đại học quốc gia hà nội
tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
lê hoàng nam
vai trò CủA ý thức pháp luật
trong việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp
ở VIệT NAM HIệN NAY
luận án tiến sĩ triết học
Hà nội - 2014
1
đại học quốc gia hà nội
tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
lê hoàng nam
vai trò CủA ý thức pháp luật
trong việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp
ở VIệT NAM HIệN NAY
Chuyên ngành : Chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Mã số
: 62 22 80 05
luận án tiến sĩ triết học
5
ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Tình hình nghiên cứu về ý thức pháp luật và một số đánh giá chung
5
1.1.1. Tình hình nghiên cứu về ý thức pháp luật
5
1.1.2. Một số đánh giá chung
8
1.2. Tình hình nghiên cứu về văn hóa doanh nghiệp và một số đánh giá
10
chung
1.2.1. Tình hình nghiên cứu về văn hóa doanh nghiệp
10
1.2.2. Một số đánh giá chung
16
32
2.2. Ý thức pháp luật
36
2.2.1. Khái niệm, cấu trúc ý thức pháp luật
36
2.2.2. Những đặc trưng cơ bản của ý thức pháp luật trong hoạt động
39
của doanh nghiệp hiện nay
2.3. Vai trò của ý thức pháp luật trong việc xây dựng văn hóa doanh
41
nghiệp - một số biểu hiện chủ yếu
2.3.1. Ý thức pháp luật xây dựng văn hóa pháp luật cho các chủ thể
doanh nghiệp
4
42
2.3.2. Ý thức pháp luật xây dựng môi trường kinh doanh và điều chỉnh
luật cho các chủ thể doanh nghiệp
3.1.2. Vai trò của ý thức pháp luật trong việc xây dựng môi trường
71
kinh doanh và các mối quan hệ cơ bản của doanh nghiệp
3.1.3. Vai trò của ý thức pháp luật trong quá trình sản xuất sản phẩm
84
của doanh nghiệp
3.1.4. Vai trò của ý thức pháp luật trong việc sáng tạo các giá trị văn
87
hóa, triết lý kinh doanh và hệ thống giá trị của doanh nghiệp
3.2. Những vấn đề đặt ra từ thực trạng vai trò của ý thức pháp luật
95
trong việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay
3.2.1. Một bộ phận chủ thể doanh nghiệp chưa nhận thức đầy đủ về
95
tầm quan trọng của ý thức pháp luật trong xây dựng văn hóa
doanh nghiệp
3.2.2. Ý thức pháp luật chưa phát huy đầy đủ vai trò tích cực trong quá
98
107
hóa doanh nghiệp là trách nhiệm của toàn xã hội mà trước hết là
trách nhiệm của bản thân doanh nghiệp và cần được các chủ thể
doanh nghiệp tiến hành thường xuyên, liên tục
4.2. Giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của ý thức pháp luật
109
trong việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay
4.2.1. Nhóm giải pháp thứ nhất: Nâng cao nhận thức của các chủ thể
109
doanh nghiệp và toàn xã hội về tầm quan trọng của ý thức pháp
luật trong việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp hiện nay
4.2.2. Nhóm giải pháp thứ hai: Đổi mới, hoàn thiện hệ thống pháp luật
120
để tạo khuôn khổ pháp lý cho các doanh nghiệp tiếp tục xây
dựng và phát triển văn hóa doanh nghiệp
4.2.3. Nhóm giải pháp thứ ba: Xử lý nghiêm minh những hành vi vi
130
phạm pháp luật của doanh nghiệp, khuyến khích những doanh
nghiệp tuân thủ pháp luật và biết theo đuổi các giá trị văn hóa
doanh nghiệp
KẾT LUẬN
VHKD
: Văn hóa kinh doanh
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
YTPL
: Ý thức pháp luật
7
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Doanh nghiệp là nhân tố cấu thành quan trọng trong hệ thống hữu cơ nhà nước doanh nghiệp - thị trường của nền kinh tế thị trường (KTTT). Trong dòng luân chuyển
