Chính sách quản lý sản phẩm đầu ra nhằm thúc đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp công ích tại thành phố hồ chí minh - Pdf 39

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------------------

LÊ NGỌC THẠCH

CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ SẢN PHẨM ĐẦU RA NHẰM THÚC ĐẨY
ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
CÔNG ÍCH TẠI TP.HCM

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Hà Nội, 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------------------

LÊ NGỌC THẠCH

CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ SẢN PHẨM ĐẦU RA NHẰM THÚC ĐẨY
ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
CÔNG ÍCH TẠI TP.HCM

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
MÃ SỐ: 60.34.04.12

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Đào Thanh Trƣờng

6. Câu hỏi nghiên cứu: ............................................................................................... 12
7. Giả thuyết nghiên cứu: ........................................................................................... 12
8. Phương pháp nghiên cứu: ......................................................................................12
9. Kết cấu của Luận văn: ............................................................................................ 13
Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về chính sách quản lý sản phẩm đầu ra và hoạt động
đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp công ích. ..................................................14
1.1.

Khái niệm chính sách quản lý sản phẩm đầu ra và các khái niệm có liên quan .14

1.1.1.

Khái niệm quản lý sản phẩm đầu ra .................................................................14

1.1.2.

Khái niệm chính sách .......................................................................................18

1.1.3.

Khái niệm chính sách quản lý sản phẩm đầu ra ...............................................20

1.2.
1.2.1.

Khái niệm doanh nghiệp công ích và đổi mới công nghệ ...................................21
Khái niệm hàng hóa công cộng, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp

công ích.......................................................................................................................... 21
1.2.2.

3.2. Một số giải pháp triển khai chính sách quản lý sản phẩm đầu ra nhằm thúc đẩy
hoạt động đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp công ích ......................................85
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ .............................................................................89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................92

3


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DNNN

Doanh nghiệp nhà nước

DN

Doanh nghiệp

TNHH

Trách nhiệm hữu hạn

MTV

Một thành viên

DNCI

Doanh nghiệp công ích


Hàng hóa công cộng

CN

Công nghệ

KH&CN

Khoa học và Công nghệ

ĐMCN

Đổi mới công nghệ

R&D

Nghiên cứu và Triển khai

CNH

Hiện đại hóa

DVCI

Dịch vụ công ích

4


PHẦN MỞ ĐẦU

trong năm 2014, các doanh nghiệp công ích thực hiện tốt nhiệm vụ thông qua chính
5


sách an sinh- xã hội với việc sẵn sàng tham gia làm nhiệm vụ theo yêu cầu của Bộ, địa
phương. Đặc biệt, các doanh nghiệp công ích được chủ động hơn trong việc thực hiện
nhiệm vụ được giao do được chuyển từ cơ chế giao kế hoạch sang đặt hàng, đấu
thầu.Các doanh nghiệp công ích trên toàn quốc hiện đang tạo việc làm cho khoảng
196.000 người lao động với mức thu nhập bình quân của người lao động là 7 triệu
đồng/người/tháng (tăng 3,1% so với mức lương bình quân năm 2012). Trong đó, mức
thu nhập bình quân của khối doanh nghiệp công ích thuộc Bộ quản lý cao hơn so với
mức thu nhập bình quân của người lao động thuộc khối doanh nghiệp công ích thuộc
địa phương (9,7 triệu đồng/người so với 5,3 triệu đồng/người). Đến nay các doanh
nghiệp công ích đã hoạt động trong các lĩnh vực như: Cấp, thoát nước; cung ứng dịch
vụ vệ sinh, môi trường; xử lý nước thải, rác thải; chiếu sáng đô thị; trồng và chăm sóc
cây xanh, vườn hoa công cộng; duy tu, bảo trì các công trình giao thông; cung ứng
dịch vụ vận tải hành khách công cộng; cung ứng dịch vụ khai thác các công trình thủy
lợi; cung ứng các sản phẩm, dịch vụ công ích đặc thù thuộc các Bộ, ngành; trực tiếp
phục vụ an ninh, quốc phòng.
Vậy làm thế nào để phát huy được hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp công
ích mà không dẫn đến việc phá vỡ các nguyên tắc “công ích” hay lợi ích công cộng là
điều cần được cân nhắc hiện nay. Khi mà trong thực tế các hoạt động của DNCI vẫn
theo lối mòn, dựa trên các phương tiện, công nghệ lạc hậu, thiếu một phương thức
quản lý phù hợp thì việc nâng cao chất lượng dịch vụ công ở các doanh nghiệp này
ngày càng trở nên khó khăn. DNNN mà đặc biệt là DNCI, trong quá trình chuyển
sang KTTT đang phát sinh nhiều bất cập như tình trạng đầu tư lớn nhưng kết quả kinh
tế - xã hội không được như mong muốn. Nhiều vấn đề về chính sách đặt ra gây lúng
túng trong công tác tổ chức quản lý. Thậm chí DNCI còn bị đánh giá là khu vực kém
hiệu quả nhất hiện nay. Một số công trình trọng điểm triển khai chưa đạt yêu cầu so
với tiến độ đặt ra, không đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển của xã hội, gây ảnh

