VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-------- -------
NÔNG THỊ NHUNG
KỸ NĂNG GIAO TIẾP CỦA SINH VIÊN DÂN TỘC TÀY
Ở VÙNG ĐÔNG BẮC VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC
Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số: 62 31 04 01
Người hướng dẫ khoa học: PGS.TS. Nguyễn Thị Mai Lan
HÀ NỘI, 2016
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Giao tiếp có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hiệu quả hoạt động, hình
thành phẩm chất, năng lực, kỹ năng nghề nghiệp. Giao tiếp giúp cho mỗi cá nhân
trở nên tích cực, chủ động trong công việc của mình. Đối với sinh viên giao tiếp
có ý nghĩa hết sức quan trọng trong hoạt động học tập của các em tại trường đại
học. Bởi vì, nhờ có hoạt động giao tiếp giữa sinh viên với giảng viên, giữa sinh
viên với nhau, giữa sinh viên với lực lượng khác tham gia vào quá trình đào tạo
các em sẽ nắm bắt được các tri thức khoa học, các kỹ năng nghề nghiệp, nắm bắt
cần có những giải pháp nào để nâng cao kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập
trên lớp cho sinh viên dân tộc Tày? Do vậy, việc nghiên cứu kỹ năng giao tiếp
trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên dân tộc Tày có ý nghĩa lý luận và
thực tiễn tốt. Về lý luận, kết quả nghiên cứu của đề tài có thể góp thần bổ sung
một số vấn đề lý luận về kỹ năng giao tiếp của sinh viên dân tộc Tày trong tâm lý
học dân tộc ở nước ta. Về thực tiễn, kết quả nghiên cứu góp phần làm cơ sở để
giúp sinh viên dân tộc Tày nâng cao kỹ năng giao tiếp với giảng viên, sinh viên
cùng lớp trong hoạt động học tập tại trường đại học nhằm nâng cao hiệu quả học
tập của các em.
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi chọn đề tài: “Kỹ năng giao tiếp của
sinh viên dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc Việt Nam” để nghiên cứu.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng kỹ năng giao tiếp trong hoạt
động học tập trên lớp của sinh viên dân tộc Tày vùng Đông Bắc Việt Nam, đề xuất
một số biện pháp tác động tâm lý sư phạm nhằm nâng cao kỹ năng giao tiếp trong
hoạt động học tập trên lớp cho sinh viên dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc Việt Nam.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
3
2.2.1. Xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu về kỹ năng và kỹ năng giao tiếp trong
hoạt động học tập trên lớp của sinh viên dân tộc Tày. Cụ thể như: Làm rõ các xu
hướng nghiên cứu về kỹ năng, kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập của sinh
viên; các khái niệm công cụ (kỹ năng, kỹ năng giao tiếp, sinh viên dân tộc Tày,
hoạt động học tập trên lớp, kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của
sinh viên dân tộc Tày); Biểu hiện của kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập
trên lớp của sinh viên dân tộc Tày; Tiêu chí đánh giá và mức độ của kỹ năng giao
tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên dân tộc Tày; Các yếu tố ảnh
hưởng đến kỹ năng giao tiếp của sinh viên dân tộc Tày.
SVDTT: Gia đình, nhà trường, cộng đồng.
3.2.2.Giới hạn về phạm vi địa bàn nghiên cứu
Luận án sẽ tập trung nghiên cứu tại vùng Đông Bắc Việt Nam. Trong đó,
nghiên cứu được thực thiện chính thức tại tỉnh Tuyên Quang và tỉnh Thái Nguyên.
Bởi vì, đây là hai tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam, có 2 trường Đại học Vùng
lớn nhất (trường Đại học Sư phạm, Đại học Thái Nguyên và trường Đại học Tân
Trào, tỉnh Tuyên Quang). Tại 2 trường đại học này theo số liệu thống kê có số
lượng sinh viên dân tộc Tày đang theo học đông nhất.