kinh tế vĩ mô, doanh nghiệp với tính cách là chủ thể của hoạt động sản xuất kinh doanh,
tạo ra giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội. Trong nền KTTT định hướng xã hội chủ
nghĩa (XHCN) ở nước ta, doanh nghiệp là lực lượng vật chất đặc biệt, thúc đẩy quá trình
hiện thực hóa các mục tiêu kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước. Vì vậy, chăm lo xây
dựng, phát triển hệ thống doanh nghiệp là trách nhiệm của toàn xã hội mà trước hết là
trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và các chủ thể doanh nghiệp. Tuy nhiên, để doanh
nghiệp phát triển bền vững, vấn đề cần đặc biệt quan tâm là xây dựng, phát huy các yếu tố
văn hóa của doanh nghiệp, hình thành văn hóa doanh nghiệp (VHDN). Đối với sự vận
động phát triển của các doanh nghiệp, VHDN có vai trò nền tảng, củng cố sự bền vững,
trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển và khẳng định vị thế doanh nghiệp trong đời
sống kinh tế - xã hội. Có nhiều nhân tố dẫn đến sự hình thành và phát triển VHDN, trong
đó nhân tố ý thức pháp luật (YTPL) giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Việc nâng cao, phát
nghĩa vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, việc nghiên cứu vấn đề này từ góc độ lý luận
trong thời gian qua ở nước ta chưa nhiều. Mặt khác, quá trình hình thành những giá
trị văn hóa của doanh nghiệp hiện nay mang tính "tự phát", chạy theo "phong trào".
Đa số các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta chưa có ý thức về VHDN và xây dựng
VHDN; chưa tạo ra được hình ảnh, bản sắc văn hóa riêng. Chúng ta cũng chưa xây
dựng được bảng thang giá trị cụ thể làm tiêu chí của VHDN Việt Nam.
Với mong muốn góp phần xây dựng VHDN nhằm thúc đẩy doanh nghiệp
phát triển theo hướng bền vững, tác giả lựa chọn đề tài "Vai trò của ý thức pháp
luật trong việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay" làm đề tài
nghiên cứu luận án tiến sĩ triết học chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử. Hy vọng từ tên đề tài, với những kết quả nghiên cứu sẽ
góp phần phát hiện các giải pháp nhằm phát huy vai trò của YTPL đối với việc xây
dựng VHDN ở Việt Nam hiện nay.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích của luận án
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về vai trò của YTPL trong việc xây dựng
VHDN để đề xuất các giải pháp nhằm phát huy vai trò của YTPL đối với việc xây
dựng VHDN ở Việt Nam hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ của luận án
- Làm rõ khái niệm VHDN, xây dựng VHDN, YTPL và vai trò của YTPL
trong việc xây dựng VHDN.
9
- Khảo sát và đánh giá thực trạng vai trò của YTPL trong việc xây dựng
VHDN ở Việt Nam hiện nay.
- Đề xuất quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của YTPL
trong việc xây dựng VHDN ở nước ta hiện nay.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
5. Đóng góp mới của luận án
5.1. Về mặt khoa học
Dưới góc độ triết học, luận án góp phần làm rõ một số vấn đề như VHDN,
nội dung xây dựng VHDN, các nhân tố dẫn đến sự hình thành VHDN, trong đó có
nhân tố YTPL. Từ đó, luận án làm rõ vai trò đặc biệt quan trọng của YTPL trong
việc xây dựng VHDN cũng như thực trạng và những vấn đề đặt ra từ thực trạng vai
trò của YTPL trong việc xây dựng VHDN ở Việt Nam hiện nay, làm cơ sở kiến nghị
các giải pháp nhằm phát huy vai trò YTPL trong xây dựng VHDN ở nước ta hiện nay.
