
Không thực hiện: 0

Rót nước ra ca

1

Thực hiện: 1
Không thực hiện: 0

Cầm thuốc đã được chia

1

Thực hiện: 1
Không thực hiện: 0

Đưa thuốc vào miệng

1

Không thực hiện: 0

Tự uống
thuốc

Thực hiện: 1

Đưa nước vào miệng



Biết cầm thìa hoặc đũa theo như
Tự ăn cơm

1

hướng dẫn

Thực hiện: 1
Không thực hiện: 0

Gắp thức ăn

1

20

Thực hiện: 1


Không thực hiện: 0
Và cơm

1

Thực hiện: 1
Không thực hiện: 0

Chan canh


Vén áo lên cao để tránh bị ướt

1

Thực hiện: 1
Không thực hiện: 0

Làm ướt hai bàn tay

1

Thực hiện: 1
Không thực hiện: 0

Lấy dung xà bông

1

Thực hiện: 1
Không thực hiện: 0

Tự rửa tay
Cọ rửa bàn tay với xà bông

3

Thực hiện: 1
Không thực hiện: 0

Làm sạch với nước

Thực hiện: 1


Không thực hiện: 0

Tự đánh
răng

Lấy kem lên bề mặt bàn chải

1

Thực hiện: 1
Không thực hiện: 0

Súc miệng với nước

1

Thực hiện: 1
Không thực hiện: 0

Tiến hành chải răng

3

Thực hiện: 1
Không thực hiện: 0

Súc miệng với nước

phải của quần áo

2

Thực hiện :2
Không thực hiện: 0

Tiến hành mặc áo

3

Thực hiện được : 3
Không thực hiện
được: 0

Tiến hành mặc quần

3

Thực hiện được : 3
Không thực hiện
được: 0

Tổng điểm

10

Ghi chú: Mỗi chức năng tự phục vụ được đánh giá theo tổng điểm là 10 dựa vào
các thành phần tiêu chí được nêu ra ở trên. Căn cứ vào sự quan trọng của từng tiêu
chí mà cho điểm ở mỗi tiêu chí là khác nhau. Bên cạnh đó là cách thức cho điểm

điển của thuyết học tập thì hành vi trong nhóm có thể xuất hiện khi nó được kích
thích. Trong nghiên cứu này khi NVXH nhắc nhở, hướng dẫn thành viên A về những
hành vi không được khuyến khích thì anh ta đã thay đổi hành vi của mình. Đây là kết
quả của việc đưa ra sự kích thích thay đổi hành vi của thân chủ trong nhóm.

23


Một phương pháp học tập theo thuyết này khá phổ biến là tạo ra môi trường có
điều kiện, đơn cử như hành vi của thân chủ A sẽ lập lại hành vi của chính mình, nếu
như hành vi đó nhận được phản ứng tích cực của NVXH, như vậy cần tạo ra môi
trường có điều kiện để thân chủ A tiếp tục củng cố hành vi. Ngược lại nếu như các
thành viên nhận được sư phản hồi khó chịu thì anh ta sẽ cố gắng tránh có các biểu
hiện kiểu đó trong tương lai.
Bên cạnh đó thuyết này còn giúp cho việc giải thích hành vi lây chuyền từ
thành viên này sang thành viên khác nếu như được các thành viên trong nhóm
hưởng ứng
Khi vận dụng NVXH cần phải biết khen, thưởng, động viên khích lệ để
khuyến khích những hành vi được coi là chuẩn mực ví dụ như cần có những lời
khen khuyến khích động viên những thành viên biết rửa tay trước khi ăn, sau khi đi
vệ sinh và ngược lại có những hình phạt để nhắc nhở nhóm viên tránh lặp lại những
hành vi không phù hợp như sẽ phạt bằng cách đánh nhẹ và tay và kèm theo lời phê
phán khi các thành viên không rửa tay trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh . Ngoài ra
NVXH cần phải biết vận dụng các kỹ năng, môi trường và cơ hội để các khuôn mẫu
hành vi tích cực của thành viên nhóm xuất hiện và lặp đi, lặp lại, giúp các thành
viên nhóm nhận thức được các khuôn mẫu và có thời gian để thực hành.
Do bệnh tật và tác dụng phụ không mong muốn của các loại thuốc an thần
kinh tác động vào bệnh nhân mà họ không chỉ cùi mòn về cảm xúc mà còn mất dần
các chức năng cơ bản của một con người, đó là chức năng tự phục vụ, tự ăn, tự
uống, tự vệ sinh cá nhân…bởi vậy khi ứng dụng hoạt động CTXH nhóm với nhóm

động CTXH nhóm nhằm tạo cơ hội cho bệnh nhân tham gia vào các hoạt đông
nhóm như thảo luận, trao đổi, trò chuyện, bắt chước các hoạt động của NVXH
hướng dẫn, ca hát, … sẽ giúp cho họ cảm giác thuộc về một nhóm. Đây là nhu cầu
bậc 3 trong 5 bậc thang nhu cầu. Điều này là vô cùng quan trọng cho bệnh nhân
TTPL bởi khi bị mắc bệnh này họ luôn bị đẩy xa khỏithế giới thực tại, thông qua
hoạt động nhóm sẽ nhằm kéo họ trở về với thực tại, giúp cho họ có sự tương tác với
những người cùng cảnh ngộ, được chấp nhận và tôn trọng nên họ sẽ cảm nhận được

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status