1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thành phố Hồ Chí Minh, với dân số đông đảo của một đô thị loại đặc
biệt, có nhu cầu cao về tổ chức các hoạt động văn hóa cũng như hưởng thụ các
dịch vụ văn hóa với chất lượng cao, vừa mang tính nghệ thuật vừa mang tính
giáo dục. Những năm 1975-1985, các loại hình hoạt động văn hóa được nhà
nuớc bao cấp về tài chính, kiểm tra nội dung chặt chẽ theo định hướng xã hội
chủ nghĩa, bộ máy hoạt động văn hóa được tổ chức theo cách thức hoạt động
trong cơ chế bao cấp như vậy. Nhưng, với xu thế phát triển nhanh của thành phố
cùng với đà phát triển chung của cả nước, hoạt động văn hóa cần có một “chiếc
áo” mới, thay thế cho cơ chế trước đây. Từ thực tiễn đó, Nghị quyết
90/1997/NQ-CP về Phương hướng và chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo
dục, y tế, văn hóa đã được ban hành vào ngày 21/8/1997. Tiếp theo đó, Nghị
định số 73/1999/NĐ-CP về Chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các
hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao được ban hành vào
ngày 9/8/1999. Ngày 30/12/1999, Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin đã công bố
đề án Xã hội hóa hoạt động văn hóa.
Các văn bản pháp quy ấy ra đời đã được các địa phương đón nhận, hoạt
động văn hóa có nhiều chuyển biến theo huớng xã hội hóa. TP. Hồ Chí Minh,
vốn đã có những hoạt động mang tính thử nghiệm về việc tổ chức dịch vụ văn
hóa theo tinh thần đổi mới từ Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần VI, đã
triển khai khá nhanh chóng chủ trương xã hội hóa vào các lĩnh vực hoạt động,
được ghi nhận bước đầu có những kết quả đáng khích lệ. TP. Hồ Chí Minh đã
huy động được nhiều nguồn lực của xã hội phục vụ cho việc phát triển sự
nghiệp văn hóa của thành phố. Nhiều công ty tư nhân trong lĩnh vực nghệ thuật
đã và đang hoạt động. Nhiều phương thức xã hội hóa đã thành công, làm phong
phú hơn đời sống văn hóa ở Thành phố. Bên cạnh đó, vẫn còn nhiều điều bất
cập trong việc thực hiện chủ trương xã hội hóa, cũng như những mặt trái của xã
nghiên cứu được ủy nhiệm bởi Chương trình Policies for Culture. Theo Lidia
Varbanova, sau năm 1989 các chính phủ ở Đông Nam châu Âu bắt đầu tái thiết
tổng thể chính sách văn hóa của họ để giảm thiểu sự tham gia trực tiếp của Nhà
nước trong lĩnh vực nghệ thuật và văn hóa và tăng sự hỗ trợ gián tiếp thông qua
một loạt các công cụ lập pháp. Mô hình Nhà nước là “chủ sở hữu chính” của
ngành công nghiệp văn hóa đang dần được thay thế bằng mô hình Nhà nước là
“người điều phối chính” thông qua các chức năng kinh tế và pháp luật.
Javier Brun, Giám đốc Sở Văn hóa của Hội đồng thành phố Huesca (Tây
Ban Nha) viết bài “Lĩnh vực văn hóa độc lập ở Tây Ban Nha” (2007) đăng trong
Lab for Culture
3
phân tích về sự tham gia của các tổ chức đoàn thể trong các
hoạt động văn hóa tại Tây Ban Nha. Ông cho biết các hoạt động văn hóa tại Tây
Ban Nha được phân quyền cao. 1
2
3
/>secteur-culturel-ind%C3%A9pendant-en-espagne
3
Như vậy, vấn đề xã hội hóa các hoạt động văn hóa không phải là vấn đề
của TP. Hồ Chí Minh, của riêng Việt Nam, mà là một vấn đề mang tính chất
toàn cầu mà nhiều quốc gia phải có chiến lược.