5.2. Về mặt thực tiễn
Luận án có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ việc học tập, nghiên cứu về
YTPL và VHDN cho học sinh, sinh viên, các nhà nghiên cứu... Luận án cũng là tài
liệu tham khảo cho các nhà quản lý doanh nghiệp, quản lý xã hội khi giải quyết các
vấn để nảy sinh từ thực tiễn quản trị doanh nghiệp và xây dựng VHDN ở Việt Nam
hiện nay.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
án gồm 4 chương, 10 tiết:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài.
Chương 2: Vai trò của ý thức pháp luật trong việc xây dựng văn hóa doanh
nghiệp - một số vấn đề lý luận.
Chương 3: Vai trò của ý thức pháp luật trong việc xây dựng văn hóa doanh
nghiệp ở Việt Nam hiện nay - thực trạng và những vấn đề đặt ra.
Chương 4: Quan điểm và giải pháp nhằm phát huy vai trò của ý thức pháp
luật trong việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay.
11
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
nước ta. Từ đó tác giả vạch ra những biện pháp nhằm giáo dục YTPL cho đội ngũ
12
cán bộ quản lý hành chính nhà nước. Điểm mới là tác giả đã tiếp cận YTPL từ phía
chủ thể mang YTPL để chỉ ra YTPL của bộ phận cán bộ quản lý hành chính ở nước
ta. Từ góc độ nghiên cứu của đề tài, chúng tôi thấy rằng có thể kế thừa được khái
niệm về YTPL cũng như đặc điểm YTPL của đội ngũ cán bộ quản lý hành chính ở
nước ta hiện nay. Đây là căn cứ để chỉ ra những hạn chế trong văn hóa pháp luật của
đội ngũ cán bộ quản lý trong các DNNN hiện nay.
"Những đặc điểm của quá trình hình thành ý thức pháp luật ở Việt Nam hiện
nay" (2000), Luận án tiến sĩ Triết học của Đào Duy Tấn. Tác giả Đào Duy Tấn cũng
có cuốn sách "Sự hình thành ý thức pháp luật và giải pháp nâng cao ý thức pháp luật
ở nước ta thời kỳ đổi mới", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003. Bằng việc chỉ ra
khái niệm, chức năng, vai trò của YTPL và những nhân tố tác động đến sự hình
thành YTPL, tác giả đã chỉ ra những đặc điểm của sự hình thành YTPL ở Việt Nam
như: ảnh hưởng của "lệ làng", tư tưởng phong kiến, thực dân, cơ chế hành chính
quan liêu... Từ đó, tác giả đề xuất các nhóm giải pháp nhằm nâng cao YTPL ở nước
ta hiện nay. Có thể khẳng định điểm mới trong công trình là tác giả tìm ra các nhân
tố hình thành của YTPL ở nước ta hiện nay.
Tác giả Nguyễn Thúy Vân với "Một số đặc điểm của ý thức pháp luật Việt
Nam", Tạp chí Triết học số 5 năm 2000 đã tiếp cận sự hình thành và phát triển YTPL
Việt Nam từ điều kiện kinh tế - xã hội nước ta qua các quá trình lịch sử, đồng thời tác
giả cũng chỉ ra một số đặc điểm của YTPL Việt Nam như tâm lý thờ ơ coi thường pháp
luật trong một bộ phận nhân dân, ý thức sợ hãi pháp luật…Vì vậy cần có các chính sách
đổi mới, xây dựng, thực thi, phổ biến pháp luật. Trong Luận án tiến sĩ Triết học - "Logic
khách quan của quá trình hình thành và phát triển ý thức pháp luật ở Việt Nam", tác giả
khẳng định có 3 loại quan điểm khác nhau về YTPL trong nghiên cứu lý luận. Đồng thời,
tác giả cũng vạch ra quá trình hình thành phát triển, đặc điểm YTPL ở Việt Nam từ giai
luật, thôi thúc thực hiện pháp luật như là một nhân tố đặc biệt - nét khác biệt của tác
giả. Từ công trình này, chúng tôi có thể tiếp thu được những quan niệm về vai trò
của YTPL trong việc xây dựng văn hóa pháp luật cho các doanh nghiệp.