3.2.3. Giới hạn về phạm vi khách thể điều tra, khảo sát của luận án
Luận án tiến hành điều tra khảo sát trên tổng số: 500 khách thể. Trong đó.
Tại trường Đại học Tân Trào nghiên cứu: 250 sinh viên; Trường Đại học Sư phạm,
Đại học Sư phạm Thái Nguyên: 250 sinh viên.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp luận nghiên cứu
Nghiên cứu kỹ năng giao tiếp của sinh viên dân tộc Tày, đề tài xuất phát từ
các nguyên tắc phương pháp luận sau:
a) Nguyên tắc tâm lý học hoạt động: Kỹ năng giao tiếp của sinh viên dân
tộc Tày được hình thành trong quá trình hành động, hoạt động của sinh viên. Do
5
vậy để đánh giá được kỹ năng giao tiếp của sinh viên cần quan sát và đánh giá
bằng kết quả hành động, hoạt động của sinh viên
b) Nguyên tắc hệ thống: Kỹ năng giao tiếp là rất phức tạp và đa dạng, được
coi là một hệ thống gồm các cấu thành có mối quan hệ chặt chẽ tác động qua lại
lẫn nhau. Kỹ năng giao tiếp được thể hiện qua từng kỹ năng cụ thể với tư cách là
biểu hiện của từng kỹ năng. Nên để đánh giá kỹ năng giao tiếp của sinh viên cần
đánh giá một cách tổng thể, khái quát trong toàn bộ các kỹ năng chứ không thể dựa
vào một kỹ năng riêng lẻ. Nghiên cứu kỹ năng giao tiếp của sinh viên dân tộc Tày
trong mối quan hệ tác động qua lại với các yếu tố tính cách cá nhân, vốn kinh
6.1. Về mặt lý luận
Hiện nay những nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp của sinh viên dân tộc Tày
chưa được nghiên cứu nhiều. Luận án góp phần làm sáng tỏ hơn lý luận về kỹ năng
giao tiếp trong hoạt động học tập trên lớp của sinh viên dân tộc Tày. Đồng thời kết
quả của luận án là cơ sở góp phần vào việc xây dựng tâm lý học dân tộc ở nước ta.
6.2. Về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ thực hiện kỹ năng giao tiếp trong
HĐHT trên lớp của SVDTT chỉ đạt ở mức trung bình. Như vậy cần nâng cao kỹ
năng giao tiếp trong HĐHT trên lớp cho SVDTT để đạt được kết quả cao trong học
tập
Luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho việc phục vụ nâng cao kỹ năng
giao tiếp trong HĐHT trên lớp cho SVDTT.
7. Cơ cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ
lục. Luận án gồm 4 chương.
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề kỹ năng học tập trên lớp
của sinh viên
Chương 2: Cơ sở lý luận nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp trong hoạt động
7
học tập trên lớp của sinh viên dân tộc Tày
Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn kỹ năng giao tiếp trong hoạt động
học tập trên lớp của sinh viên dân tộc Tày vùng Đông Bắc Việt Nam
8
Chương 1
muốn thực hiện được một hành động, phải hiểu được mục đích, phương thức và
điều kiện để thực hiện nó. Vì vậy, nếu ta nắm được các tri thức về hành động, thực
hiện được nó trong thực tiễn theo các yêu cầu khác nhau tức là ta đã có kỹ năng
hành động. Muốn phát triển kỹ năng, cá nhân phải có quá trình học tập và củng cố
bằng luyện tập hành động trong thực tiễn.