công nghệ lạc hậu, dự án chậm triển khai, chất lượng sản phẩm, dịch vụ không đáp
ứng nhu cầu của người dân...
Để khắc phục hiện tượng trên, cùng với việc đáp ứng những đòi hỏi ngày càng
cao về chất lượng dịch vụ của nhân dân thành phố, doanh nghiệp công ích buộc phải
thực hiện lộ trình đổi mới công nghệ nhằm tạo ra những sản phẩm dịch vụ chất lượng
tốt và giá thành hạ vì mục tiêu phát triển bền vững. Trong những năm gần đây, với chủ
trương đẩy mạnh xã hội hóa trong lĩnh cung cấp dịch vụ công ích thông qua công tác
đấu thầu của UBND TP. Hồ Chí Minh doanh nghiệp công ích đứng trước những khó
khăn và không ít cơ hội đối với phát triển.
1

Huy Thịnh, “Sếp công ích” vì sao lương khủng?, 28/8/2013

7


Hiện nay, trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh đã có 22 doanh nghiệp công ích
các quận, huyện và 6 doanh nghiệp thành phố và một số doanh nghiệp tư nhân tuy
nhiên, thực tế hiện nay giá thành dịch vụ ngày càng tăng, nhu cầu của người dân cũng
chưa được đáp ứng tốt. Thực tế này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, tuy nhiên việc
chậm đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp công ích là một trong những nguyên
nhân chính. Qua 2 trường hợp nghiên cứu là CTCIQ2 và CTTNĐT tác giả nhận thấy
vấn đề nằm ở phía các cơ quan quản lý sản phẩm dịch vụ công ích của Thành phố
cũng chưa có một những chính sách cụ thể nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp công ích
đổi mới công nghệ. Bên cạnh những thành tựu chung của lĩnh vực công ích, các doanh
nghiệp này vẫn gặp phải những thách thức do hạn chế về công nghệ và năng lực công
nghệ, hạn chế bởi quy trình kiểm tra, đánh giá của các cơ quản lý chức năng còn rườm
rà, sự chậm trễ trong việc huy động các nguồn vốn cho đổi mới, cho tái cấu trúc... Vì
vậy, tôi quyết định chọn đề tài: “Chính sách quản lý sản phẩm đầu ra nhằm thúc
đẩy đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp công ích tại Thành phố Hồ Chí

