B GIO DC V O TO
I HC HU
B Y T
TRNG I HC Y - DC
NGễ VN VINH
Nghiên cứu tình hình thực hiện kế hoạch hoá gia đình
ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ 15-49 tuổi tại
huyện Hơng Trà tỉnh Thừa Thiên-Huế năm 2009
LUN VN BC S CHUYấN KHOA CP I
Ngi hng dn khoa hc:
TS. Vế VN THNG
HU, 2010
KÝ HIỆU VIẾT TẮT
BYT
BPTT
BPTTTT
BCS
CTV
DMPA
DS-KHHGĐ
KHHGĐ
SKSS/KHHGĐ
1.1.1. Khái niệm kế hoạch hoá gia đình............................................................3
1.1.2. Lịch sử của tránh thai và KHHGĐ..........................................................3
1.1.3. Lợi ích của KHHGĐ................................................................................4
1.1.4. Dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản - KHHGĐ.....................................6
1.1.5. Các biện pháp tránh thai..........................................................................6
1.2. TÌNH HÌNH DÂN SỐ VÀ KẾ HOẠCH HOÁ GIA ĐÌNH.....................11
1.2.1. Tình hình dân số-kế hoạch hoá gia đình thế giới:.................................11
1.2.2. Tình hình dân số- kế hoạch hoá gia đình trong nước............................13
1.2.3. Tình hình thực hiện Dân số-KHHGĐ tỉnh Thừa Thiên Huế.................16
1.2.4. Tình hình thực hiện công tác dân số-KHHGĐ của Huyện Hương Trà. 17
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU..............20
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU..................................................................20
2.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU.....................................................................20
2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU............................................................20
2.3.1.Thiết kế nghiên cứu................................................................................20
2.3.2. Kỹ thuật và tiến hành thu thập thông tin...............................................24
2.3.3. Các chỉ số đánh giá................................................................................27
2.4. XỬ LÝ SỐ LIỆU......................................................................................28
2.5. ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU......................................................................28
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.........................................................29
3.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU....................29
3.1.1. Số người điều tra phân bố theo xã.........................................................29
3.1.2. Phân bố theo tuổi...................................................................................30
3.1.3. Phân bố theo nghề nghiệp .....................................................................31
3.1.4. Phân bố theo trình độ học vấn...............................................................31
3.1.5. Phân bố theo tôn giáo............................................................................32
3.1.6. Phân bố theo kinh tế..............................................................................32
3.2. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CÁC BIỆN PHÁP TRÁNH THAI CỦA
4.2.1. Nghe biết về biện pháp tránh thai..........................................................47
4.2.2. Áp dụng các biện pháp tránh thai..........................................................49
4.3. TỶ LỆ SINH CON THỨ BA TRỞ LÊN VÀ CÁC YẾU TỐ
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC SINH CON THỨ 3 TRỞ LÊN...............51
4.3.1. Tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên..................................................................51
4.3.2. Lý do sinh con thứ ba trở lên.................................................................52
4.3.3. Tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên theo nhóm tuổi của bà mẹ.......................53
4.3.4. Tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên theo nhóm tuổi kết hôn của bà mẹ..........53
4.3.5. Tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên theo trình độ học vấn...............................54
4.3.6. Tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên theo nghề nghiệp.....................................55
4.3.7. Tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên theo tôn giáo............................................55
4.3.8. Tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên theo vùng địa dư......................................56
4.3.9. Tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên theo kinh tế..............................................56
4.3.10. Tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên theo áp dụng BPTT...............................57
4.3.11. Vỡ kế hoạch.........................................................................................27
KẾT LUẬN....................................................................................................58
KIẾN NGHỊ...................................................................................................60
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1. Tỷ lệ người điều tra phân bố theo xã..........................................29
Bảng 3.2. Phân bố theo tuổi........................................................................30
Bảng 3.3. Phân bố theo nghề nghiệp ..........................................................31
Bảng 3.4. Phân bố theo trình độ học vấn.....................................................31
Bảng 3.5. Phân bố theo tôn giáo..................................................................32
Bảng 3.6. Phân bố theo kinh tế....................................................................32
Biểu đồ 3.6. Tỷ lệ áp dụng các biện pháp tránh thai ..................................35
Biểu đồ 3.7. Tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên..................................................36
Biểu đồ 3.8. Lý do sinh con thứ ba trở lên.................................................37
Biểu đồ 3.8. Tỷ lệ sinh con theo nhóm tuổi của bà mẹ...............................38
Biểu đồ 3.9. Tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên theo vùng địa dư.......................41
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1. Một số hình ảnh về dụng cụ tử cung..............................................9
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nghị quyết 04-NQ/HNTW ngày 14 tháng 10 năm 1993 của Hội nghị lần
thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá VII đã chỉ
rõ: “Công tác Dân số - Kế hoạch hoá gia đình là một bộ phận của chiến lược
phát triển đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế - xã hội hàng đầu của
nước ta, là một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng
người, từng gia đình và toàn xã hội” [1].