Tình hình nghiên cứu trong nước
Công trình Xã hội hóa hoạt động văn hóa của Viện Văn hóa - Bộ Văn
hóa Thông tin (năm 1996) do Lê Như Hoa chủ biên
viết “Xã hội hóa các hoạt động văn hóa ở quận 1 – TP. Hồ Chí Minh” của Mạc
Như Sương
4
và bài “Những vấn đề về xã hội hóa các hoạt động văn hóa (qua 1
Lê Như Hoa (chủ biên), Xã hội hóa hoạt động văn hóa, Nxb VHTT, Hà Nội, 1996.
2
Lê Như Hoa (chủ biên), Xã hội hóa hoạt động văn hóa, Nxb VHTT, Hà Nội, 1996, tr.43-53.
3
Lê Như Hoa (chủ biên), Xã hội hóa hoạt động văn hóa, Nxb VHTT, Hà Nội, 1996, tr.54-68.
4
Phó Chủ tịch UBND Quận 1. TP. Hồ Chí Minh, 1996.
4
thực tế huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh) của Huỳnh Ngọc Trung
1
. Hai bài
viết này phần nào khảo tả được một số trường hợp xã hội hóa các hoạt động văn
hóa ở thành phố Hồ Chí Minh cách nay hơn 12 năm.
Công trình tập thể này cho thấy những cố gắng ban đầu của các nhà
nghiên cứu, các nhà quản lý trong việc tìm kiếm, phát hiện quy luật cho hành
trình xã hội hóa văn hóa của thành phố cũng như của cả nước.
Công trình Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hóa ở nước ta
hiện nay (1999) của Hoàng Vinh đã dành riêng chương thứ 13 để viết về vấn đề
“Xã hội hóa các hoạt động văn hóa – một hướng đi quan trọng trong sự nghiệp
xây dựng văn hóa ở nước ta”. Tác giả đã phân tích từ quan niệm về văn hóa cho
đến cách hiểu về xã hội hóa văn hóa; đưa ra những nguyên tắc của quá trình xã
hội hóa văn hóa ở nước ta. Ngoài ra, đây cũng là công trình có phần trình bày
1
.
Tháng 10 - 2006, các tác giả Đinh Văn Ân và Hoàng Thu Hòa đồng chủ
biên công trình Đổi mới cung ứng dịch vụ công ở Việt Nam. Công trình đóng
góp vào việc làm rõ hơn quan niệm và thực tiễn về dịch vụ công và xã hội hóa
cung ứng dịch vụ công, đồng thời kiến nghị một số giải pháp đẩy mạnh xã hội
hóa cung ứng, phân phối, và quản lý 5 loại dịch vụ công rất quan trọng là giáo
dục, y tế, văn hóa, khoa học công nghệ, và thể dục thể thao. Các tác giả vạch ra
những nhận thức không đúng về cơ chế xã hội hóa, đó là việc coi xã hội hóa là
tư nhân hóa, hoặc coi xã hội hóa chỉ là sự đóng góp tiền của vật chất của nhân
dân trong điều kiện ngân sách Nhà nước hạn hẹp, hoặc coi xã hội hóa chỉ được
thực hiện trong các tổ chức ngoài Nhà nước cung ứng dịch vụ công, còn các tổ
chức của Nhà nước cung ứng dịch vụ công thì không cần xã hội hóa.
Cùng năm 2006, tác giả Trần Ngọc Khánh có bài viết “Góp phần xây
dựng hệ thống thiết chế văn hóa trong quá trình đô thị hóa hiện nay tại thành
phố Hồ Chí Minh”. Theo Trần Ngọc Khánh, quá trình “xã hội hóa” các hoạt
động thiết chế văn hóa ở nước ta hiện nay không chỉ là cuộc vận động “Nhà
nước và nhân dân cùng làm”, mà thực chất là nhằm xác lập vai trò tự quản của
các cộng đồng, để cho cộng đồng có đủ khả năng tự tổ chức, vận hành và trang
bị các thiết chế văn hóa để tự mình hoàn thiện, phát triển đa dạng các phương
diện hoạt động trong đời sống xã hội”
2
.
Vấn đề xã hội hóa các hoạt động văn hóa cũng được sự quan tâm của giới
truyền thông. Giới này chú trọng đến việc áp dụng vào thực tiễn chủ trương xã
hội hóa hoạt động văn hóa.