chỉ ra những ưu điểm, những thế mạnh cần phát huy và những tồn tại, hạn chế trong
hoạt động thực tiễn cần được điều chỉnh hoặc đổi mới phương thức hoạt động từ đó đề
xuất các giải pháp phát huy năng lực tiềm tàng của các doanh nghiệp hoạt động trong
lĩnh vực này.
Đề tài "Thực trạng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả công tác kế
hoạch đối với doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích - Cụm cảng Hàng không
miền Bắc" của tác giả Nguyễn Hữu Vinh phân tích công tác kế hoạch, tổng kết thực
tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh thời kỳ 1998 - 2002; phân tích đánh giá tình hình
quản lý điều hành kế hoạch và đề ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của
DNCI - Cụm cảng Hàng không miền Bắc.
Đề tài "Đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích ngành Văn
hóa thông tin" của tác giả Nguyễn Danh Ngà đề cập đến đổi mới cơ chế hoạt động của
DNCI ngành văn hóa thông tin dưới tiếp cận Kinh tế phát triển.
Ngoài ra còn một số bài đăng trên các báo, tạp chí chuyên ngành về DNCI. Tuy
nhiên các công trình trên chủ yếu nghiên cứu các DNCI dưới góc độ là một bộ phận
của kinh tế nhà nước và chỉ ra các giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất - kinh doanh.
Một số tác giả có đề cập đến giải pháp tháo gỡ khó khăn trong hoạt động của DNCI
một ngành, lĩnh vực cụ thể. Do giới hạn lịch sử, cách tiếp cận KTTT đã có nhiều điểm
còn hạn chế, các giải pháp không còn phù hợp với thực tiễn, đòi hỏi phải được xem
xét, bổ sung trong điều kiện mới, điều kiện của đổi mới và hội nhập quốc tế.
9


Mục tiêu của đổi mới công nghệ là nhằm đạt được hiệu quả cao trong sản xuất
và nâng cao sức cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp cũng như quốc gia, do đó đây là
vấn đề thu hút được nhiều sự quan tâm và nghiên cứu trong thời gian gần đây. Đã có
một số nghiên cứu đưa ra các chính sách đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp
trong các lĩnh vực khác nhau. Các nghiên cứu này đã chỉ ra được những khó khăn về
vốn, thông tin, nhân lực, nguồn lực...trong việc tiếp cận với những công nghệ mới của
các doanh nghiệp từ đó để đề xuất các giải pháp cho đổi mới.

phương pháp xác định phần Nhà nước bù lỗ cho các doanh nghiệp khi tham gia kinh
doanh các sản phẩm công ích đó.
Xoay quanh vấn đề đổi mới công nghệ của doanh nghiệp đã có nhiều hướng tiếp
cận về giải pháp từ vi mô đến vĩ mô song chưa có nghiên cứu nào về Chính sách thúc
đẩy đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp công ích tại Thành phố Hồ Chí Minh
theo hướng giao quyền tự chủ cho các doanh nghiệp trong việc trang bị và đổi mới
công nghệ theo hướng quản lý sản phẩm đầu ra. Nói cách khác đề tài Chính sách quản
lý sản phẩm đầu ra nhằm thúc đẩy đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp công ích
tại TPHCM là một khía cạnh còn nhiều mảng trống cần được nghiên cứu.
3. Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu chung:
Đề xuất chính sách quản lý sản phẩm, dịch vụ công ích theo sản phẩm đầu ra và
các giải pháp bổ sung để thúc đẩy đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp công ích
tại TP.HCM.
Mục tiêu cụ thể:
- Nêu thực trạng về chính sách quản lý sản phẩm, dịch vụ công ích trên địa bàn
thành phố Hồ Chí Minh nhằm thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ của các doanh
nghiệp công ích.
- Phân tích rào cản về chính sách quản lý sản phẩm của các doanh nghiệp công
ích trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh đối với việc thúc đẩy đổi mới công nghệ.
- Đề xuất giải pháp về chính sách quản lý sản phẩm đầu ra trong hoạt động
dịch vụ công ích trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nhằm thúc đẩy hoạt động đổi
mới công nghệ của các doanh nghiệp công ích
4. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Nghiên cứu trường hợp doanh nghiệp công ích trên địa bàn
thành phố Hồ Chí Minh.
Phạm vi thời gian:
- Nghiên cứu trong khoảng thời gian từ 2010 - 2015.
11



