ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HỒ SỸ THÁI CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM VỚI NẠN NHÂN BOM MÌN
(Nghiên cứu trƣờng hợp tại huyện Triệu Phong,
tỉnh Quảng Trị)
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Hà Nội – 2014
LỜI CAM ĐOAN
Luận văn này là do tôi hoàn thành. Những số liệu, thông tin được trình
bày trong đó là dựa trên thực tế và hoàn toàn chân thực. Các tài liệu được
trích dẫn có nguồn gốc rõ ràng.
Tôi xin cam đoan những điều trên là đúng và xin nhận hoàn toàn trách
nhiệm về những gì liên quan tới luận văn này. Học viên Hồ Sỹ Thái
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT…………………………………………… 3
DANH MỤC BẢNG BIỂU………………………………………………….4
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài………………………………………………… 5
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu………………………………………….7
3. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nghiên cứu………………………….15
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu……………………………………15
5. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu………………………… 16
6. Câu hỏi nghiên cứu………………………………………………… 17
7. Giả thuyết nghiên cứu……………………………………………… 17
8. Phương pháp thu thập thông tin………………………………………17
NỘI DUNG
Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của nghiên cứu
1.1. Các khái niệm liên quan………………………………………………20
1.1.1. Bom mìn………………………………………………………………20
1.1.2. Nạn nhân bom mìn……………………………………………………20
1.1.3. Công tác xã hội……………………………………………………….21
1.1.4. Công tác xã hội nhóm……………………………………………… 22
1.2. Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu……………………………… 24
1.2.1. Thuyết nhu cầu……………………………………………………… 24
1.2.2. Thuyết vai trò…………………………………………………………25
1.2.3. Thuyết trao đổi xã hội……………………………………………… 27
1.3. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu…………………………………………28
1.3.1. Khái quát về tỉnh Quảng Trị………………………………………….28
1.3.2. Khái quát về huyện Triệu Phong…………………………………… 29
2
Chƣơng 2. Thực trạng vấn đề bom mìn và công tác khắc phục hậu quả
bom mìn sau chiến tranh tại huyện Triệu Phong
2.1. Tình hình bom mìn còn sót lại sau chiến tranh tại huyện Triệu Phong…32
CTXH : Công tác xã hội
GDPTBM : Giáo dục phòng tránh bom mìn
PVS : Phỏng vấn sâu
Renew : Restoring the Enviroment and Neutralizing the Effects of the
War
Phục hồi môi trường và khắc phục hậu quả chiến tranh
TLN : Thảo luận nhóm
4
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Số bảng
Nội dung
Bảng 2.9
Các hoạt động GDPTBM do Tổ chức Phi chính
phủ thực hiện.
62
Bảng 3.1
Kết quả khảo sát về đối tượng dễ bị tai nạn bom
mìn.
68
Bảng 3.2
Kết quả khảo sát về hành vi khi phát hiện bom mìn.
82
Bảng 3.3
Kết quả khảo sát về hành vi khi phát hiện tai nạn
bom mìn.
84
Bảng 3.4
Kết quả khảo sát về dấu hiệu nhận biết khu vực có
bom mìn.
89
Bảng 3.5
Kết quả khảo sát về tần suất gặp phải bom mìn.
94
Bảng 3.6
Kết quả khảo sát về kinh nghiệm phòng tránh tai
nạn bom mìn.
98
5
MỞ ĐẦU
Tuy nhiên, nhiều vùng đất tưởng rằng sẽ đem lại ấm no, thịnh vượng cho
người dân lại ẩn chứa trong nó những loại vũ khí chết người mà qua thời gian
không mất đi tính năng tàn sát, hủy diệt. Chúng vẫn chờ đợi để một ngày nào
đó cướp đi sinh mạng hay để lại thương tật, sự ám ảnh về tâm lý suốt đời cho
các nạn nhân xấu số, đó có thể là những thanh niên khỏe mạnh, bác nông dân,
cụ già hay chỉ là em học sinh nhỏ… và gây nên những nỗi đau không thể nào
bù đắp được cho các gia đình nạn nhân, cho cộng đồng.