Nghị quyết 47-NQ/TW ngày 23 tháng 3 năm 2005 của Ban Chấp hành
Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện
chính sách Dân số- Kế hoạch hoá gia đình đã khẳng định: "Tiếp tục quán triệt
và cương quyết thực hiện các quan điểm cơ bản của Nghị quyết Hội nghị lần
thứ tư Ban chấp hành Trung ương khoá VII [2].
Năm 2000, Thủ Tướng Chính phủ có Quyết định số 147/2000/QĐ-TTg về
việc phê duyệt Chiến lược dân số Việt Nam giai đoạn 2001-2010. Đây được coi
là một bước ngoặt quan trọng của chính sách hiện hành về công tác Dân số - Kế
hoạch hoá gia đình. Đầu tư cho chương trình mục tiêu về Dân số - Kế hoạch
hoá gia đình, đảm bảo đến mức cao hơn nhiều hơn so với trước đây [30].
Sau gần 10 năm triển khai thực hiện Quyết định số 147/2000/QĐ-TTg , cùng
trong độ tuổi sinh đẻ 15-49 tuổi;
2. Xác định tỷ lệ và các yếu tố liên quan đến việc sinh con thứ ba trở lên
tại huyện Hương Trà .
3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. CÁC KHÁI NIỆM
1.1.1. Khái niệm kế hoạch hoá gia đình
Theo định nghĩa của Tố chức Y tế thế giới (TCYTTG) thì kế hoạch hoá
gia đình (KHHGĐ) bao gồm những vấn đề để thực hiện giúp cho các cá nhân
hay cặp vợ chồng để đạt được những mục tiêu: tránh những trường hợp sinh
không mong muốn; điều hoà khoảng cách giữa các lần sinh; chủ động thời
điểm sinh con cho phù hợp tuổi của bố mẹ [35].
Như vậy, KHHGĐ là sự cố gắng có ý thức của các cặp vợ chồng nhằm
điều chỉnh số con và khoảng cách sinh con. KHHGĐ không những chỉ bao hàm
việc lựa chọn các biện pháp để tránh thai (BPTT) mà còn là những cố gắng của
các cặp vợ chồng để có thai và sinh con [35].
1.1.2. Lịch sử của tránh thai và KHHGĐ
Trong suốt quá trình lịch sử, nam giới và phụ nữ luôn quan tâm đến việc
tránh thai (có nghĩa là "chống lại việc thụ thai"), hay tránh có thai bằng cách
ngăn không cho tinh trùng kết hợp với trứng. Từ thời cổ đại, người Ai Cập đã
đặt phân cá sấu vào trong âm đạo của người phụ nữ để ngăn không cho tinh
dịch di chuyển qua cổ tử cung; người Do Thái sử dụng biện pháp phá vỡ sự liên
tục của giao hợp (rút dương vật ra khỏi âm đạo trước khi xuất tinh); đến ngày
nay con người có các thuốc tránh thai dạng uống, triệt sản... Tóm lại, con người
luôn tìm cách để tránh thụ thai. Trong những thập niên gần đây, các nhà khoa
học mới phát triển các phương pháp đáng tin cậy hơn để tránh mang thai. Tuy
thể chất của cả mẹ lẫn con. Đối với hầu hết phụ nữ, trong những năm sinh
sản đầu (khoảng từ 20 đến 39 tuổi) mang thai và sinh con là việc khá an
toàn. Nhưng đối với những phụ nữ lớn hơn hay nhỏ hơn tuổi đó, hay những
phụ nữ sinh con dày (có nghĩa ít hơn 2 năm lại sinh một lần), thì nguy cơ gặp
5
tai biến sản khoa là khá cao: tử vong ở trẻ sơ sinh, gây tử vong ở mẹ. Ví dụ,
trẻ em do phụ nữ trên 40 tuổi hay dưới 19 tuổi sinh ra có nguy cơ nhẹ cân
cao, và do đó chúng dễ bị các khiếm khuyết khác nhau khi sinh, thậm chí có
thể bị tử vong. Ở trường hợp sau (phụ nữ sinh con khi chưa được 19 tuổi),
ước tính ở Mỹ có khoảng gần 1 triệu nữ thanh thiếu niên mang thai mỗi năm,
và tỷ lệ em bé sinh ra bởi những người mẹ này có cân nặng dưới 2,5 kg là rất
nhiều. Tuy nhiên, không phải tất cả các phụ nữ trên 40 tuổi và dưới 19 tuổi
mang thai đều dẫn đến những vấn đề này mà chúng tôi chỉ muốn nói nguy cơ
gặp vấn đề này cao.