Trên tờ Hà Nội Mới ngày 10 tháng 5 năm 2006, có bài “Xã hội hóa hoạt
động nghệ thuật: đáng khâm phục!” viết về mức độ xã hội hóa của thành phố
Hồ Chí Minh trong lĩnh vực hoạt động nghệ thuật. Tác giả cho biết những kết
quả ban đầu của quá trình xã hội hóa trong lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật được
động văn hóa nghệ thuật” do phóng viên Luân Vũ thực hiện. Phóng viên đã có
buổi nói chuyện với NSND Lê Ngọc Cường (Cục trưởng Cục Nghệ thuật biểu
diễn Bộ Văn hóa, Thể thao, và Du lịch) về chủ đề đời sống văn hóa nghệ thuật
của đất nước hiện nay. NSND Lê Ngọc Cường nhận định rằng “Đường lối,
chính sách của Đảng, Nhà nước về văn hóa - nghệ thuật rất kịp thời, đúng đắn
nhưng chưa có những chính sách cụ thể, kịp thời, chưa cụ thể hóa được bằng kế
hoạch hành động. Đơn cử như chủ trương xã hội hóa hoạt động văn hóa nghệ
thuật để khuyến khích mọi thành phần trong xã hội hăng hái tham gia thì phải đề
ra được những chính sách hỗ trợ doanh nghiệp như ưu tiên, ưu đãi thuế.”
3
Tờ báo Đất Việt (22/8/2009) có bài viết “Sân khấu TP. Hồ Chí Minh
sáng đèn nhờ xã hội hóa” của tác giả Võ Hà, phản ánh sự tương phản giữa một
bên là hệ thống sân khấu, nhà hát tư nhân luôn sáng đèn với một bên là hệ thống
sân khấu, nhà hát công do Nhà nước đầu tư thì vắng vẻ kéo theo nguy cơ “chảy
máu” nhân tài… Có thể nói, nhờ cơ chế xã hội hóa, giới đầu tư tư nhân đã làm
thay đổi bộ mặt sân khấu giải trí thành phố
4
.
Tờ Sài Gòn Giải Phóng số ra ngày 02/08/2009 có bài “Đầu tư và hiệu
quả” của tác giả Trần Bạch Tuyết cho thấy sự hoạt động vượt trội của các đơn vị
sân khấu tư nhân đã đóng góp đáng kể vào sự sôi động của đời sống sân khấu và
giúp cho công chúng có thêm nhiều sự lựa chọn. Vấn đề còn trăn trở là làm sao 1
Ngày 10/5/2006,
2
3
Hồ Chí Minh, phân tích tìm ra nguyên nhân, cơ hội, thách thức trong tiến trình
xã hội hóa
- Đề xuất những vấn đề về quan niệm, về chính sách xã hội hóa nhằm
thúc đẩy việc thực hiện chủ trương xã hội hóa phát triển đúng định hướng.
- , thư viện,
nhà văn hóa.
4. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hoạt động văn hóa ở TP. Hồ Chí
Minh từ khi có chủ trương xã hội hóa của Đảng và các chính sách của Nhà nước
về XHH. 1
2
/>nen-tac-pham-dinh-cao.htm 8
Đề tài nghiên cứu hoạt động của cả đơn vị công lập, ngoài công lập đang
hoạt động văn hóa tại TP. Hồ Chí Minh. Vì vậy, đề tài sẽ khảo sát, nghiên cứu ý
kiến của những người hoạt động văn hóa, của công chúng tham gia các loại hình
hoạt động văn hóa.
5. Giả thuyết nghiên cứu
+ V ễ
hành phố á
, trong khi
? Giả thuyết được đặt ra là
khi nhà nước ban hành các cơ chế, chính sách nhằm tạo sự công bằng giữa các
đơn vị công lập và ngoài công lập. Như vậy, tất yếu có sự cạnh tranh giữa các
trung, không dàn trải.
- Thể hiện sự nghiêm minh trong quản lý Nhà nước về văn hóa.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu:
- Các vấn đề lý luận có liên quan đến vấn đề xã hội hóa hoạt động văn
hóa, chính sách văn hóa,
- Thực trạng xã hội hóa hoạt động văn hóa ở TP. Hồ Chí Minh từ khi có
chủ trương xã hội hóa cho đến nay,
- Nhận xét từ thực tiễn xã hội hóa hoạt động văn hóa ở TP. Hồ Chí Minh
thời gian qua,
- Đề xuất giải pháp, bổ sung hoặc sửa đổi chính sách nhằm tiếp tục đẩy
mạnh xã hội hóa ở các lĩnh vực hoạt động văn hóa.