Tác giả Đào Trí Úc (2006) với "Xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật"
(Chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước KX 07-17), "Thị trường và pháp
luật"(Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 1, 1993) đều tiếp tục làm rõ nội hàm khái
niệm YTPL cũng như vai trò của nó trong đời sống xã hội cũng như hoạt động lập
pháp, hành pháp. Từ hai công trình trên, có thể kế thừa quan điểm mới của tác giả về
mối quan hệ biện chứng giữa thị trường và pháp luật. Đây là cơ sở lý luận cho quá
trình nghiên cứu mối quan hệ giữa YTPL với đời sống kinh tế, văn hóa - xã hội.
Trong "Ý thức pháp luật với đời sống xã hội" (Tạp chí Luật học, số 1-2006)
của Tiến sĩ Nguyễn Minh Đoan đã bàn luận sâu sắc về vai trò của YTPL đối với đời
sống xã hội. Vì vậy, có thể kế thừa những quan điểm của tác giả khi nghiên cứu vai
trò của YTPL đối với việc xây dựng VHDN.
14
Luận án tiến sĩ Triết học của Ngọ Văn Nhân (2008) - "Dư luận xã hội và sự
tác động của nó đối với ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ cấp cơ sở ở nước ta
hiện nay". Điểm mới là tác giả đã đưa ra khái niệm YTPL của đội ngũ cán bộ cấp cơ
sở và thực trạng tác động của dư luận xã hội đối với YTPL của đội ngũ cán bộ cấp cơ
sở. Đây là tài liệu tham khảo cho chúng tôi kế thừa khi nghiên cứu về YTPL doanh
nghiệp với tính cách là một hình thức của YTPL, xét từ góc độ chủ thể mang YTPL.
"Giáo dục ý thức pháp luật cho cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay",
Luận án Tiến sĩ Quản lý hành chính công của Trần Công Lý năm 2009. Đây là công
trình với nguồn tư liệu phong phú về YTPL của đội ngũ cán bộ, công chức Việt Nam
hiện nay; là căn cứ cho chúng tôi để đánh giá văn hóa pháp lý của đội ngũ cán bộ,
công chức trong đề tài nghiên cứu.
"Ý thức pháp luật với việc thực hiện dân chủ ở nông thôn Việt Nam hiện
cấp, các tầng lớp nhân dân trong xã hội có giai cấp" [147, tr. 17]. Những định nghĩa
về YTPL dù diễn đạt theo những cách khác nhau nhưng đều vạch ra nội hàm của
YTPL: là một hình thái ý thức xã hội; gồm các quan điểm, tư tưởng pháp luật; thể
hiện mối quan hệ giữa con người với pháp luật; thể hiện thái độ, ứng xử của con
người đối với pháp luật. Nhìn chung, các công trình sau đều kế thừa quan niệm về
YTPL của các công trình trước đó, nội hàm YTPL không đổi, chỉ khác nhau về cách
diễn đạt. Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi thấy đều có thể kế thừa được
những quan điểm của các tác giả trên về khái niệm YTPL.
Về những nhân tố hình thành YTPL: Tác giả Đào Duy Tấn phân tích khá rõ
về vấn đề này trong công trình nghiên cứu của mình trên cơ sở kế thừa các công trình
trước đây. Tác giả khẳng định YTPL được hình thành từ những nhân tố khách quan
và những nhân tố chủ quan. Do đó, đây là cơ sở để tiếp tục làm rõ hơn bản chất của
YTPL so với các công trình trước đó.