KHHGĐ cũng có thể giúp đảm bảo sức khoẻ tâm lý cho bà mẹ và các
thành viên khác trong gia đình. Cả việc sinh con lẫn trở thành cha mẹ đều là
những vấn đề quan trọng và căng thẳng trong cuộc sống. Hơn nữa, làm cha mẹ
là một sự cam kết lâu dài về mặt tình cảm, xã hội và tài chính. Chọn thời điểm
thích hợp để có con là việc làm quan trọng nhất mà hai vợ chồng có thể làm để
giảm bớt những căng thẳng về tình cảm liên quan đến việc mang thai và làm
cha mẹ.
Theo tuyên bố UNFPA nhân Ngày Dân số Thế giới năm 2008 đã khẳng
định: “Lợi ích của KHHGĐ không chỉ bó gọn trong cuộc đời của chúng ta mà
còn cho cả gia đình và dân tộc” và đưa ra 3 lý do phải KHHGĐ đó là: (1)
KHHGĐ cứu sống sinh mạng con người, là biện pháp can thiệp có tác động lớn
giúp nâng cao sức khoẻ phụ nữ (2) KHHGĐ đóng vai trò quan trọng trong việc
tạo quyền năng cho phụ nữ và bình đẳng giới (3) KHHGĐ là biện pháp hiệu
xã hội và kinh tế cho cán bộ y tế để họ có thể làm tốt nhất [43].
1.1.5. Các biện pháp tránh thai
1.1.5.1. Về biện pháp tránh thai
- Các biện pháp tránh thai hiện đại (BPTTHĐ): triệt sản, đặt dụng cụ tử
cung, thuốc tránh thai, bao cao su.
- Các biện pháp tránh thai truyền thống (BPTTTT): phương pháp giao
hợp định kỳ (phương pháp vòng kinh), phương pháp giao hợp ngắt quãng (xuất
tinh ngoài âm đạo).
7
- Biện pháp hàng rào: tạo một hàng rào ngăn cản sự hoạt động của tinh trùng:
+ Bao cao su: dành cho nam giới sử dụng, bên cạnh việc ngăn tinh trùng
xâm nhập vào đường sinh dục nữ trong hành động giao hợp, còn góp phần ngăn
chặn sự lây truyền các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Bao cao su thế hệ
mới còn được tẩm thêm hoá chất diệt tinh trùng, góp phần nâng cao khả năng
ngừa thai.
+ Hoá chất diệt tinh trùng: cho tới hiện nay, phổ biến nhất vẫn là
Nonoxynol-9, với nhiều loại dạng sản phẩm như kem bôi, viên đặt âm đạo,
miếng xốp (sponge) hay tấm phim. Hoá chất này khi vào âm đạo sẽ tạo một
môi trường dịch sệt, có tác dụng làm đông tinh dịch, bất hoạt khả năng của tinh
trùng. Rải rác, vẫn có trường hợp có thụ thai sau khi sử dụng hoá chất diệt tinh
trùng (do cách dùng sai hay do chất lượng sản phẩm không đảm bảo). Tuy
nhiên, các quan sát đều cho thấy chưa có tình trạng bất thường nào của thai nhi
được phát hiện. Biện pháp này khá hiệu quả và tiện lợi, kèm theo khả năng diệt
một số tác nhân bệnh lây truyền qua đường tình dục. Tuy nhiên, có số ít người
có khả năng dị ứng với các hoá chất sử dụng. Một số hoá chất khác cũng đang
trong vòng nghiên cứu như Carraguard, PRO2000, Buffergel, Dextrin 2
sulfate… nhưng có vẻ tác dụng diệt khuẩn trội hơn so với tác dụng ngừa thai.
trong dung dịch nhũ tương tinh thể nhỏ mà kết quả là nó được hấp thu chậm.