7. Khách thể và phạm vi nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trong môi trường hoạt động văn hóa ở TP. Hồ
Chí Minh. Đó là môi trường của một đô thị loại đặc biệt ở Việt Nam, đô thị
đông dân nhất nước, có lượng khách vãng lai rất lớn đồng thời là môi trường
của một thành phố với vai trò là trung tâm văn hóa, kinh tế của khu vực phía
Nam cũng như của cả nước.
Đề tài khảo sát, nghiên cứu:
- Công chúng đang tham gia/thưởng thức/tham quan các hoạt động văn
hoá, từ 18 tuổi trở lên.
- Người hoạt động văn hoá đang hoạt động cho các đơn vị công lập và
ngoài công lập.
Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: địa điểm hoạt động văn hoá tại các
TP. Hồ Chí Minh.
- Thời gian: từ năm 2005 đến 2010 (đặt trong mối quan hệ trước và
sau khi có chủ trương xã hội hóa).
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
thư viện công lập, người thành lập thư viện tư nhân, độc giả…
Các cuộc phỏng vấn đều được ghi âm và được tổng hợp thành các biên bản
phỏng vấn sâu.
- Phương pháp nghiên cứu tham dự: Đề tài đòi hỏi nhóm nghiên cứu viên
phải thâm nhập và tham gia vào một số loại hình dịch vụ văn hóa với vai trò
người hưởng thụ qua đó có cái nhìn trong cuộc về các sản phẩm của mô hình xã
hội hóa văn hóa.
- Ngoài những phương pháp đã mô tả bên trên, nhóm nghiên cứu sẽ phối
11
hợp sử dụng các phương pháp khác như khảo tả, thống kê, nghiên cứu so sánh,
phân tích tổng hợp các nguồn tài liệu v.v Bên cạnh đó còn có các kỹ thuật sử
dụng phương tiện nghe nhìn công nghệ cao như quay video, chụp ảnh, ghi âm
cũng sẽ được vận dụng ở mức độ thích hợp.
9. Ý nghĩa và tính mới về khoa học và thực tiễn
Đề tài “Xã hội hóa các hoạt động văn hóa ở thành phố Hồ Chí Minh
– Chính sách và giải pháp” được nghiên cứu có ý nghĩa như tổng kết thực tiễn,
bởi vì ngay khi Chính phủ ban hành Nghị quyết 90/1997/NQ-CP ngày
21/8/1997, TP. Hồ Chí Minh đã triển khai từ rất sớm. Ngày 8/10/1997, Sở VH -
TT Thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức cuộc hội thảo về “Xã hội hóa hoạt động
VHTT ở TP. Hồ Chí Minh thực trạng và giải pháp”. Từ đó đến nay, thực tiễn xã
hội hóa vẫn tiếp diễn rất sôi động ở TP. HCM nhưng chưa có cuộc tổng kết
đánh giá cần thiết để rút ra những bài học kinh nghiệm, để bổ sung phát triển
các quan điểm, lý luận về XHH hoạt động văn hóa.
- Thành phố Hồ Chí Minh là một thành phố vốn rất năng động cũng được
đánh giá là một địa phương thực hiện tốt việc xã hội hóa hoạt động văn hóa, với
nhiều mô hình gần như có tiếng tăm trong cả nước: mô hình sân khấu nhỏ 5B
Võ Văn Tần, nay đã nhân ra sân khấu kịch Idecaf, sân khấu Phú Nhuận ; mô
hình công viên văn hóa du lịch Đầm Sen, Suối Tiên… Thế nhưng, đến nay vẫn
còn nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về xã hội hóa hoạt động văn hóa ở thành
như là một thành viên, đó chính là quá trình xã hội hóa cá nhân.