- Các nhà nghiên cứu đại diện cho xu hướng thứ hai gồm các tác giả A.D. Lêvitov
[66, tr.3]; X.I. Kixegov [59]. Các nhà khoa học này cho rằng, khi xem xét khái
niệm kĩ năng cần xem kỹ năng là kỹ thuật hành động và là một năng lực hoặc là
một biểu hiện năng lực của con người. Kỹ năng vừa có tính ổn định, vừa có tính
linh hoạt, mềm dẻo. Việc xem xét kỹ năng với tư cách là năng lực hoạt động của cá
nhân yêu cầu không chỉ phân tích mặt kỹ thuật của hành động mà còn nghiên cứu
các yếu tố nhân cách khác có liên quan đến việc triển khai hành động. Theo hướng
này có các tác giả như Với hai xu hướng cơ bản nghiên cứu về kỹ năng nêu dẫn ở
trên, các nhà nghiên cứu đã kế thừa và vận dụng nó vào việc nghiên cứu kỹ năng
trong các hoạt động nghề nghiệp cụ thể, kỹ năng trong hoạt động học tập,…
* Hướng nghiên cứu thực tiễn về kỹ năng
Hướng nghiên cứu này thu hút được rất nhiều nhà khoa học khác nhau tham
gia nghiên cứu. Các nhà khoa học đã tập trung vào việc tiến hành các nghiên cứu
thực tiễn về kỹ năng. Trong đó, có các hướng nghiên cứu thực tiễn về kỹ năng
trong từng loại hình nghề nghiệp nhất định như: kỹ năng nghề dạy học, kỹ năng
nghề luật sư, kỹ năng nghề cảnh sát,… Một số nhà nghiên cứu khác lại tập trung
vào các nghiên cứu liên quan đến kỹ năng tập của học sinh, sinh viên,… Dưới đây
chúng tôi sẽ nêu dẫn từng hướng nghiên cứu thực tiễn về kỹ năng:
- Hướng nghiên cứu về kỹ năng nghề nghiệp
10
Đã có một số công trình nghiên cứu về kỹ năng nghề nghiệp cụ thể, trong đó
có các nghiên cứu về kỹ năng nghề nghiệp nói chung, kỹ năng của giáo viên, kỹ
năng của các nhà tư vấn,... Đại diện cho hướng nghiên cứu này có các tác giả như:
nhấn mạnh sự khác biệt giữa kỹ năng hoạt động sư phạm với kỹ năng lao động sản
xuất về quá trình hình thành, nhất là về đối tượng hoạt động. Ông đã chia quá trình
hình thành kỹ năng hoạt động sư phạm thành 5 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Giới thiệu cho sinh viên về những hoạt động sắp phải thực hiện như
thế nào.
- Giai đoạn 2: Trình bày, diễn đạt các quy tắc lĩnh hội hoặc tái hiện lại những hiểu
biết cơ bản, nền tảng mà dựa vào đó kỹ năng, kỹ xảo được hình thành.
- Giai đoạn 3: Trình bày mẫu hành động.
- Giai đoạn 4: Sinh viên tiếp thu hành động qua thực tiễn.
- Giai đoạn 5: Đưa ra hệ thống các bài tập độc lập [59]
1.1.2. Các hướng nghiên cứu trên thế giới về giao tiếp
Là một phạm trù trung tâm trong tâm lý học, giao tiếp đã được đề cập tới từ
rất lâu, thu hút được rất nhiều nhà nghiên cứu nói chung và các nhà tâm lý học nói
riêng tập trung nghiên cứu.
Ngay từ thời cổ đại các nhà triết học như: Platon (428-347, Socrat (460-399)
đã nói tới đối thoại như là sự giao tiếp trí tuệ, phản ánh mối quan hệ giữa con
người với con người [dẫn theo 71]
Sang thế kỷ XVIII, nhà triết học Hà Lan M.P.Hemxtec - Lôxis trong tiểu
luận “Một bức thư về con người và các quan hệ của nó với người khác” đã quan
tâm đến mối quan hệ giữa con người với con người - mối quan hệ giữa cái tôi với
cái tôi khác [dẫn theo 71].
