Thực hiện chính sách thu gom và xử lý chất thải từ thực tiễn huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi - Pdf 39

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THANH SƠN

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH THU GOM VÀ XỬ LÝ
CHẤT THẢI TỪ THỰC TIỄN HUYỆN MỘ ĐỨC,
TỈNH QUẢNG NGÃI

Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 60.34.04.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. ĐỖ PHÚ HẢI

HÀ NỘI, năm 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng bản thân tôi. Tất cả
các số liệu trong đề tài nghiên cứu của luận văn là trung thực và chưa từng
được ai công bố trong bất kỳ luận văn nào khác.
Tôi xin chân thành cảm ơn mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn
này và tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ
rõ nguồn gốc.
Học viên

Lê Thanh Sơn


: Bãi chôn lấp

BVMT

: Bảo vệ môi trường

CTR

: Chất thải rắn

CTRSH

: Chất thải rắn sinh hoạt

MT

: Môi trường

QL&SC ĐB

: Quản lý và sửa chữa đường bộ

TCD

: Tổng chiều dài

TN

: Tài nguyên

gia về nông thôn mới, đời sống người dân ngày càng được cải thiện. Tuy
nhiên, trong quá trình phát triển cũng bộc lộ nhiều vấn đề đáng quan tâm, tình
trạng ô nhiễm môi trường sinh thái do các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của
con người gây ra.
Trong thời gian qua, công tác quản lý, thu gom và xử lý chất thải (chỉ tập
trung vào chất thải rắn sinh hoạt) trên địa bàn huyện Mộ Đức đã có nhiều cố
1


gắng, các cấp, các ngành các địa phương đã thật sự vào cuộc, nhưng nhìn
chung môi trường chất thải, đặc biệt là chất thải rắn sinh hoạt tại địa bàn các
xã, thị trấn trong huyện hiện nay vẫn còn nhiều bất cập và hạn chế do ý thức
của người dân chưa cao, dẫn đến môi trường cuộc sống nông thôn còn ô
nhiễm chưa đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ đặt ra; nguyên nhân chủ yếu là do
ý thức trách nhiệm và nhận thức của người dân về công tác thu gom và xử lý
chất thải còn nhiều hạn chế.
Mặt khác, việc phân công, phân cấp trong công tác quản lý Nhà nước về
bảo vệ môi trường nói chung, thu gom và xử lý chất thải nói riêng trên địa bàn
huyện vẫn đang còn nhiều bất cập, đã gây những tác động tổng hợp tới môi
trường, sức khỏe cộng đồng và phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy, việc đổi
mới công tác tổ chức hoạt động, thu gom, lựa chọn công nghệ xử lý chất thải
phù hợp để đem lại hiệu quả trong việc thu gom và xử lý chất thải ngày càng
cao, đảm bảo môi trường cuộc sống ngày càng xanh - sạch - đẹp là nhiệm vụ
ưu tiên hàng đầu trong công tác bảo vệ môi trường nhằm ổn định an sinh xã
hội, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của huyện ngày càng bền vững.
Để nghiên cứu những nội dung nêu trên, có thể thấy rằng việc lựa chọn
đề tài “Thực hiện chính sách thu gom và xử lý chất thải từ thực tiễn huyện Mộ
Đức, tỉnh Quảng Ngãi” làm Luận văn Thạc sĩ Chính sách công là xuất phát từ
nhu cầu cấp thiết của thực tế và có ý nghĩa thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài

- Lê Quang Toàn (2010), “Khảo sát hiện trạng quản lý chất thải rắn sinh
hoạt trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và đề xuất biện pháp quản lý quy
hoạch đến năm 2030”, Khóa luận Tốt nghiệp, Đại học Kỹ thuật Công nghệ
Thành phố Hồ Chí Minh.
- TS. Trần Văn Quang, “Đề xuất phương án tổ chức phân loại rác tại
thành phố Đà Nẵng”, Đại học Bách Khoa - Đại học Đà Nẵng.
- Luận văn Thạc sỹ, chuyên ngành Chính sách công, Học viện Khoa học