- Theo khoa học hành chính, “Xã hội hóa là quá trình chuyển hóa, tạo lập
cơ chế quản lý và hoạt động của một số lĩnh vực kinh tế xã hội, nhằm tăng
cường trách nhiệm giữa Nhà nước và xã hội, khai thác đúng đắn và sử dụng có
hiệu quả các nguồn lực của xã hội, phục vụ với chất lượng cao mục tiêu phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước”
3
. 1
Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, Từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa Sài
Gòn, 2005, tr.1833.
2
John J. Macionis, (Trung tâm Dịch thuật thực hiện, Hiệu đính: Trần Nhựt Tân), Xã hội học,
Nxb Thống kê, Hà Nội, 1987, tr.154.
3
Mai Hữu Khuê, Bùi Văn Nhơn, Từ điển giải thích thuật ngữ hành chính, Nxb Lao động,
2002, tr.792.
13
- Tác giả Chu Văn Thành đưa ra khái niệm “Xã hội hóa dịch vụ công là
quá trình mở rộng sự tham gia của các chủ thể xã hội và tăng cường vai trò của
Nhà nước đối với dịch vụ công”
1
.
Như vậy Xã hội hóa thực chất là sự chuyển giao một số công việc thuộc
về chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước do Nhà nước đang thực hiện cho tổ chức
hoặc cá nhân có đủ những điều kiện theo quy định của pháp luật đảm nhiệm.
Xã hội hóa cũng là quá trình chuyển giao áp dụng các ưu điểm ở lĩnh vực
14
, những quyền cơ
bản của con người, , những tập tục và tín ngưỡng”
1
.
Tác giả Trần Ngọc Thêm cũng đưa ra khái niệm về văn hoá như sau:
“Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người
sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa
con người với môi trường tự nhiên và xã hội”
2
.
Trong nghị quyết tại Hội nghị lần thứ V Ban Chấp hành Trung ương
Đảng (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc, ngày 16/7/1998 cho rằng: “Văn hóa Việt Nam là tổng
thể những giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng
tạo ra trong quá trình dựng nước và giữ nước…, là kết quả giao lưu và tiếp thu
tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình. Văn
hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng
rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc”
3
.
+ Hoạt động văn hóa là một bộ phận của hoạt động xã hội, là quá trình
sáng tạo (sản xuất), bảo tồn (bảo quản), phân phối, tiêu dùng các sản phẩm văn
hóa.
Có các dạng hoạt động văn hóa như:
- Hoạt động sáng tác và biểu diễn nghệ thuật,
- Ứng dụng khoa học kỹ thuật vào đời sống,
- Hoạt động khai trí - giáo dục nhằm góp phần nâng cao dân trí: diễn
giảng, tọa đàm, thư viện,
vực tổ chức bộ máy quản lý văn hóa; Các hoạt động thuộc lĩnh vực đào tạo; Các
hoạt động thuộc lĩnh vực thanh tra”
1
.
Trong tập sách Quản lý hoạt động văn hóa của Trường Đại học Văn hóa
- Hà Nội (Nxb Văn hóa - Thông tin, 1998), được dùng làm giáo trình trong các
chương trình đào tạo chuyên ngành quản lý văn hóa của các trường đại học văn
hóa thuộc Bộ Văn hóa, có mô hình về đối tượng của chính sách văn hóa trong
đó có ghi: “Những thành phần văn hóa: văn hóa nghệ thuật; văn hóa nếp sống;
văn hóa khai trí; văn hóa giáo dục chính trị xã hội”
2
.
Chuyên đề Tư tưởng Hồ chí Minh về văn hóa (trong giáo trình Tư tưởng
Hò chí Minh của Bộ Giáo dục và đào tạo), mục “Tư tưởng Hồ Chí Minh về một
số lĩnh vực của văn hóa” có đề cập đến ba lĩnh vực văn hóa giáo dục; văn hóa
văn nghệ; văn hóa đời sống; đồng thời cũng đề cập đến tư tưởng Hồ Chí Minh
về bảo tồn di sản văn hóa dân tộc
3
.
Xét trên thực tế việc xây dựng bộ máy tổ chức của cơ quan quản lý văn
hóa ở thành phố, chúng tôi đưa ra một cách phân loại các hoạt động văn hóa tại
TP. Hồ Chí Minh thành ba lĩnh vực cơ bản là văn hóa lịch sử (di sản văn hóa),
văn hóa nghệ thuật và văn hóa đời sống (trước đây thường được gọi là văn hóa
cơ sở).