Theo thống kê của Văn phòng điều phối dự án Renew tỉnh Quảng Trị, từ
sau ngày chiến tranh kết thúc cho đến nay (1975 - 2013), số nạn nhân tai nạn
bom mìn của huyện là 1293 người, chiếm tỉ lệ cao nhất (18,4%) so với các địa
phương khác trong tỉnh Quảng Trị. Số nạn nhân tử vong do tai nạn bom mìn
của huyện là 474 người, chiếm tỉ lệ 18,1% so với tổng số nạn nhân tử vong
toàn tỉnh (cao thứ hai sau huyện Hải Lăng) [78].
Rõ ràng là “Sau chiến tranh vẫn chưa hết chiến tranh”, “Sau những nỗi
buồn vẫn còn lại những nỗi buồn”. Ngày ngày, đâu đó trên những ruộng lúa,
bãi ngô, cánh rừng, bãi cát hay trong các khu dân cư, xóm làng thanh bình nơi
đây vẫn vang lên tiếng nổ kinh hoàng và sau đó là biết bao nỗi đau: người
chết, kẻ bị thương, vợ mất chồng, con mất cha, mất mẹ, anh mất em… Phần
lớn tai nạn xảy ra do các nạn nhân tò mò; thiếu hiểu biết về các loại bom mìn,
tác hại của chúng; thiếu sự chú ý khi đi vào các khu vực nguy hiểm; thiếu
những kỹ năng cơ bản để phòng tránh cũng như cảnh báo cho người khác
tránh nguy hiểm. Do đó, nguy cơ tai nạn không chỉ xảy ra đối với những
người dân bình thường mà với nạn nhân đã từng bị tai nạn thì mối nguy hiểm
này vẫn có khả năng lặp lại.
Với tầm quan trọng về lý luận và thực tiễn của vấn đề nêu trên, tôi đã
chọn hướng nghiên cứu“CTXH nhóm với nạn nhân bom mìn (Nghiên cứu
7
trường hợp tại huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị)” làm đề tài luận văn tốt
nghiệp thạc sỹ chuyên ngành CTXH của mình.
thời gian dài ở đây trong khoảng những năm 1967 – 1973 “…sân bay Ái Tử
với hàng rào thép gai kiên cố và những bãi mìn sát thương phân bố dày đặc
phía bên trong và bên ngoài hàng rào nhằm chống sự xâm nhập của Bắc
Việt…” [72, tr43]. Hay những chi tiết kể về nỗi ám ảnh của quân viễn chinh
Mỹ đóng ở sân bay Ái Tử khi hàng ngày phải đối mặt với hiểm họa bom mìn
do chính họ gây ra “…đó là những ngày tháng chúng tôi luôn sống trong sợ
hãi và lo lắng bởi những tiếng nổ của bom, tiếng gầm rú của máy bay và sự
hy sinh của những người bạn khi vướng phải mìn do chính đất nước chúng tôi
mang đến mảnh đất này…”[72, tr56].
Như vậy, mặc dù đã xa Việt Nam nhưng qua ký ức của người cựu binh
Mỹ về một vùng đất đầy bom mìn, tang thương, chết chóc cũng giúp chúng ta
hình dung được mức độ ô nhiễm bom mìn và tác hại to lớn của nó trên địa
bàn huyện Triệu Phong.
Năm 1993, báo cáo do Quỹ tưởng niệm cựu chiến binh Mỹ (VVMF)
thực hiện với tên gọi Socio - Economic Report on the Impact of Landmines
[77] đã đưa ra những đánh giá ban đầu về các tác động kinh tế xã hội do tai
nạn bom mìn gây nên tại Việt Nam, đặc biệt là khu vực tỉnh Quảng Trị. Báo
cáo cũng đi sâu, tập trung phân tích, mô tả, thống kê thực trạng bom mìn và
tai nạn bom mìn từ sau khi chiến tranh kết thúc và những số liệu ước tính về
thiệt hại con người, kinh tế, môi trường do tai nạn bom mìn gây nên. Báo cáo
đặc biệt nhấn mạnh tác động về mặt kinh tế của bom mìn đối với sự phát triển
kinh tế xã hội của các địa phương sau khi chiến tranh kết thúc. Theo đó, bom
mìn và tai nạn bom mìn là nguyên nhân hàng đầu cản trở những nỗ lực phát
triển kinh tế, nâng cao đời sống người dân bởi vì nó đã hạn chế diện tích đất
sử dụng phục vụ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp; xây dựng các công trình
giao thông, thủy lợi, cơ sở sản xuất công nghiệp, công trình dân sinh như nhà
9
ở, bệnh viện, trường học… Từ đó, kéo theo những hệ quả như tình trạng
người dân thiếu đất sản xuất, không có việc làm, năng suất sản xuất nông
tích những ảnh hưởng của bom mìn đối với trẻ em, tác giả cho rằng vấn đề
này cũng mang tính cấp bách giống như vấn đề dinh dưỡng cho trẻ em, xâm
hại tình dục trẻ em… và cần có sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế trong việc
giảm thiểu, đẩy lùi hiểm họa này, mang lại cuộc sống an toàn cho các em nhỏ.