12


9. Kết cấu của Luận văn:
- Mở đầu
- Chương 1. Cơ sở lý luận về chính sách quản lý sản phẩm đầu ra và hoạt động
đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp công ích.
- Chương 2. Nhận diện và phân tích thực trạng chính sách quản lý sản phẩm,
dịch vụ công ích với hoạt động đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp công ích của
Tp. Hồ Chí Minh
- Chương 3. Định hướng chính sách quản lý sản phẩm đầu ra gắn với một số
giải pháp nhằm thúc đẩy đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp công ích.
- Kết luận và khuyến nghị.

13


CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ SẢN PHẨM
ĐẦU RA VÀ HOẠT ĐỘNG ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP CÔNG ÍCH

1.1.

Khái niệm chính sách quản lý sản phẩm đầu ra và các khái niệm có liên
quan

1.1.1. Khái niệm quản lý sản phẩm đầu ra
Chính sách sản phẩm đầu ra bao gồm các hoạt động và giải pháp nhằm đề ra,
thực hiện các chiến lược và chiến thuật về sản phẩm đầu ra của doanh nghiệp. Trong

2. Chất lượng được đo bằng sự thoả mãn các yêu cầu, mà yêu cầu luônl uôn biến
động nên chất lượng cũng luôn biến đổi theo thời gian, không gian, điều kiện sử dụng.
Vì vậy phải định kỳ xem xét lại các yêu cầu chất lượng.
3. Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng, cần phải xét mọi đặc tính của đối
tượng, có liên quan đến sự thoả mãn những yêu cầu cụ thể.
4. Chất lượng không phải chỉ là thuộc tính của sản phẩm, hàng hoá.Chất lượng có
thể áp dụng cho mọi thực thể, có thể là sản phẩm, một hoạt động, một quá trình, một
doanh nghiệp hay một con người.
5. Cần phân biệt giữa chất lượng và cấp chất lượng.
Cấp chất lượng là chủng loại hay thứ hạng của các yêu cầu chất lượng khác nhau
đối với sản phẩm, quá trình hay hệ thống có cùng chức năng sử dụng. Ví dụ căn hộ cấp
1 hay cấp 4 là cấp chất lượng của nhà ở. Cấp chất lượng phản ánh khác biệt đã định
hướng hoặc đã thừa nhận trong các yêucầu chất lượng. Một đối tượng ở cấp cao cũng
có thể có chất lượng không đápứng các yêu cầu (đã định ra cho đối tượng đó) và
ngược lại.
Trong nền kinh tế hiện đại khi nói đến chất lượng không thể bỏ qua các yếu tố
giá cả và dịch vụ trước, trong và sau khi bán. Đó là những yếu tố mà khách hàng nào
cũng quan tâm sau khi thấy sản phẩm mà họ định mua thoả mãn yêu cầu của họ. Ngoài
ra vấn đề giao hàng đúng lúc, đúng thời hạn cũng là yếu tố vô cùng quan trọng trong
sản xuất hiện đại, nhất là khi các phương pháp sản xuất “vừa – đúng lúc”(Just - in time: sản xuất những gì cần thiết, đúng lúc, đúng số lượng), “không kho”( Non - stock
- production) đang được thịnh hành ở các công ty hàng đầu. Để thoả mãn yêu cầu,
cũng còn cần quan tâm đến những yếu tố khác như thái độ của người làm các dịch vụ
tiếp xúc với khách hàng, từ người thường trực, tiếp tân đến trực điện thoại và cảnh
quan, môi trường làm việc của công ty.
Chất lượng luôn có thể đặc trưng qua những chỉ tiêu có thể biểu hiện bằng một số
trị số và sự định lượng, đó là mức chất lượng. Các yêu cầu này được gọi là các yêu cầu
chất lượng, hay còn gọi là tiêu chuẩn chất lượng. Các yêu cầu chất lượng phải phản
ánh đầy đủ yêu cầu đã hoặc chưa công bố của khách hàng và các yêu cầu xã hội. Các
15