1.3 Xã hội hóa hoạt động văn hóa
: 1
Học viện Hành chính Quốc gia - Khoa Quản lý Nhà nước về Xã hội, giáo trình Quản lý Nhà
hưởng dụng bị động các công trình sáng tạo, họ thích trở thành người đồng sáng
tạo ra cuộc chơi hơn”. Thêm nữa, Watanabe phản bác hiện tượng kỳ thị và loại
trừ trong sáng tác văn hóa. Chính sách văn hóa thường loại bỏ một số cộng đồng
khỏi các hoạt động sáng tạo, ví dụ như nhóm người cao tuổi, nhóm dân tộc thiểu
số, nhóm người nghèo, nhóm người khuyết tật, và nghiêm trọng hơn nữa là loại 1
Hoàng Vinh, Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hóa ở nước ta, Nxb VHTT, Hà
Nội, 1999, tr.300.
2
Đinh Xuân Dũng, Xã hội hóa hoạt động văn hóa - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Ban tư
tưởng Văn hóa Trung Ương, Hà Nội, 2000, tr.21.
3
Nguồn: 17
bỏ phụ nữ và người trẻ tuổi vốn dĩ là lực lượng chiếm đa số trong mọi xã hội.
Sáng tạo không chỉ dành riêng cho giới chuyên nghiệp. Trong một xã hội dân
chủ, hoạt động sáng tạo nào không được sự ủng hộ của đa số người dân thì
không thể nào có cơ hội trở thành dòng văn hóa chủ đạo. Do đó, sẽ không có gì
đáng ngạc nhiên khi lĩnh vực văn hóa nghệ thuật - vốn chưa được dân chúng
hóa một cách thuyết phục - vẫn còn ở bên lề của chính sách phát triển quốc gia.
Để khắc phục tình trạng này, chính phủ và các tổ chức nghệ thuật nên có chính
sách và những cách thức nhằm loại bỏ sự kỳ thị trong sáng tạo nghệ thuật và
hướng đến một nền dân chủ văn hóa nơi mà cơ hội sáng tạo được mở rộng cho
tất cả mọi người trên cơ sở bình đẳng.
Watanabe đề cập đến tư nhân hóa các hoạt động văn hóa như sau: Các
chính phủ đang cố gắng chuyển phần lớn chi tiêu trong hoạt động văn hóa nghệ
của Nhà nước dùng làm cơ sở cho các hoạt động văn hóa.
Một cách diễn đạt khác, Hội nghị bàn tròn về các chuyên gia văn hóa tại
Monaco đã đưa ra quan niệm về chính sách văn hóa như sau: Chính sách văn
hóa là một tổng thể những thực hành xã hội hữu thức và có suy tính về những
can thiệp hay không can thiệp của Nhà nước vào các hoạt động văn hóa nhằm
đáp ứng nhu cầu văn hóa của nhân dân, bằng cách sử dụng tối ưu tất cả những
nguồn vật chất và nhân lực, mà một xã hội nào đó có được vào một thời điểm
thích hợp”
1
.
Hội nghị liên chính phủ về “Chính sách văn hóa vì sự phát triển” tại
Stockholm, tháng 3/1998, đã thông qua Chương trình hành động nhằm khẳng
định vai trò của chính sách văn hóa đối với phát triển. Chương trình đã nêu ra
các vấn đề như:
- “Chính sách văn hóa là một thành phần chủ yếu của tất cả các chính
sách phát triển,
- Trong thiên niên kỷ mới, chính sách văn hóa phải đi trước sự phát triển
nhanh chóng của các nhu cầu văn hóa trong xã hội,
- Chính sách văn hóa cần phải khuyến khích sự sáng tạo dưới mọi hình
thức của mọi tầng lớp, cộng đồng nhằm làm giàu thêm đời sống tinh thần của
nhân dân,
- Chính sách văn hóa của quốc gia là chính sách của một cộng đồng của
nhiều thành viên bám rể vào những giá trị truyền thống, mọi cộng đồng trong
quốc gia đều có thể có vị trí và được tự thể hiện mình,
- Chính sách văn hóa phải tôn trọng quyền bình đẳng nam nữ trong mọi
cộng đồng xã hội,
- Cơ quan chính phủ và mọi tổ chức xã hội cùng phối hợp để xây dựng
các chương trình, kế hoạch thực hiện chính sách văn hóa,
- Sự trao đổi thông tin, giao lưu hợp tác văn hóa và hiểu biết về văn hóa
của nhau là nền tảng cho hòa bình và hòa hợp”
.
khăn. 1
Học viện Hành chính Quốc gia, Giáo trình Hành chính công, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2006,
tr.28.