Hiện nay, đang phổ biến loại DMPA 150mg, có tác dụng tránh thai 03 tháng.
+ Thuốc cấy ngừa thai: Cũng là dạng progestin có tác dụng kéo dài, que
cấy vào da và tác dụng trong 3 năm.
+ Các dạng progestin đơn thuần có thể gây vô kinh hay kinh ít, lấm tấm
và kéo dài trong lúc đang sử dụng, thời gian trở lại bình thường (kinh nguyệt
cũng như khả năng sinh sản) có thể hơi lâu hơn loại thuốc kết hợp.
Các dạng mới hiện nay: Thuốc dán ngừa thai một miếng dán cho tác
dụng trong 1 tuần, thuốc tiêm ngừa thai hàng tháng, vòng có tẩm nội tiết và
dùng đặt trong âm đạo – tác dụng hàng tháng.
Hiệu quả tránh thai bằng nội tiết từ 92 – 98%.
9
- Biện pháp đặt Dụng cụ tử cung (DCTC)
Là dụng cụ đặt trong lòng tử cung, có vai trò như một dị vật, với tác
dụng kêu gọi các bạch cầu đến lòng tử cung và góp phần tiêu diệt tinh trùng,
ngăn tinh trùng xâm nhập lòng tử cung; đồng thời cũng làm biến đổi nội mạc tử
cung không còn thuận lợi cho việc thụ thai. Có các loại vòng: vòng trơ, vòng có
kim loại (việc thêm kim loại, thường là đồng, sẽ làm gia tăng hoạt tính của
vòng), vòng có nội tiết (là các progestin, góp phần làm biến đổi nội mạc tử
cung).
Hiệu quả tránh thai bằng dụng cụ khoảng 99%.
Hình 1.1. Một số hình ảnh về dụng cụ tử cung
- Biện pháp ngừa thai vĩnh viễn:
+ Triệt sản nam: Thắt ống dẫn tinh, đây là thủ thuật đơn giản, hầu như
không gây ảnh hưởng đến sức khoẻ người dùng. Ống dẫn tinh chỉ có vai trò dẫn
tinh trùng từ nhà máy sản xuất là tinh hoàn đến túi tinh dự trữ và phóng thích ra
Mỗi biện pháp ngừa thai đều có chỉ định và chống định khác nhau, cũng
như đều có tỷ lệ thất bại (do dùng đúng hay không đúng cách). Ngay như biện
pháp vĩnh viễn, hiệu quả nhất, vẫn có tỷ lệ thất bại khoảng 0,1%, do người làm
thủ thuật làm sai kỹ thuật, chưa thắt hết hay chưa thắt đúng “cái cần thắt”, cũng
có khi do cơ địa người dùng, vết thương đã tự hàn gắn lại những “chia cắt” của
thủ thuật [35].
11
Các tác dụng phụ của các biện pháp ngừa thai nói chung được xếp vào
các nhóm sau:
- Tác dụng trên chu kỳ kinh nguyệt: Làm kinh nguyệt điều hoà (thuốc
ngừa thai viên kết hợp dạng uống) hay gây rối loạn kinh nguyệt (vô kinh trong
thuốc tiêm ngừa thai).
- Tác dụng trên chuyển hoá: Gây giữ nước, tăng cân hay rối loạn chuyển
hoá đường, mỡ hoặc có lợi khi có kèm hoạt tính kháng androgen (chống mụn);
tình trạng loãng xương hay thiếu hụt can xi trên người dùng ngừa thai dạng P
kéo dài.
- Tác dụng trên hiện tượng viêm nhiễm: Ngăn ngừa bệnh lây qua
đường tình dục.