-

Đảm bảo chất lượng là mọi hành động có kế hoạch và có hệ thống nhằm đem lại
lòng tin thỏa đáng rằng sản phẩm thỏa mãn các yêu cầu đã định đối với chất lượng.
Tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế ISO đã xây dựng và ban hành bộ tiêu chuẩn ISO
9000 để giúp cho các tổ chức có được một mô hình chung về đảm bảo chất lượng.

-

Kiểm soát chất lượng toàn diện theo định nghĩa của Ủy ban Giải thưởng Derming
của Nhật là “Hoạt động thiết kế, sản xuất và cung cấp các sản phẩm và dịch vụ có
chất lượng theo yêu cầu của khách hàng một cách kinh tế, dựa trên nguyên tắc định
hướng vào khách hàng và xem xét đầy đủ đến phúc lợi xã hội. Nó đạt được mục
tiêu của công ty thông qua việc lặp lại một cách hiệu quả chu trình PDCA, bao gồm
16


lập kế hoạch - thực hiện - kiểm tra - hành động điều chỉnh. Điều đó được thực hiện
bằng cách làm cho toàn thể nhân viên thông hiểu và áp dụng tư tưởng và phương
pháp thống kê đối với mọi hoạt động nhằm đảm bảo chất lượng. Các hoạt động này
là một chuỗi công việc, bao gồm khảo sát, nghiên cứu, phát triển, thiết kế, thu mua,
sản xuất, kiểm tra và marketing cùng với tất cả các hoạt động khác cả bên trong và
bên ngoài công ty.”
-

Quản lý chất lượng toàn diện: Là một phương pháp quản lý của một tổ chức, định
hướng vào chất lượng, dựa trên sự tham gia của mọi thành viên và nhằm đem lại sự
thành công dài hạn thông qua sự thoả mãn khách hàng và lợi ích của mọi thành
viên của công ty đó và của xã hội.
Căn cứ vào những phân tích về chất lượng, quản lý chất lượng nói chung của các

phẩm đầu ra theo mô hình này giúp gắn kết giữa mục tiêu chất lượng sản phẩm đầu ra
với toàn bộ quá trình vận hành, xây dựng quy trình quản lý, tức là trọng tâm vào việc
quản lý đối với hiệu quả sử dụng nguồn lực và mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội của các
sản phẩm đầu ra.
1.1.2. Khái niệm chính sách
Chính vì vậy, so với khái niệm pháp luật, chính sách được hiểu rộng hơn nhiều.
Nếu xét nội hàm của khái niệm này trong mối quan hệ với chính trị và pháp quyền thì
khái niệm chính sách được tìm hiểu ở một số khía cạnh sau đây:
- Chính sách là sự thể hiện cụ thể của đường lối chính trị chung. Dựa vào đường lối
chính trị chung, cương lĩnh chính trị của đảng cầm quyền mà người ta định ra chính
sách.
- Chính sách là cơ sở nền tảng để chế định nên pháp luật. Hay nói cách khác, pháp luật
là kết quả của sự thể chế hóa chính sách. Có thể có chính sách chưa được luật pháp
hóa (thể chế hóa), hoặc cũng có thể không bao giờ được luật pháp hóa vì nó không
được lựa chọn để luật pháp hóa khi không còn phù hợp với tư tưởng mới hay sự thay
đổi của thực tiễn. Nhưng sẽ không có pháp luật phi chính sách hay pháp luật ngoài
chính sách. Theo nghĩa đó, chính sách chính là linh hồn, là nội dung của pháp luật, còn
pháp luật là hình thức, là phương tiện thể hiện của chính sách.
18