20
:
- , quyền lực Nhà
.
-
thực hiện mục tiêu.
- , sáng tạo, linh hoạt trong việc huy
động các nguồn lực để phát triển sản xuất và nâng cao đời sống nhân dân trên
địa bàn theo sự phân công, phân cấp đúng thẩm quyền.
- , ổn định trong tổ chức và hoạt động.
-
xuống dưới, cấp dưới nhận chỉ thị và chịu sự kiểm tra của cấp trên.
- .
- .
Từ khái niệm chung về QL HCNN, ta có thể hiểu QL HCNN về văn hóa
là quá trình tác động, điều chỉnh bằng pháp luật đối với mọi hoạt động văn hóa
trong đời sống xã hội nhằm hướng tới xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc
1.6 Dịch vụ công và Xã hội hóa dịch vụ công
1.6.1 Khái niệm dịch vụ công ra đời gắn liền với việc thực hiện chức
năng Quản lý hành chính Nhà nước
: chức năng
-
, hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính.
Dịch vụ công có thể chia thành 3 loại:
- Dịch vụ hành chính công do cơ quan quản lý hành chính Nhà nước
cung cấp để phục vụ nhân dân (cơ quan công quyền). Bao gồm các lĩnh vực như
cấp phép, đăng ký, công chứng, hộ tịch, hộ khẩu, phòng chống thiên tai
- Dịch vụ sự nghiệp công, gồm các hoạt động sự nghiệp cung cấp các
phúc lợi xã hội thiết yếu cho nhân dân (chăm sóc sức khỏe, giáo dục, văn hóa,
khoa học, thể dục thể thao, bảo hiểm an sinh xã hội ).
Dịch vụ công ích, phi lợi nhuận, là các hoạt động có tính chất kinh tế do
các doanh nghiệp thực hiện theo yêu cầu của Nhà nước, để phục vụ mọi người
như cung cấp điện, nước, vệ sinh môi trường, kết cấu hạ tầng xã hội nói chung
là cung cấp hàng hóa công.
22
1.6.2 Xã hội hóa dịch vụ công là tất yếu
Trong tiến trình thực hiện xã hội hóa, Nhà nước phải thực hiện đầy đủ hai
chức năng cơ bản: chức năng quản lý và chức năng phục vụ xã hội.
Quá trình thực hiện chức năng quản lý, Nhà nước phải
- ,
- ,
- Xác lập mô hình tổ chức các đơn vị công lập,
-
,
- ,
- .
Tác giả Huỳnh Khái Vinh đã viết: “Quản lý Nhà nước trong quá trình xã
hội hóa văn hóa thể hiện ở việc thiết lập và thực thi các chính sách văn hóa
nhằm bảo trợ cho các hoạt động có ý nghĩa định hướng lâu dài cho nhu cầu,
chuẩn bị cho tương lai văn hóa của đất nước. Ví dụ tài trợ cho các hoạt động văn
cung ứng dịch vụ công. Nhà nước cần xây dựng hệ thống chỉ tiêu chất lượng
dịch vụ công để giám sát, kiểm tra, đánh giá hoạt động của các đơn vị cung cấp
dịch vụ công. Nhà nước cần định hướng phát triển, hướng tư nhân tham gia vào
những lĩnh vực mà tư nhân hoạt động có hiệu quả, tạo môi trường cạnh tranh
lành mạnh nhằm không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ công. Bởi vì Nhà
nước vẫn là người chịu trách nhiệm trước xã hội về số lượng và chất lượng dịch
vụ công.