Thế kỷ XIX, C.Mác trong tác phẩm “Bản thảo kinh tế - triết học” đã có tư
tưởng về nhu cầu giao tiếp giữa con người với con người, coi giao tiếp như là “khí
12
quan xã hội”, thông qua giao tiếp con người có thái độ đối với chính bản thân mình
và đối với người khác. Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, C.Mác - Ph.Ănghen
nhấn mạnh về sự tác động qua lại giữa cá nhân và xã hội, về vai trò của giao tiếp
trong sự hình thành bản chất xã hội của con người [76]. Đa phần các quan điểm về
Người khởi xướng là B.Ph.Lômôv. Theo B.Ph.Lômôv, “Giao tiếp là hình
thức độc lập và đặc thù của tính tích cực của chủ thể”, “Giao tiếp là hình thái
đặc trưng của sự tác động qua lại giữa người này và người khác như là tác động
qua lại của các chủ thể” [73].
B.Ph.Lômôv đã chỉ ra, nếu theo quan điểm của A.N.Lêônchiev, khách thể
hoạt động giao tiếp là con người; nói cách khác, một cá nhân có thể vừa là chủ
thể vừa là khách thể của hoạt động giao tiếp. Nhưng khách thể này - theo
B.Ph.Lômôv - lại hết sức đặc biệt, vì mỗi người khi tham gia giao tiếp sẽ quan
hệ với người cùng giao tiếp với mình với tư cách là một chủ thể có tâm lý ý
thức. Bởi thế “Việc đặt hoạt động trong quan hệ với nó ngang hàng các khách
thể “khô khan” (vật chất) là việc làm rất khó khăn”.
Mặt khác, cần phải thấy rằng, nếu xét theo tiêu chí hoạt động thì khó có thể
xác định được kết quả giao tiếp, vì kết quả này ở các cá nhân khác nhau có thể rất
khác nhau về số lượng và chất lượng; thậm chí đôi khi “chỉ với một thời gian giao
tiếp ngắn ngủi với người này hoặc người khác (hoặc nhóm người) có ảnh hưởng
đến sự phát triển tâm lý cá nhân nhiều hơn rất nhiều so với thực hiện lâu dài một
hoạt động có đối tượng nào đó của người đó”. Cũng theo B.Ph.Lômôv một trong
những đặc trưng cơ bản của giao tiếp là “truyền đạt - nhận thông tin”; “quá trình
giao tiếp là quá trình trao đổi các ý đồ, các tư tưởng, các hình tượng…” [73].
Chính trong giao tiếp các chủ thể giới thiệu cho nhau các kết quả của phản ánh tâm
lý.
Khi nhấn mạnh những khác biệt về chất giữa giao tiếp và hoạt động
14
B.Ph.Lômôv không đối lập hai phạm trù này với nhau. Theo B.Ph.Lômôv, giao
tiếp và hoạt động “gắn bó mật thiết với nhau”, “chúng có thể chuyển tiếp và
chuyển hoá” từ mặt này vào mặt khác. “Giao tiếp có thể đóng vai trò tiền đề, điều
kiện, là yếu tố bên ngoài và bên trong của hoạt động và ngược lại”. “Trong một
vài hoạt động với tư cách là phương tiện và các phương thức của hoạt động, các
+ Cái gì (được truyền đạt) - Thông báo;
+ Như thế nào (việc truyền đạt được thực hiện) - Kênh liên lạc;
+ Cho ai (thông tin hướng đến) - Người nhận;
+ Với tác dụng gì - tính hiệu quả.
Ngoài ra, có thể hàng loạt các nghiên cứu khác về giao tiếp theo hướng
này. Chẳng hạn Perdonici, cho rằng “Giao tiếp là một sự trao đổi hai chiều, một
quá trình khép kín”. Thines và cộng sự đề cập tới “vấn đề tổ chức kênh để cho
con đường liên lạc thực hiện được phần nhiệm vụ của nó trong giao tiếp”. .
Weaver, nhà ngôn ngữ học (1982) khi xây dựng mô hình về giao tiếp đã quan
tâm đến các yếu tố như “nguồn thông tin, để phân biệt bộ phát, tiếng ồn, ngữ
nghĩa trong bản thông điệp, nguồn gốc tiếng ồn gây ra sự chênh lệch giữa
thông tin phát đi và thông tin thu được, bộ thu ngữ nghĩa” [dẫn theo 96 tr 12
-16, 64-79].