Về đặc điểm của YTPL: Tác giả Nguyễn Minh Đoan phân tích khá kỹ về đặc
điểm YTPL từ góc độ luật học, đó là: YTPL chịu sự quyết định của tồn tại xã hội;
YTPL có tính độc lập tương đối so với tồn tại xã hội; YTPL mang tính chính trị - giai
cấp sâu sắc; YTPL XHCN là hệ tư tưởng quan điểm pháp luật tiến bộ và nhân đạo nhất.
Về cơ cấu của YTPL: Khi bàn về YTPL, các tác giả đều phân tích cơ cấu của
YTPL. Có thể nói, tác giả Đào Duy Tấn và tác giả Nguyễn Minh Đoan là hai tác giả
bàn khá nhiều về vấn đề này. Tác giả Đào Duy Tấn chỉ ra YTPL gồm: hệ tư tưởng
pháp luật và tâm lý pháp luật; YTPL thông thường và YTPL khoa học; YTPL ở trình
độ cảm tính và YTPL trình độ lý tính. Tác giả Nguyễn Minh Đoan còn phân loại
YTPL bao gồm: YTPL thông thường, YTPL lý luận, YTPL nghề nghiệp, YTPL của
cá nhân, YTPL nhóm, YTPL xã hội.
Về chức năng của YTPL: Tác giả Đào Duy Tấn phân tích YTPL bao gồm các
chức năng: chức năng nhận thức, chức năng mô hình hóa, chức năng điều chỉnh hành
vi. Tác giả Nguyễn Minh Đoan cũng cho rằng YTPL gồm 3 chức năng: chức năng
16
1.2.1. Tình hình nghiên cứu về văn hóa doanh nghiệp
- Nghiên cứu văn hóa doanh nghiệp ở nước ngoài:
Sau thời kỳ các công ty phát huy lợi thế so sánh bằng sức mạnh cạnh tranh
độc quyền, tiếp đó là sức mạnh tài chính, trình độ marketing thì hiện nay sức mạnh
trên thị trường của doanh nghiệp thể hiện ở những giá trị VHDN. Cùng với sự hình
17
thành và phát triển VHDN của các công ty thì việc nghiên cứu vấn đề này đã được
khởi đầu vào thập kỷ 60 của thế kỷ XX. Thuật ngữ "văn hóa doanh nghiệp" được
nêu ra vào những năm 70, sau đó tiếp tục được bổ sung, nghiên cứu sâu sắc ở Mỹ và
các nước phương Tây. Có thể kể tên các tác giả nghiên cứu về vấn đề này như:
Georges de Saite Marie - chuyên gia Pháp về doanh nghiệp vừa và nhỏ; Edgar
H.Schein, chuyên gia nghiên cứu các tổ chức; Fons Trompennaars; Handy,
Deal…Các mô hình VHDN cụ thể đã được đưa ra để vận dụng vào việc xây dựng
VHDN. Ví dụ: Charles Hampden Turner đưa ra mô hình văn hóa: gia đình, mô hình
văn hóa tên lửa dẫn đường; mô hình tháp Eiffel; mô hình văn hóa lò ấp trứng…
Những vấn đề về khái niệm VHDN và xây dựng VHDN còn được trình bày trong
các cuốn sách như: "Management" của Stenphen Paul Robbins, "Organizational
Culture" của tác giả Andrew Brown, "Organizatinonal Culture and Leadership" của
Edgar H.Shein (San Francisco, 1992), "Effective Management of Social Enterprises"
của James Austin (Harvard University, 2006)… Quan niệm về VHDN của các học
giả phương Tây và Mỹ đã đi từ hiện tượng đến bản chất, vạch ra sâu sắc nội hàm
khái niệm VHDN, làm cơ sở cho quá trình nghiên cứu về khái niệm này nói riêng và
những vấn đề xoay xung quanh VHDN nói chung.