Theo quan điểm này chính sách luôn gắn liền với quyền lực chính trị, với đảng cầm
quyền và với bộ máy quyền lực công – nhà nước. Từ đây, sự khác biệt giữa chính sách
và pháp luật được thể hiện như sau:
- Nếu chính sách là những tư tưởng, định hướng, những mong muốn chính trị được thể
hiện trong các nghị quyết, các văn kiện của Đảng thì pháp luật được thể hiện bằng các
quy tắc xử sự mang tính pháp lý, được ban hành bởi Nhà nước theo những trình tự và
thủ tục nghiêm ngặt (hình thức, thẩm quyền, quy trình soạn thảo và ban hành);
- Nếu chính sách (khi chưa được luật pháp hóa) chỉ là những cái đích mà người ta cần
hướng tới, chưa phải là những quy tắc xử sự có tính rằng buộc chung hay tính bắt buộc

đó. Các chính sách này nhằm giải quyết những vấn đề đặt ra cho mỗi tổ chức, chúng
chỉ có hiệu lực thi hành trong tổ chức đó, vì vậy, chúng mang tính chất riêng biệt và
được coi là những "chính sách tư", tuy trên thực tế khái niệm "chính sách tư" hầu như
không được sử dụng. Những chính sách do các cơ quan hay các cấp chính quyền trong
bộ máy nhà nước ban hành nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng được gọi
là chính sách công.
Nghiên cứu này đi theo quan điểm của Vũ Cao Đàm về khái niệm chính sách có tính
bao quát như sau: “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá, mà một
chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc
một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt
động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát
triển của một hệ thống xã hội”.
Theo khái niệm này chính sách không bị giới hạn bởi công hay tư, bởi chủ thể ban
hành chính sách có quyền lực chính trị hay không có quyền lực chính trị, điều cốt yếu
mà chính sách hướng đến đó là tác động vào động cơ hoạt động của con người thông
qua một tập hợp các thiết chế để tạo ra một sự phân biệt đối xử giữa các nhóm người
trong xã hội.
1.1.3. Khái niệm chính sách quản lý sản phẩm đầu ra
Từ phân tích khái niệm quản lý sản phẩm đầu ra và khái niệm chính sách nói
chung, theo quan điểm của tác giả Chính sách quản lý sản phẩm đầu ra là tập hợp
các biện pháp được thể chế hóa do chủ thể quan lý đưa ra trong đó tạo sự ưu đãi
một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định
hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện mục tiêu đảm bảo chất lượng sản phẩm
đầu ra của tổ chức. Quản lý sản phẩm đầu ra là một nỗ lực nhằm kiểm soát hiệu quả
của việc sử dụng nguồn lực trong tương quan với khả năng đáp ứng nhu cầu xã hội, do
đó chính sách quản lý sản phẩm đầu ra sẽ tập trung vào việc đảm bảo cho các thủ
trưởng các cơ quan, đơn vị có được vai trò, vị trí hợp lý và quyền tự chủ trong việc
quyết định các yếu tố đầu vào và quy trình cần có cho hoạt động của tổ chức.
20


Những người thuộc trường phái Trọng thương thế kỷ 15 - 17 cho rằng để có
nhiều tiền, nhà nước phải có những chính sách hỗ trợ, làm "bà đỡ" cho quá trình làm
tăng của cải, tăng giá trị của các nhà kinh doanh. Các nhà kinh tế học cổ điển Anh thì
muốn phủ định vai trò kinh tế của Nhà nước. Mặc dù vậy, A. Smith, nhà kinh tế học cổ
điển nổi tiếng thời bấy giờ - vẫn phải thừa nhận rằng Nhà nước không thể không có vai
trò trong việc duy trì các công trình công cộng (đường sá, cầu cống, sông đào, bến
21