3


xã hội của tác giả Đặng Thị Hà “Chính sách thu gom, xử lý chất thải rắn sinh
hoạt từ thực tiễn thành phố Đà nẵng”, Luận văn này nghiên cứu tập trung vào
việc cụ thể hóa chính sách và thực hiện chính sách thu gom, xử lý chất thải
rắn sinh hoạt ở thành phố Đà Nẵng và trên cơ sở đó kiến nghị các giải pháp
nhằm tăng cường thực hiện chính sách bảo vệ môi trường nói chung và quản
lý chất thài rắn sinh hoạt đô thị nói riêng ở thành phố Đà Nẵng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Học viên lấy nghiên cứu này làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ ngành
chính sách công.
Làm rõ những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách thu gom và xử lý
chất thải, đồng thời luận văn đánh giá thực trạng thực hiện chính sách thu
gom và xử lý chất thải tại huyện Mộ Đức. Luận văn sẽ đề xuất những giải
pháp tăng cường thực hiện chính sách thu gom và xử lý chất thải tại huyện
Mộ Đức trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách sách thu gom
và xử lý chất thải và thực hiện chính sách sách thu gom và xử lý chất thải;
tổng quan và nhận xét thực hiện chính sách hiện hành sách thu gom và xử lý

5.1. Phương pháp luận
Luận văn vận dụng cách tiếp cận đa ngành và phương pháp nghiên cứu
chính sách công. Cách tiếp cận quy phạm chính sách công về chu trình chính
sách từ hoạch định đến xây dựng và thực hiện và đánh giá chính sách công có
sự tham gia của các chủ thể chính sách. Lý thuyết chính sách công được soi
sáng qua thực tiễn của chính sách công giúp hình thành lý luận về chính sách
chuyên ngành.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Áp dụng phương pháp định tính; Phương pháp thu thập thông tin,

5


Phương pháp phân tích và tổng hợp, thống kê và so sánh được sử dụng để thu
thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài
nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, Nghị Quyết của Đảng, Nhà nước, bộ
ngành ở Trung ương và địa phương; các tài liệu, công trình nghiên cứu, các
báo cáo, thống kê của chính quyền, ban ngành đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên
quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề thực hiện chính sách thu gom và xử
lý chất thải ở nước ta nói chung và thực tế huyện Mộ Đức.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
- Đề tài này cung cấp lý luận thực hiện chính sách công về nghiên cứu
vấn đề chính sách thu gom và xử lý chất thải (chất thải rắn sinh hoạt).
- Hệ thống hóa một số lý luận và đánh giá thực tiễn từ đó đề xuất giải
pháp tăng cường thực hiện chính sách thu gom và xử lý chất thải nhằm phát
huy tối đa hiệu quả chính sách đã ban hành.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Cung cấp những vấn đề có tính thực tiễn trong việc vận dụng các lý
thuyết về chính sách công để xem xét giữa lý thuyết và thực tiễn về thực hiện

để thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội nhằm đạt một mục đích nhất
định, góp phần thực hiện mục tiêu tổng thể đã xác định.
Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải) được
thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác.
Chất thải thông thường là chất thải không thuộc danh mục chất thải nguy
hại hoặc thuộc danh mục chất thải nguy hại nhưng có yếu tố nguy hại dưới
ngưỡng chất thải nguy hại.
Chất thải rắn sinh hoạt (còn gọi là rác sinh hoạt) là chất thải rắn phát
sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người.
Phân định chất thải là quá trình phân biệt một vật chất là chất thải hay
không phải là chất thải, chất thải nguy hại hay chất thải thông thường và xác
định chất thải đó thuộc một loại hoặc một nhóm chất thải nhất định với mục
đích để phân loại và quản lý trên thực tế.
Vận chuyển chất thải là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh
đến nơi xử lý, có thể kèm theo hoạt động thu gom, lưu giữ (hay tập kết) tạm
thời, trung chuyển chất thải và sơ chế chất thải tại điểm tập kết hoặc trạm
trung chuyển.
8


Chủ thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt là tổ chức, cá nhân thực
hiện dịch vụ thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt theo quy định.
Xử lý chất thải là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật để
làm giảm, loại bỏ, cô lập, cách ly, thiêu đốt, tiêu hủy, chôn lấp chất thải và
các yếu tố có hại trong chất thải.
Chủ xử lý chất thải là tổ chức, cá nhân sở hữu hoặc điều hành cơ sở xử
lý chất thải.
(Điều 3, Nghị định của Chính phủ số 38/2015/NĐ-CP ngày 24 tháng 4
năm 2015 về quản lý chất thải và phế liệu).
Từ lý luận về “Chính sách công”, “Thu gom và xử lý chất thải” nêu

Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện chính sách thu gom và xử lý chất
thải vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập.
Theo báo cáo môi trường quốc gia Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt
phát sinh trên toàn quốc năm 2014 khoảng 23 triệu tấn tương đương với
khoảng 63.000 tấn/ngày, trong đó, chất thải rắn sinh hoạt đô thị phát sinh
khoảng 32.000 tấn/ngày. Chỉ tính riêng tại thành phố Hà Nội và thành phố Hồ
Chí Minh, khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh là: 6.420 tấn/ngày và
6.739 tấn/ngày.
Tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt hiện nay tại khu vực ngoại thành
của các đô thị trung bình đạt khoảng 60% so với lượng chất thải rắn sinh hoạt
phát sinh. Tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực nông thôn còn
thấp, trung bình đạt khoảng 40-55% so với lượng chất thải rắn sinh hoạt phát
sinh, tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại các vùng nông thôn ven đô hoặc
các thị trấn, thị tứ cao hơn tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại các vùng
sâu, vùng xa.
Tại khu vực nông thôn, việc thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt
phần lớn là do các hợp tác xã, tổ đội thu gom đảm nhiệm với chi phí thu gom
thỏa thuận với người dân đồng thời có sự chỉ đạo của chính quyền địa

10


phương. Mức thu và cách thu tùy thuộc vào từng địa phương, từ 10.000 20.000 đồng/hộ/tháng và do thành viên hợp tác xã, tổ đội thu gom trực tiếp đi
thu. Hiện có khoảng 40% số thôn, xã hình thành các tổ, đội thu gom chất thải
rắn sinh hoạt tự quản, công cụ phục vụ cho công tác thu gom, vận chuyển hầu
hết do tổ đội tự trang bị. Tuy nhiên, trên thực tế tại khu vực nông thôn không
thuận tiện về giao thông, dân cư không tập trung còn tồn tại hiện tượng người
dân vứt bừa bãi chất thải ra sông suối hoặc đổ thải tại khu vực đất trống mà
không có sự quản lý của chính quyền địa phương.
Nhìn chung, chất thải rắn sinh hoạt được xử lý chủ yếu bằng hình thức

được nguồn năng lượng từ khí thải thu hồi từ bãi chôn lấp chất thải, gây lãng
phí nguồn tài nguyên.
Hiện nay, các cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt thành phân hữu cơ sử
dụng công nghệ ủ hiếu khí, một số cơ sở xử lý đang hoạt động: Nhà máy xử
lý chất thải rắn sinh hoạt Nam Bình Dương thuộc Công ty TNHH MTV cấp
thoát nước và môi trường Bình Dương; Nhà máy xử lý và chế biến chất thải
Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh thuộc Công ty TNHH MTV quản lý công trình đô thị
Hà Tĩnh; Nhà máy xử lý rác Tràng Cát, thuộc Công ty TNHH MTV môi
trường đô thị Hải Phòng; Nhà máy xử lý chất thải rắn Nam Thành, Ninh
Thuận thuộc Công ty TNHH xây dựng thương mại và sản xuất Nam
Thành;…Hệ thống thiết bị trong dây chuyền công nghệ của các cơ sở xử lý
được thiết kế chế tạo trong nước hoặc cải tiến từ công nghệ nước ngoài. Một
số công nghệ mới được nghiên cứu và áp dụng trong nước đáp ứng được tiêu
chí hạn chế chôn lấp nhưng việc hoàn thiện công nghệ và triển khai nhân rộng
còn gặp nhiều khó khăn do vốn đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân còn hạn
chế; tính đồng bộ, hiện đại, mức độ tự động hóa của hệ thống thiết bị trong
dây chuyền công nghệ chưa cao; các công nghệ xử lý chất thải rắn chưa được
sản xuất ở quy mô công nghiệp. Một số địa phương sử dụng nguồn vốn ODA