- Nghiên cứu văn hóa doanh nghiệp ở nước ta:
Trong bối cảnh phát triển KTTT thời kỳ đổi mới, xu hướng nghiên cứu về
VHKD, VHDN, văn hóa doanh nhân, đạo đức kinh doanh, triết lý kinh doanh, trách
nhiệm xã hội của doanh nghiệp, văn hóa trong kinh tế…nước ta đã được nhiều nhà
VTX đã lý giải sự cần thiết khách quan của việc xây dựng VHDN ở nước ta hiện
nay, đồng thời tác giả cũng nêu ra thực trạng và một số giải pháp để xây dựng
VHDN ở nước ta. Đây là một bài báo khá toàn diện khi đánh giá thực trạng VHDN
Việt Nam hiện nay. Theo tác giả, VHDN có vai trò nâng cao hiệu quả kinh tế, tạo
hình ảnh tốt đẹp cho doanh nghiệp, xây dựng môi trường làm việc văn minh. Tác giả
cũng khẳng định thực trạng VHDN Việt Nam hiện nay là chưa được quan tâm, còn
buôn gian bán lận, cá lớn nuốt cá bé…Vì vậy, những vấn đề cấp bách cần giải quyết
là nâng cao năng lực người quản lý doanh nghiệp; hình thành văn hóa cho người lao
động; hoàn thiện khung pháp luật; hình thành tiêu chuẩn văn hóa công chức...
Trước đó, tác giả Nguyễn Tấn Việt đưa ra "Thực trạng và một số giải pháp xây
dựng văn hóa doanh nghiệp ở Việt Nam" trên Tạp chí Thương mại, số 11 năm 2005 để
đi tìm những giải pháp thiết thực nhất cho việc xây dựng VHDN Việt Nam hiện nay.
Theo tác giả, ở nước ta hiện nay đa số các doanh nghiệp chưa nhận thức đầy đủ về
VHDN. Hầu hết các doanh nghiệp chưa tạo cho mình được bản sắc riêng.. Tác giả cũng
đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao nhận thức cho các doanh nghiệp về vấn
đề VHDN. Từ những bài viết này, chúng tôi kế thừa được nhiều quan điểm của tác giả
như: về những nhân tố hình thành VHDN; sự cần thiết khách quan của việc xây dựng
VHDN ở nước ta; những thực trạng VHDN Việt Nam; các giải pháp xây dựng VHDN.
19
"Sức hấp dẫn - một giá trị văn hóa doanh nghiệp" do Nxb Chính trị quốc gia
xuất bản năm 2005 của Trần Quốc Dân. Trong cuốn sách này, tác giả đi làm rõ khái
niệm VHDN và "sức hấp dẫn" của một doanh nghiệp. Theo tác giả, "sức hấp dẫn" là
một giá trị của VHDN, vì vậy xây dựng VHDN là phải tạo nên được sức hấp của một
doanh nghiệp. Ở đây, có thể kế thừa được khái niệm VHDN và khái niệm "sức hấp
dẫn" từ một doanh nghiệp của tác giả.
Đề cập đến những điểm cần chú trọng trong việc xây dựng VHDN và thực
tiễn VHKD Việt Nam hiện nay, tập hợp những bài viết từ Hội thảo, PGS.TS. Đào Duy
những nội dung này khi nghiên cứu cấu trúc của VHDN.
Có thể nói bàn luận trực diện về vấn đề này là cuốn "Văn hóa doanh nghiệp"
của Tiến sĩ Đỗ Thị Phi Hoài, Nxb Tài chính xuất bản năm 2009 và cuốn "Văn hóa
doanh nghiệp" của Tiến sĩ Trần Thị Vân Hoa, Nxb Đại học Kinh tế quốc dân xuất
bản năm 2009, cuốn "Văn hóa doanh nghiệp" của PGS.TS. Trần Nhoãn do NXB Đại
học Quốc gia xuất bản năm 2009. Trong những giáo trình này các tác giả đi vào bàn
sâu về khái niệm, vai trò, các nhân tố hình thành, hình thức biểu hiện, phân loại và sự
cần thiết xây dựng VHDN trong điều kiện Việt Nam. Đặc biệt, các tác giả thường
phân tích lại các mô hình VHDN của các học giả Mỹ và phương Tây.