Ở Việt Nam, Xã hội hóa cung ứng dịch vụ công là một tất yếu nhằm
giải quyết những mâu thuẫn mà Nhà nước hiện đang phải đối đầu. Cụ thể là:
- “Mâu thuẫn giữa khoản kinh phí bao cấp quá lớn về dịch vụ công với
ngân sách Nhà nước còn rất hạn hẹp…,
- Mâu thuẫn giữa khối lượng dịch vụ công mà Nhà nước cung ứng và
năng lực thực thi của bộ máy Nhà nước…,
- Mâu thuẫn giữa dân số tăng nhanh với khả năng cung ứng dịch vụ công
có hạn của Nhà nước…
Những mâu thuẫn trên cộng với những tiến bộ khoa học công nghệ trong
lĩnh vực dịch vụ, việc tăng đáng kể nhu cầu sử dụng dịch vụ công ở một bộ phận
dân cư có thu nhập cao trong xã hội, tính chất cạnh tranh của nền kinh tế thị
trường, xu hướng phi tập trung hóa các hoạt động Nhà nước… đã khiến cho
Nhà nước không thể tiếp tục bao cấp hoàn toàn đối với các dịch vụ công được
nữa”
1
.
Cũng tương như vậy, các nước cũng đã và đang tìm ra phương thức để
ngày càng mở rộng tính đa dạng và nâng cao chất lượng các dịch vụ công về
văn hóa.
Năm 2003, tác giả người Bungaria, Lidia Varbanova có bài nghiên cứu
tựa đề “Cấp vốn các hoạt động văn hóa ở Đông Nam Châu Âu” (Financing
cultural practices in South East Europe)
2
phức tạp của khu vực này. Sự suy giảm nguồn công quỹ cho các hoạt động văn
hóa từng được tài trợ trước đây đã làm gia tăng vai trò quan trọng của các nguồn
quỹ từ các tổ chức phi chính thức.
Năm 1998, tác giả Michihiro Watanabe trong tham luận đã nêu ở trên,
nhận định vấn đề cấp thiết đang đặt ra cho chính sách văn hóa của nhiều chính
phủ trên thế giới đó là vấn đề đầu tư tài chính cho việc mở rộng các hoạt động
sáng tạo, bởi vì các quỹ có sẵn hiện vẫn không thể đáp ứng nổi nhu cầu hưởng
thụ văn hóa ngày càng gia tăng của người dân. Trước đây, vào thập niên 1970
và 1980, chi tiêu công cho văn hóa tăng đáng kể ở nhiều nước phát triển. Sự
phồn vinh ở nhiều khu vực trên thế giới từng cho phép xã hội hỗ trợ việc phân
bổ nguồn lực cho các vấn đề văn hóa. Ở các nước đang phát triển, văn hóa từng
có một chỗ đứng trong ngân sách Nhà nước và chiếm một vị thế trong quá trình
phát triển. Tuy nhiên, thời kỳ vàng son này đã chấm dứt. Hầu hết các chính phủ
hiện đều đang trải qua giai đoạn trì trệ trong ngân sách đầu tư cho văn hóa. Tình
hình này đặc biệt nghiêm trọng tại các nước xã hội chủ nghĩa trước đây ở Đông
Âu và Trung Á, và tại các nước nghèo hơn ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh,
nơi mà căn bệnh thiếu thốn ngân sách cho khu vực văn hóa vẫn còn mãn tính.
25
Hệ quả là, các nhà hoạch định chính sách văn hóa và những người tham gia hoạt
động văn hóa trở nên bi quan đối với việc tìm kiếm nguồn lực từ khu vực công.
2. Quan điểm của Đảng, Nhà nƣớc về xã hội hóa
2.1 Quan điểm của Đảng
+ Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
- “Đổi mới cơ chế quản lý theo hướng xã hội hóa các hoạt động văn hóa -
thông tin
- Thực hiện phương châm xã hội hóa các hoạt động văn hóa, thông tin,
thể dục thể thao, y tế, dân số, kế hoạch hóa gia đình, giáo dục và các mặt xã hội
khác, hướng vào nâng cao chất lượng cuộc sống vật chất, tinh thần và thể lực
của nhân dân”
Quốc gia, Hà Nội, 1996.
2
Nguồn: />khoa-viii-ve-xay-dung-va-phat-trien-van-hoa.303883.html, cập nhật ngày 29/10/2010.
3
Nguồn: download ngày 22/02/2012.