Năm 2003, tại Mỹ, Quỹ tưởng niệm cựu chiến binh Mỹ và dự án Renew
phối hợp xuất bản cuốn sách A mine action program in Quang Tri Province,
Viet Nam [73]. Đây là cuốn sách giới thiệu toàn bộ dự án Renew về khắc phục
hậu quả bom mìn ở tỉnh Quảng Trị. Cuốn sách đã phân tích khá chi tiết thực
trạng bom mìn sau chiến tranh tại địa phương, hậu quả của tai nạn bom mìn
đối với người dân và sự phát triển kinh tế xã hội. Đặc biệt, cuốn sách cũng lần
lượt giới thiệu các vùng đất mà dự án Renew đang triển khai dự án, trong đó
có địa bàn huyện Triệu Phong. Tuy nhiên, những số liệu thống kê, phân tích,
mô tả thực trạng bom mìn được đề cập trong cuốn sách này chủ yếu là các số
liệu định lượng, được thu thập và xử lý thông qua đội ngũ cán bộ dự án tại các
địa bàn mà chưa có những nghiên cứu định tính, những phỏng vấn dành riêng
cho người dân, nạn nhân, gia đình nạn nhân… để thấy được mức độ tác động
của vấn đề đến người dân sống tại đó như thế nào hay nguyện vọng, mong
muốn của họ ra sao…
Như vậy, những bài viết, nghiên cứu được thực hiện ở nước ngoài về vấn
đề bom mìn, hậu quả chiến tranh ở Việt Nam, ở Triệu Phong tuy số lượng
không nhiều nhưng cũng đã cho chúng ta những góc nhìn khác nhau của các
nhà nghiên cứu, cựu binh bên kia chiến tuyến về vấn đề này. Điều đó cho thấy
rằng, bom mìn và hậu quả của nó thực sự là ảnh hưởng lớn không chỉ đối với
người dân tại địa phương mà còn là mối quan tâm của những người đã và
đang nghiên cứu về nó. 11
2.2. Các nghiên cứu trong nƣớc
Triệu Phong và Đại học Huế tiến hành nghiên cứu “Báo cáo khảo sát ảnh
hưởng bom mìn ở huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị” [65] nhằm đánh giá
ảnh hưởng của nó đối với đời sống người dân và tình hình kinh tế xã hội của
huyện Triệu Phong .
Tiếp theo các nghiên cứu đã thực hiện, tháng 9/2006, Văn phòng điều
phối dự án Renew phối hợp với Sở Ngoại vụ, Sở Y tế tỉnh Quảng Trị thực
hiện “Nghiên cứu tình hình nạn nhân bom mìn và nhận thức về hiểm họa bom
mìn sau chiến tranh tại tỉnh Quảng Trị, Việt Nam” [62].
Tuy nhiên, nhìn chung, các nghiên cứu trên mới chỉ dừng lại ở tính chất
những điều tra xã hội học. Kết quả nghiên cứu định lượng mới đưa ra số liệu
thống kê số lượng bom mìn còn sót lại; số lượng nạn nhân đồng thời nêu lên
nguyên nhân, hậu quả của thực trạng đó.