Nhìn chung, khi coi giao tiếp là quá trình truyền thông tin, các nhà nghiên
cứu đã gạt bỏ yếu tố tâm lý cá nhân, văn hoá xã hội ra khỏi quá trình giao tiếp, làm
cho quá trình giao tiếp trở nên đơn giản hoá. Điều này giúp các nhà nghiên cứu có
điều kiện đi sâu vào khía cạnh trao đổi thông tin, nhưng họ lại thiếu cái nhìn toàn
diện về giao tiếp.
- Nhóm thứ tư: Nghiên cứu giao tiếp theo từng chuyên ngành hẹp của tâm lý
học hoặc theo tính chất và đặc trưng nghề nghiệp.
Các nhà nghiên cứu theo quan điểm này đã đi sâu nghiên cứu giao tiếp theo
16
từng lĩnh vực của tâm lý học như: tâm lý học sư phạm, tâm lý học xã hội, tâm lý
học trẻ em và, tâm lý học y học, tâm lý học quản lý v.v.
* Hướng thứ hai: nghiên cứu giao tiếp ứng dụng
Với hướng nghiên cứu giao tiếp ứng dụng, các nhà nghiên cứu đã áp dụng
tâm lý học giao tiếp vào giải quyết các vấn đề của cuộc sống thường ngày như:
chăm sóc sức khoẻ, tư vấn, những quan hệ cá nhân, những vấn đề chính trị… Một
quan xã hội”, thông qua giao tiếp con người có thái độ đối với chính bản thân mình
và đối với người khác. Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, C.Mác - Ph.Ănghen
nhấn mạnh về sự tác động qua lại giữa cá nhân và xã hội, về vai trò của giao tiếp
trong sự hình thành bản chất xã hội của con người [76]. Đa phần các quan điểm về
giao tiếp mang nặng tính triết học, giao tiếp chưa thực sự được nghiên cứu dưới
góc độ Tâm lý học.
Tuy nhiên nhìn chung khi bàn về giao tiếp hầu hết các tác giả đều nhấn
mạnh mặt kỹ năng giao tiếp. Đã có rất nhiều hướng nghiên cứu về kỹ năng giao
tiếp.
* Nghiên cứu kỹ năng giao tiếp dựa trên tính chất của tổ chức
Xu hướng này nghiên cứu phổ biến ở Phương Tây, đặc biệt là ở Mỹ. Tác giả
Robert N. Lusier cho rằng kỹ năng giao tiếp cá nhân rất quan trọng trong các mối
quan hệ của tổ chức. Kỹ năng giao tiếp cho phép bạn đạt được những mục tiêu cá
nhân cũng như những mục tiêu của tổ chức. Robert N Lusier đưa ra kỹ năng giải
quyết xung đột, kỹ năng lắng nghe, Kỹ năng làm chủ cảm xúc bản thân, kỹ năng
tạo ấn tượng ban đầu, kỹ năng suy nghĩ tích cực là cơ sở để thích nghi với tổ chức
[134].
Kitty O Locker nghiên cứu giao tiếp trong lĩnh vực hành chính và kinh
doanh diễn ra dưới nhiều hình thức như giao tiếp bàng điện thoại, email, giao tiếp
trực tiếp... yêu cầu người nhân viên phải có những kỹ năng giao tiếp tương ứng để
18
giao tiếp với cán bộ quản lý trực tiếp, đồng nghiệp, khách hành đến làm việc... Tác
giả nhấn mạnh các kỹ năng giao tiếp: kỹ năng viết, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng
trình bày có liên quan chặt chẽ đến hiệu quả hoạt động của lĩnh vực này [127] .