- Nguy cơ ung thư phụ khoa: Ngăn ngừa ung thư hay có khả năng thúc
đẩy một số dạng ung thư phụ khoa trên cơ địa một số nhóm người đặc biệt.
Việc chọn lựa một biện pháp ngừa thai phải do bản thân người sử dụng,
sau khi có những thông tin rõ ràng, chính xác do người trong ngành y tế tư vấn,
cân nhắc và chọn lựa tuỳ theo điều kiện sức khoẻ, gia đình, văn hoá, kinh tế của
bản thân mình để có một biện pháp thích hợp nhất.
Sự chọn lựa này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như:
- Hiệu quả của biện pháp ngừa thai
- Giá thành của biện pháp
là quốc gia đầu tiên thông qua chính sách Dân số-KHHGĐ nhằm giảm tốc độ
gia tăng dân số từ năm 1952. Mặc dù chính phủ Ấn Độ có nhiều nỗ lực trong
việc triển khai KHHGĐ nhưng do ảnh hưởng đến truyền thống và việc đưa
dịch vụ đến từng vùng nông thôn hẻo lánh còn khó khăn nên tỷ lệ sinh còn ở
mức cao. Mức tăng dân số hàng năm của quốc gia này gần 19 triệu, góp phần
vào tăng DS của thế giới nhiều hơn quốc gia nào khác [18],[29].
Ở Hàn Quốc, mục tiêu giảm tỷ lệ gia tăng dân số từ 1,58 (1852) xuống
1,49 (1986) và đạt 0,9% (1990). Trong 20 năm đầu thực hiện KHHGĐ, mức
13
sinh hàng năm giảm 0,165 con/1 phụ nữ. Trong 10 năm gần đây mức sinh giảm
mỗi năm 0,1con/1phụ nữ [18]. Tỷ lệ các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ áp
dụng các BPTT tăng từ 9% (1964) lên 77% (1988).
Tình hình áp dụng các BPTT và công tác KHHGĐ một số nước khác
nhau, như Châu Phi và Trung cận Đông chỉ có 45,7%, Châu Á 52,8%, Châu
Mỹ La Tinh 59%, còn ở các nước đang phát triển tỷ lệ lên đến 74,3% [45].
Việc sử dụng dịch vụ KHHGĐ cũng đang gặp khó khăn, hằng năm có
khoảng 700.000 PN trên thế giới chết do phá thai không an toàn (WHO-1997).
Theo báo cáo của UNFPA năm 2004, 10 năm sau hội nghị Crio-Ai cập,trên thế
giới vẫn còn 350 triệu vợ chồng chưa tiếp cận đầy đủ dịch vụ KHHGĐ [34].
1.2.2. Tình hình dân số- kế hoạch hoá gia đình trong nước
Biểu đồ 1.1. Dân số Việt Nam qua các mốc thời gian
(cập nhật 12/2008)[29]
Dân số trung bình của Việt Nam năm 2008 đã tăng 70.576 nghìn người
so với năm 1921 cao gấp trên 5,5 lần, bình quân 1 năm tăng 811,2 nghìn người,
tương đương mức tăng 1,98%/năm.
15
Việt Nam đã đạt được mức sinh thay thế là 2,1 con trung bình cho mỗi
PN trong độ tuổi sinh đẻ 15-49 vào năm 2005. Mức sinh này tiếp tục giảm dưới
mức sinh thay thế trong 3 năm 2006, 2007 và 2008, tương ứng là 2,08; 2,07 và
2,08 (theo các báo cáo điều tra biến động dân số hàng năm của tổng cục thống
kê). Đây là năm thứ 4 liên tiếp Việt Nam đạt được mức sinh thay thế, TFR
giảm nhiều so với những năm trước, năm 1977 (5,6con), năm 1989 (3,8 con),
năm 1999 (2,3 con). Mô hình sinh vẫn tiếp tục chuyển từ sinh “sớm” sang sinh
“muộn”, thể hiện ở khuynh hướng phụ nữ sinh con đầu lòng ở lứa tuổi muộn
hơn. Đây là một thông tin quan trọng được đề cập về thực trạng Dân số Việt
Nam năm 2008 của Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc [17].