Theo tác giả Trần Thị Vân Hoa, VHDN thể hiện 3 mối quan hệ chủ yếu:
quan hệ giữa doanh nghiệp với môi trường bên ngoài, mối quan hệ giữa con người và
công việc; mối quan hệ giữa người với người trong doanh nghiệp. VHDN có 9 đặc
trưng. Kế thừa quan điểm của các công trình trước đó, tác giả cũng phân tích các yếu
tố cơ bản tạo thành VHDN từ các phương diện: từ phương diện nhóm yếu tố giá trị;
từ phương diện nhóm yếu tố chuẩn mực; từ phương diện nhóm yếu tố môi trường và
phong cách quản lý; từ nhóm yếu tố hữu hình. Tác giả cũng đi phân tích 5 chức năng
(chỉ đạo, ràng buộc, liên kết, khuyến khích, lan truyền) và các mô hình của VHDN.
Tác giả cũng vạch ra các bước xây dựng VHDN, những phương hướng và giải pháp
xây dựng VHDN Việt Nam hiện nay bao gồm: lấy con người làm gốc; hướng tới thị
trường; coi trọng khách hàng… Trong tài liệu của mình, tác giả Đỗ Thị Phi Hoài
phân tích chi tiết về các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành VHDN, các giai đoạn
hình thành VHDN, các biểu hiện của VHDN và các mô hình VHDN...
Từ các tài liệu trên, chúng tôi có thể kế thừa một cách có hệ thống những nội
dung về VHDN phục vụ cho việc nghiên cứu về vấn đề này. Tuy nhiên, theo chúng
tôi, hạn chế của các tài liệu trên là chưa chỉ ra được một cách đầy đủ các nhân tố hình
thành VHDN cũng như đưa ra mô hình cấu trúc VHDN một cách dễ hiểu nhất.
Luận án tiến sĩ Triết học của Nguyễn Thị Ngọc Anh (2010) "Vấn đề văn hóa
kinh doanh ở nước ta hiện nay" cũng đề cập đến việc phân biệt VHKD và VHDN,
trên cơ sở đó cho chúng ta thấy được rõ VHDN cũng như những giải pháp xây dựng
VHKD gắn với xây dựng VHDN.
của Đảng ta về VHDN cũng như vai trò, giải pháp xây dựng VHDN trong công cuộc
đổi mới hiện nay. Ở đây, có thể kế thừa được quan điểm của tác giả về vai trò của
VHDN dựa trên quan điểm của Đảng về văn hóa hiện nay. Tuy nhiên, hạn chế của
tác giả là đề cập khá sơ sài quan niệm phương Đông về VHDN và các nhân tố ảnh
hưởng, tác động đến VHDN.
"Nhân cách doanh nhân và văn hóa doanh nhân Việt Nam" của PGS,TS Đỗ
Minh Cương, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010. Đây là cuốn sách chuyên khảo
nghiên cứu về cấu trúc của nhân cách doanh nhân và văn hóa doanh nhân - một bộ
phận của VHDN. Qua đó, có thể kế thừa được nhiều tư liệu khi nghiên cứu về VHDN.
22
"Nhân cách doanh nhân và văn hóa kinh doanh ở Việt Nam trong thời kỳ đổi
mới, hội nhập quốc tế" do tác giả Phùng Xuân Nhạ chủ biên được Nxb Chính trị
quốc gia xuất bản năm 2011. Trong công trình này, các tác giả nghiên cứu toàn diện
về VHKD, nhân cách doanh nhân và VHDN. Trong đó, các tác giả có đầy đủ kết quả
khảo sát về VHDN ở nước ta. Qua công trình này, có thể kế thừa được nhận định của
các tác giả khi đánh giá thực trạng xây dựng VHDN ở nước ta hiện nay.