9 yếu tố được ông đưa ra như là những chỉ dẫn ảnh hưởng quyết định đến mối
quan hệ trong tổ chức: thái độ tích cực lạc quan, gọi người giao tiếp bằng tên riêng,
luôn mỉm cười, sẵn lòng giúp đỗ, biết quan tâm đến người khác, biết lắng nghe,
suy nghĩ trước khi hành động.
J.sean.MCleneghan đánh giá tầm quan trọng của các kỹ năng trong mối quan
hệ giữa con người với con người: Kỹ năng nhận thức các vấn đề xã hội, Kỹ năng
quản lý thời gian, Kỹ năng nói, Kỹ năng nghe, kỹ năng thuyết phục, kỹ năng đọc
hiểu, kỹ năng thuyết phục [dẫn theo 53].
Judy C.Pearson và Brian H.Spitzberg phân tích sâu vai trò của kỹ năng lắng
nghe như là một biểu hiện sinh động nhất của việc làm chủ các kỹ năng giao tiếp
của cá nhân trong viêc thiếp lập quan hệ [126]. Việc chỉ ra các rào cản làm ảnh
hưởng đến chất lượng lắng nghe giúp mỗi cá nhân thực hiện tốt hơn kỹ năng này
để đảm bảo thành công cho giao tiếp.
Willam B.Gudykunst cho rằng kỹ năng giao tiếp là năng lực của cá nhân
trong việc thực hiện các hành vi giao tiếp phù hợp, có hiệu quả [139]. Ông đã đề
cao 4 kỹ năng giao tiếp cần có để giao tiếp hiệu quả, thành công là: biết đồng cảm,
biết thích ứng, biết đưa ra những phán đoán chính xác, biết quan tâm đến đối tượng
giao tiếp.
John Stewart cho rằng yếu tố đảm bảo cho sự thành công trong giao tiếp
liên cá nhân là kỹ năng tự nhận thức và kỹ năng lắng nghe, kỹ năng tạo ấn tượng
ban đầu, kỹ năng sử dụng các phương tiện giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ
[125].
*Nghiên cứu kỹ năng giao tiếp theo hướng thông qua sự kết hợp của phương tiện
giao tiếp bằng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ
20
Có rất nhiều nhà tâm lý học nghiên cứu kỹ năng giao tiếp theo hường này
Robert N.Lusier đồng nhất khái niệm giao tiếp với phương tiện truyền tải
thông điệp. Ông đã đưa ra 3 phương tiện cơ bản là: ngôn ngữ viết, ngôn ngữ nói,
phi ngôn ngữ [134].
Các tác giả: E.G.Horton, D.Brown chia kỹ năng giao tiếp thành 2 kỹ năng
đó là: kỹ năng nghe và kỹ năng biểu cảm không lời. Kỹ năng nghe được các ông
đánh giá quan trọng nhất vì hiệu quả của lắng nghe sẽ ảnh hưởng đến sự biểu cảm.
theo tính chất và đặc trưng nghề nghiệp. Các nhà tâm lý học tập trung vào việc
thực hiện các nghiên cứu thực tiễn về giao tiếp ứng dụng. Trong đó, các nhà
nghiên cứu đã áp dụng tâm lý học giao tiếp vào giải quyết các vấn đề của cuộc
sống thường ngày như: chăm sóc sức khoẻ, tư vấn, những quan hệ cá nhân, những
vấn đề chính trị… Một số nhà nghiên cứu còn viết sách dạy nghệ thuật trong việc
giao tiếp với từng đối tượng cụ thể: giao tiếp với người lạ, giao tiếp với bạn bè,
giao tiếp với đồng nghiệp, với người khác giới, với khách hàng, với người không
thân thiết…
- Các hướng nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp: Các nhà tâm lý học tập trung
vào việc nghiên cứu các vấn đề lý luận của giao tiếp tập trung vào việc chứng minh
các vấn đề lý luận và thực tiễn về: các kỹ năng giao tiếp dựa trên tính chất của tổ
chức; kỹ năng giao tiếp theo hướng tập chung phân tích mối quan hệ liên cá nhân;
kỹ năng giao tiếp theo hướng thông qua sự kết hợp của phương tiện giao tiếp bằng
ngôn ngữ và phi ngôn ngữ.