Mặc dù Việt Nam đã đạt được dưới mức sinh thay thế nhưng vẫn còn sự
khác biệt về mức sinh giữa các vùng. Ở thành thị tổng tỷ suất sinh là 1,84 con
trên một phụ nữ và ở nông thôn là 2,22 con[20].
Một đóng góp lớn để đạt được mức sinh thấp là việc sử dụng các BPTT,
đặc biệt là các BPTT hiện đại. Trong khi nhiều nước ở Châu Á như Indonsia,
Philipin, Pakistan, Bangladesh đã thực hiện KHHGĐ từ nhiều năm nay nhưng
vẫn chưa đạt được mức sinh thay thế. Mức sinh của Việt Nam thấp hơn so với
các nước Đông Nam Á. TFR của khu vực này là 2,7 con, Việt Nam chỉ cao hơn
Singapore (1,3con) và Thái Lan (1,7con). Mức sinh ở khu vực thành thị là 1,72
con, thấp hơn so với khu vực nông thôn (2,25con). Với mục tiêu đến 2015 đạt
được mức sinh thay thế thì Việt Nam đã về đích sớm hơn 10 năm. Với những
thành quả về công tác Dân số-KHHGĐ như trên năm 1999 Việt Nam đã nhận
được giải thưởng của Liên hiệp quốc [6] [41] [43].
Tuy nhiên, những năm gần đây, nhất là sau khi Pháp lệnh Dân số năm
2003 được UBTVQH Khoá XI thông qua ngày 9.1.2003 và có hiệu lực kể từ
ngày 1.5.2003 đã bộc lộ một số hạn chế mang tính nguyên tắc, quy định khung
ứng dịch vụ thường xuyên, chiến dịch truyền thông lồng ghép với dịch vụ chăm
sóc SKSS/KHHGĐ đến vùng khó khăn, vùng đông dân có mức sinh và tỷ lệ sinh
17
con thứ ba trở lên cao được tổ chức nhiều đợt trong năm, vừa tuyên truyền vận
động, tư vấn, vừa cung cấp dịch vụ KHHGĐ, làm mẹ an toàn, phòng chống viêm
nhiễm đường sinh sản cho khách hàng có nhu cầu.
- Quan tâm giải quyết nhanh, kịp thời cho các trường hợp thực hiện
KHHGĐ bị tai biến, vỡ kế hoạch, tác dụng phụ, tạo được niềm tin và sự yên
tâm cho các khách hàng đối với chương trình. Công tác hậu cần phương tiện
tránh thai đảm bảo kịp thời, thuận tiện cho các đối tượng sử dụng. Thường
xuyên dự phòng các loại phương tiện tránh thai tại cơ sở hợp lý [20 ].
Kết quả thực hiện các chỉ tiêu về DS - KHHGĐ của tỉnh Thừa Thiên Huế
năm 2008 như sau:
- Dân số trung bình (người):
1.148.687
- Giảm sinh (%0):
0,3
- Tỷ suất sinh (%0):
16,3
- Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số (%):
Hương Vân, Hương Văn, Hương Xuân, Hương Toàn, Hương Chữ, Hương An,
Hương Hồ, Hương Vinh; Vùng ven biển, đầm phá có bờ biển dài 12 km gồm 2
xã: Hải Dương, Hương Phong [39].
1.2.4.2. Kết quả công tác dân số và KHHGĐ
Năm 2008, tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên của tỉnh là 21,3% , trong khi đó
tỷ lệ này ở Hương Trà là 25,6 %. Tỷ lệ này cao hơn so với mặt bằng tỷ lệ sinh
con thứ ba trở lên của toàn tỉnh. Nhiều cặp vợ chồng ở các xã thuộc huyện
Hương Trà còn chịu ảnh hưởng của một hoặc nhiều yếu tố tác động hạn chế
việc sử dụng các biện pháp tránh thai nên dẫn đến họ có hành vi sinh con thứ
ba trở lên .
Theo báo cáo tổng kết của Uỷ ban Dân số, Gia đình & trẻ em huyện
Hương Trà năm 2008 như sau:
- Dân số trung bình:
116.226 người ( nữ 56.413 )
- Phụ nữ 15 - 49 tuổi:
28.481 người
- Phụ nữ 15 - 49 tuổi có chồng:
17.540 người
- Tỷ suất sinh ( %0):
16.0%0
- Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số (%):