"Tinh thần doanh nghiệp Việt Nam trong hội nhập" do PGS, TS Hoàng Văn
Hải (chủ biên), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2012 làm rõ cấu trúc của yếu tố
tinh thần doanh nghiệp nói chung và tinh thần doanh nghiệp Việt Nam nói riêng.
Trong cuốn sách này, các tác giả khẳng định triết ký kinh doanh, động cơ kinh
doanh, bản lĩnh quản trị là những yếu tố cấu thành tinh thần doanh nghiệp - những
nhân tố này tạo nên VHDN. Đây là góc nhìn VHDN riêng của tác giả bằng cách đi
phân tích một yếu tố đặc thù của VHDN.
Hiện nay, một số luận văn thạc sĩ cũng đã nghiên cứu về VHDN Việt Nam.
Ví dụ như luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh quốc tế - Đại học Quốc gia Hà Nội
của Phan Đức Tú với đề tài "Một số giải pháp xây dựng, thực hành và phát triển văn
hóa doanh nghiệp tại ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam"...
giả quan niệm VHDN gồm 4 đặc trưng. Ở đây, chúng tôi dựa theo cách phân tích của
tác giả Đỗ Thị Phi Hoài - cho rằng VHDN gồm các đặc trưng: tính khách quan, tính
quy phạm tập thể, tính kế thừa bền vững, tính chủ quan.
Về cấu trúc của VHDN: Hầu hết các tác giả đều kế thừa quan điểm của
H.Schein về biểu hiện của VHDN ở 3 cấp độ. Chỉ có tác giả Đỗ Minh Cương cho
rằng: "VHDN = môi trường văn hóa của doanh nghiệp + hệ thống các giá trị của
doanh nghiệp + các nhân tố văn hóa trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp".
Về vai trò của VHDN: Các tác giả đều đánh giá sát thực vai trò của VHDN
như: tạo bản sắc cho doanh nghiệp, tạo ra sự khác biệt, đem lại lợi thế cạnh tranh,
giúp doanh nghiệp phát triển bền vững... Trong đó, tác giả Trần Quốc Dân chỉ ra
VHDN có 9 vai trò cơ bản đối với doanh nghiệp
Về các mô hình VHDN: Hạn chế là đa số các tác giả đều có cách phân tích và
trình bày khá giống nhau khi đề cập đến các dạng VHDN và mô hình VHDN. Các
tác giả đều kế thừa hoặc trình bày lại các quan điểm về mô hình VHDN của các học
giả phương Tây.
Đo lường VHDN: Thậm chí các tác giả còn chỉ ra cách thức đo lường
VHDN. Tác giả Trần Quốc Dân cho rằng đo lường VHDN trên cơ sở: sự nhận thức
của các thành viên trong doanh nghiệp; thấy được tầm quan trọng của nhóm; lấy con
người làm trung tâm; sự thống nhất trong doanh nghiệp; sự tự điều khiển; mức độ
chấp nhận thách thức.
Về tính tất yếu và thực trạng xây dựng VHDN ở nước ta hiện nay: Các tác
giả như Nguyễn Tấn Việt, VTX, Dương Thị Liễu, Trần Thị Vân Hoa đều đề cập.
24
Nhưng có thể nói, cuốn "Nhân cách doanh nhân và văn hóa kinh doanh ở Việt Nam
trong thời kỳ đổi mới, hội nhập quốc tế" (Phùng Xuân Nhạ chủ biên) đã có những kết
quả điều tra mới nhất về thực trạng VHDN Việt Nam hiện nay. Các tác giả đã kết
luận rằng "các doanh nghiệp Việt Nam đã bắt đầu nhận thức được vai trò quan trọng