Trong “Tham luận về vai trò lực lượng quân sự địa phương trong việc
hợp tác với các tổ chức quốc tế thực hiện các hoạt động dò tìm, xử lý bom
mìn, vật nổ nhân đạo” của Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Trị năm 2005 tại
Hội nghị tổng kết 5 năm công tác khắc phục hậu quả bom mìn và hỗ trợ nạn
nhân đã tiếp tục khẳng định “Triệu Phong là một trong những địa bàn trọng
điểm của các dự án rà phá bom mìn, phục hồi đất đai và hỗ trợ nạn nhân bởi
vì tính chất và mức độ ô nhiễm bom mìn của địa phương trầm trọng so với
những địa bàn khác trong toàn tỉnh. Do đó, mức độ ảnh hưởng của vấn đề đối
với các nạn nhân cũng tăng lên” [4, tr15]. Bài viết đã nhấn mạnh tầm quan
trọng của các hoạt động GDPTBM cho nạn nhân như tuyên truyền, tập huấn,
trang bị những kỹ năng cơ bản cho người dân, cán bộ địa phương khi gặp
bom mìn, khi cứu chữa người bị tai nạn bom mìn. Tuy nhiên, những hoạt
động trên mới chỉ dừng lại ở tính chất định hướng, hướng dẫn phải làm như
13
thế nào chứ chưa đi sâu phân tích hiệu quả, hạn chế của từng hoạt động hoặc
dự trù quy mô triển khai của hoạt động, chưa có sự chú ý đối với những hoạt
động GDPTBM đặc thù dành cho nhóm đối tượng như người cao tuổi, trẻ em,
luận “Thực hành CTXH đối với nạn nhân bom mìn (Nghiên cứu trường hợp
tại huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị)” [42] của Hồ Thanh Tuấn cùng thực hiện
vào tháng 5/2011.
Các nghiên cứu này bên cạnh việc điều tra, mô tả thực trạng bom mìn và
tai nạn bom mìn tại các địa phương nghiên cứu, bước đầu cũng đã đưa ra một
số hướng thực hành, can thiệp CTXH với nạn nhân bom mìn, chủ yếu là
CTXH cá nhân với các thân chủ cụ thể nhằm giúp nạn nhân ổn định về tâm
lý, khôi phục lại các chức năng xã hội đã bị giảm sút hoặc mất đi, hòa nhập
với cuộc sống Đây được xem là những hướng đi khá mới mẻ trong việc hỗ
trợ nạn nhân bom mìn sau tai nạn, khác hẳn với các cách thức hỗ trợ truyền
thống trước đây. Tuy nhiên, các nghiên cứu trên vẫn chưa đi sâu vào việc
phân tích làm rõ vai trò của phương pháp CTXH đã áp dụng cũng như tiến
trình thực hành CTXH cụ thể đối với các đối tượng.
Do đó, luận văn tốt nghiệp với đề tài “CTXH nhóm với nạn nhân bom
mìn (Nghiên cứu trường hợp tại huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị)” hoàn
toàn không phải là một “phát kiến”, một chủ đề mới trong hoạt động thực
tiễn cũng như trong khoa học nghiên cứu. Thế nhưng cái mới của luận văn
chính là việc cùng một lúc lột tả hai vấn đề đó là thực trạng bom mìn, tai nạn
bom mìn, công tác khắc phục hậu quả bom mìn, nạn nhân bom mìn và nhận
thức của họ đối với vấn đề bom mìn như thế nào?; đồng thời đề xuất các hoạt
động CTXH nhóm nhằm thông qua đó trị liệu về tâm lý cung cấp các kiến
thức cơ bản về bom mìn, hình thành kỹ năng phòng tránh tai nạn bom mìn,
tạo môi trường nhóm để các nạn nhân và gia đình có thể chia sẻ những vấn đề
khó khăn gặp phải sau tai nạn, những mong muốn, nhu cầu hiện tại và hỗ trợ
họ vươn lên trong cuộc sống.
15
Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc góp phần giảm thiểu
hậu quả tai nạn bom mìn đối với người dân địa phương, hướng họ đến một
cuộc sống an toàn, tốt đẹp.
Làm rõ các khái niệm lý thuyết như bom mìn, nạn nhân bom mìn,
CTXH, CTXH nhóm.
Tìm hiểu, mô tả, phân tích thực trạng bom mìn, tai nạn bom mìn và các
hoạt động khắc phục hậu quả bom mìn sau chiến tranh đã được triển khai tại
huyện Triệu Phong.
Tìm hiểu, phân tích thực trạng nạn nhân và mức độ nhận thức của nạn
nhân đối với vấn đề bom mìn sau chiến tranh.
Đề xuất các hoạt động CTXH nhóm với nạn nhân bom mìn nhằm hỗ trợ
giải quyết những khó khăn về mặt tâm lý và nâng cao nhận thức về vấn đề
bom mìn cho nạn nhân.
5. Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tƣợng nghiên cứu
CTXH nhóm với nạn nhân bom mìn.
5.2. Khách thể nghiên cứu
Nạn nhân bom mìn: với cơ cấu sau
Loại hình
thương tật
Cụt một
hoặc hai
chân
Chấn thương
đa phần
Mất một,
hai tay hoặc
hỏng mắt
Chấn thương
tâm lý
Số lượng
(người)
7
tuổi và có nhận thức nhất định đối với hiểm họa bom mìn sau chiến tranh.
(3)Các hoạt động CTXH nhóm có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ
nạn nhân về mặt tâm lý và nâng cao nhận thức về vấn đề bom mìn và cách
phòng tránh tai nạn bom mìn.
8. Phƣơng pháp thu thập thông tin
8.1. Phƣơng pháp phân tích tài liệu
Để có số liệu cụ thể, chính xác về các vấn đề liên quan, nhà nghiên cứu đã
tìm hiểu một số tài liệu về vấn đề bom mìn của các cơ quan, tổ chức trong và
18
ngoài nước; đặc biệt là của Văn phòng điều phối dự án Renew tỉnh Quảng
Trị; báo cáo tình hình kinh tế xã hội hàng năm của huyện và các xã, thị trấn;
báo cáo tổng kết hoạt động hàng năm của các cơ quan, đoàn thể huyện Triệu
Phong… và các tài liệu liên quan khác (xem phần Danh mục tài liệu tham
khảo).
8.2. Phƣơng pháp phỏng vấn sâu
Trong quá trình thực hiện đề tài, nhà nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn
sâu 17 người, trong đó: 7 nạn nhân bom mìn; 8 cán bộ chính quyền, ban
ngành, đoàn thể cấp huyện (Phó chủ tịch huyện và cán bộ Phòng Lao động
thương binh và xã hội, Phòng Văn hóa thông tin, Phòng Nông nghiệp và phát
triển nông thôn, Hội Phụ nữ, Hội nông dân, Ban chỉ huy quân sự, Trung tâm y
tế huyện); 2 cán bộ Dự án Renew.
8.3. Phƣơng pháp phỏng vấn bảng hỏi
Trong nghiên cứu này, nhà nghiên cứu tiến hành phỏng vấn theo bảng
hỏi (xem phụ lục 3) đối với 76 nạn nhân bom mìn được chọn ngẫu nhiên.
Số lượng phỏng vấn
76 nạn nhân (04 nạn nhân/ 01 xã, thị trấn)
Cơ cấu độ tuổi
25% nạn nhân dưới 15 tuổi.
25% nạn nhân 16 - 30 tuổi.
20
NỘI DUNG
Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của nghiên cứu
1.1. Các khái niệm liên quan
1.1.1. Bom mìn
Theo định nghĩa của Phong trào Quốc tế vận động cấm mìn sát thương
đưa ra vào năm 1990:
“Bom mìn và các vật liệu nổ khác là loại vũ khí được thiết kế để dùng
cho một số mục đích quân sự, bao gồm giết và làm bị thương binh lính của
đối phương, phá hủy các phương tiện cơ giới và trang thiết bị khác, ngăn cản
việc thâm nhập hay di chuyển của đối phương bằng cách tạo ra những hoàn
cảnh nguy hiểm chết người, hay khiến đối phương chần chừ do sợ bom mìn và
vật liệu nổ” [25, tr3].
Bom mìn là cách gọi thông thường mang hàm ý cả bom, đạn, mìn và các
loại vật liệu nổ khác như: mìn, bom lớn, bom bi, đạn pháo, lựu đạn, đạn cối,
đạn rốckét.
đổi xã hội, việc giải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ con người và sự
tăng quyền lực và giải phóng người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ
ngày càng thoải mái dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và
hệ thống xã hội, CTXH can thiệp ở các điểm tương tác giữa con người và môi
trường của họ. Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản
của nghề” [26, tr25].
Năm 2004, Liên đoàn CTXH chuyên nghiệp quốc tế họp ở Canada đã
thảo luận, bổ sung và đưa ra định nghĩa: “CTXH là hoạt động chuyên nghiệp
nhằm tạo ra sự thay đổi của xã hội, bằng sự tham gia vào quá trình giải quyết
các vấn đề xã hội (vấn đề nảy sinh trong mối quan hệ xã hội) vào quá trình