Như vậy, có thể nhận thấy rằng, trên thế giới đã có rất nhiều nhà tâm lý học
đi sâu nghiên cứu các vấn đề như: kỹ năng, giao tiếp, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng
giao tiếp trong hoạt động nghề nghiệp và hoạt động học tập cảu học sinh, sinh
viên. Điều này khẳng định chắc chắn rằng, đây là vấn đề nghiên cứu có ý nghĩa lý
luận và thực tiễn tốt và vẫn là vấn đề nghiên cứu có tính mới, tính thời sự cần được
giải quyết.
22
1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu ở Việt Nam về kỹ năng giao tiếp của sinh
viên trong hoạt động học tập
1.2.1 Các hướng nghiên cứu ở Việt Nam về kỹ năng
Vấn đề kỹ năng được quan tâm nghiên cứu ở Việt Nam từ nhiều thập kỷ
nay. Cho đến nay các nhà nghiên cứu ở Việt Nam cũng thường tập chung vào các
khuynh hướng sau:
*Kỹ năng là mặt kỹ thuật thao tác, hành động hay hoạt động
Từ điển Tâm lý học - Vũ Dũng (chủ biên) định nghĩa như sau: “Kỹ năng là
năng lực vận dụng có kết quả tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể
lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng” [29, tr132].
Nguyễn Quang Uẩn, Trần Quốc Thành và một số tác giả khác cũng coi kỹ năng
là một mặt năng lực của con người thực hiện một công việc có kết quả [105], [113].
Lê Văn Hồng cho rằng: Kỹ năng là khả năng vận dụng kiến thức để giải
quyết một nhiệm vụ mới. Bất cứ kỹ năng nào cũng phải dựa trên cơ sở kiến thức.
Muốn kiến thức là cơ sở của kỹ năng thì kiến thức đó phải phản ánh đầy đủ thuộc
tính bản chất được thử thách trong thực tiễn và tồn tại trong ý thức với tư cách là
công cụ của hành động [50, tr.131].
Tác giả Bùi Thị Xuân Mai,...khi nghiên cứu kỹ năng không chỉ dừng lại ở
tiêu chí kết quả chính xác mà còn xét tới yếu tố thái độ, động cơ của cá nhân trong
thực hiện hành động có kỹ năng đó. Tác giả cho rằng để thực hiện kỹ năng cá nhân
cần nắm rõ các tri thức hành động, bao gồm mục đích, yêu cầu thao tác, kỹ thuật
hành động, phương thức thực hiện và vận dụng và hoạt động thực tiễn trong điều
kiện cụ thể. Tác giả định nghĩa : Kỹ năng là sự vận dụng đúng đắn những tri thức,
giá trị (thái độ) liên quan vào hoạt động hay hành động thực tiễn trong điều kiện cụ
thể để thực hiện hành động hay hoạt động có kết quả [57].
24
Theo Nguyễn Thị Thúy Hạnh (2011) ‘‘Kỹ năng là khả năng vận dụng có kết
quả những tri thức, kinh nghiệm vào hành động để giải quyết nhiệm vụ”. [44, tr
22]. Tác giả Đỗ Văn Đoạt khi nghiên cứu về kỹ năng ứng phó với stress trong hoạt
động học tập theo tín chỉ của sinh viên đại học sư phạm cho rằng: Kỹ năng là sự
vận dụng tri thức, kinh nghiệm vào hoạt động cụ thể nhằm thực hiện hiệu quả hoạt
động đó. Với quan niệm này, tavs giả cho rằng: Kỹ năng được biểu hiện trong
hành động và hoạt động của cá nhân qua các thao tác; kỹ năng là sự vận dụng các
kinh nghiệm, tri thức phù hợp với điều kiện hoạt động; sự vận dụng phải đem lại
hiệu quả cho hoạt động [33, tr19].