cảng) và những thể chế mang lại lợi ích cho toàn xã hội. Engel khi nói về sự tác động
của nhà nước đối với sự phát triển kinh tế đã khẳng định có ba loại: Một là, nếu những
tác động phù hợp, đúng quy luật, cùng hướng sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Ngược lại, làm trái quy luật, áp đặt sẽ kìm hãm sự phát triển kinh tế. Ba là, tác động
của nhà nước tốt hướng này, cản trở hướng khác sẽ gây những cản trở trong quá trình
phát triển kinh tế.
Can thiệp vào đời sống kinh tế có nghĩa là nhà nước dùng quyền lực áp đặt
những quy định dưới hình thức pháp luật nhằm hướng dẫn, điều chỉnh hành vi của các
chủ thể trong nền kinh tế cho phù hợp với những mục tiêu Nhà nước đã lựa chọn. Để
thực hiện vai trò này, nhà nước có thể ban hành và thực thi hệ thống luật pháp kinh tế
can thiệp vào phân phối thu nhập trong xã hội, các chính sách kinh tế, chính sách an
ninh, chính sách phúc lợi xã hội hoặc trực tiếp tổ chức xây dựng kết cấu hạ tầng phục
vụ sản xuất và đời sống. Khẳng định vai trò của Nhà nước trong tổ chức xây dựng và
quản lý kết cấu hạ tầng, C. Mác cho rằng, đó không chỉ là sự thể hiện chức năng của
Nhà nước, mà trong những trường hợp riêng biệt, nó còn là đòi hỏi phải có Nhà nước.
Đó là trường hợp các Nhà nước ở phương Đông: "Dù cho những chính quyền chuyên
chế đã xuất hiện và suy vong ở Ba Tư và Ấn Độ có nhiều đến đâu chăng nữa, thì mỗi
một chính quyền đó cũng biết rất rõ rằng nó trước hết là người tổng phụ trách việc
tưới nước cho các thung lũng mà nếu không có thì ở đó không thể có một nền nông
nghiệp nào hết"3. Rõ ràng ngay cả những quốc gia vốn coi trọng vai trò của kinh tế tư
nhân, những quốc gia có nền KTTT phát triển từ rất sớm nhưng đều có một quan điểm

những hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra nhằm thỏa mãn nhu cầu của xã hội, đảm
bảo lợi ích chung của cả cộng đồng.
HHCC được chia làm các loại: Nhóm HHCC thuần túy: những hàng hóa và
dịch vụ không thể chia nhỏ và không thể quy định mức độ sử dụng đối với các đối
tượng khác nhau. Nói cách khác đó là các hàng hóa và dịch vụ mà nếu thêm một người
sử dụng thì không ảnh hưởng đến việc người khác sử dụng (tính không kình địch) và
khi chúng được sản xuất ra không thể ngăn cấm ai đó muốn tiêu dùng (tính không loại
trừ). Các HHCC thuần túy điển hình: hệ thống đê điều phòng chống lụt bão, hệ thống
các biển báo đường sông, đường biển, đường bộ, hệ thống vệ sinh môi trường và cảnh
quan đô thị.... Loại HHCC này rất khó có thể tính toán các chi phí để sản xuất ra đồng
thời cũng không thể phân bổ lượng tiêu thụ cụ thể cho mỗi thành viên của xã hội (hội
việc một ai đó sẽ hưởng bao nhiêu hàng hóa chiếu sáng công cộng), từ đó cũng không
thể định giá cho người sử dụng (ai sử dụng nhiều thì phải trả nhiều tiền). Nhóm các
HHCC không thuần túy: nhóm này mang những thuộc tính gần giống HHCC thuần túy
nhưng ở mức độ khác. Một số loại không thể loại trừ nhưng việc một người sử dụng có
thể ảnh hưởng đến người khác. Như trong giáo dục bậc tiểu học và chăm sóc sức khỏe
có thể loại trừ nhưng để tạo ra sự công bằng tối thiểu cho các công dân Nhà nước
không muốn loại trừ.
23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status