12


để nhập khẩu từ nước ngoài các công nghệ xử lý chất thải rắn sinh hoạt thành
phân hữu cơ nhưng công nghệ xử lý chưa đạt được hiệu quả như mong muốn:
dây chuyền xử lý chất thải rắn sinh hoạt chưa phù hợp với điều kiện Việt
Nam, tỉ lệ chất thải rắn được đem chôn lấp hoặc đốt sau xử lý rất lớn từ 3580%, chi phí vận hành và bảo dưỡng cao,…Ngoài ra, sản phẩm phân hữu cơ
sản xuất ra hiện nay khó tiêu thụ, chỉ phù hợp với một số loại cây công
nghiệp.
Tại Việt Nam hiện nay đang có xu hướng đầu tư đại trà lò đốt chất thải
rắn sinh hoạt ở tuyến huyện, xã. Do vậy, đang tồn tại tình trạng mỗi huyện, xã

+ Việc tổ chức triển khai quy hoạch quản lý chất thải rắn đã phê duyệt
tại các địa phương còn chậm;
+ Đầu tư cho công tác quản lý chất thải rắn còn hạn chế, chưa đáp ứng
được nhu cầu thực tế.
+ Mặc dù đã có quy định trong việc xã hội hóa công tác bảo vệ môi
trường trong đó có việc xử lý chất thải rắn, tuy nhiên quá trình để triển khai
vay vốn thực hiện các dự án xử lý chất thải rắn còn nhiều thủ tục và khó khăn,
số dự án xử lý chất thải rắn được vay từ các nguồn vốn ưu đãi là rất ít.
+ Việc đầu tư, vận hành lò đốt chất thải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu như
có hệ thống xử lý khí thải, nhiệt độ buồng đốt phù hợp đảm bảo xử lý triệt để
chất thải là những thách thức lớn trong điều kiện nền kinh tế còn nhiều khó
khăn ở Việt Nam.
+ Việc xây dựng các bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt hợp vệ sinh, các
cơ sở xử lý tập trung chất thải công nghiệp đòi hỏi phải có vốn đầu tư rất lớn,
nhiều địa phương không đủ nguồn vốn đầu tư cho việc xử lý chất thải rắn tập
trung.
+ Công tác cập nhật thường xuyên các số liệu về tình hình phát sinh, tính
chất, thành phần, loại chất thải rắn phải xử lý gặp rất nhiều khó khăn do vậy
dẫn đến khó khăn trong việc quản lý chất thải rắn.

14


+ Phương pháp xử lý chất thải rắn là chôn lấp không hợp vệ sinh gây ô
nhiễm môi trường, làm phát sinh và gia tăng khí mêtan (một loại khí nhà
kính), đồng thời tốn nhiều quỹ đất, không tận dụng được các loại chất thải rắn
có khả năng tái chế, tái sử dụng.
+ Hiện nay, chưa có địa phương nào có mô hình xử lý chất thải rắn sinh
hoạt hoàn thiện đạt được cả các tiêu chí về kỹ thuật, kinh tế, xã hội và môi
trường.

ngày càng bền vững.
Mục tiêu cụ thể phải đạt được:
Tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải đạt 70%; trong đó:
- Đô thị đạt tỷ lệ 80%;
- Nông thôn đạt 60%;
Định hướng đến 2020: Tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải đạt trên 80%;
trong đó:
- Đô thị đạt tỷ lệ trên 90%;
- Nông thôn đạt trên 80%;
Tỷ lệ chất thải rắn được phân loại để tái chế và tái sử dụng đạt 32%;
trong đó:
- Đô thị đạt tỷ lệ tái chế và tái sử dụng đạt trên 50% ;
- Nông thôn đạt tỷ lệ tái chế, tái sử dụng đạt trên 45%.
Định hướng đến 2020: Tỷ lệ chất thải rắn được phân loại để tái chế và tái
sử dụng đạt trên 45%; trong đó:
- Đô thị đạt tỷ lệ tái chế và tái sử dụng đạt trên 55 % ;
- Nông thôn đạt tỷ lệ tái chế, tái sử dụng đạt trên 50%.
1.2.3. Giải pháp chính sách
Từ những vấn đề chính sách trên cho thấy chính sách thu gom và xử lý
chất thải hướng đến một số nhóm giải pháp cơ bản sau:
Nhóm giải pháp về tổ chức, quản lý và cơ chế, chính sách, kiện toàn hệ

16


thống tổ chức phục vụ công tác bảo vệ môi trường từ Trung ương đến địa
phương theo Luật bảo vệ môi trường 2014. Rà soát, quy định rõ trách nhiệm
của Ủy ban nhân dân từ cấp tỉnh tới cấp huyện, cấp xã; trách nhiệm các cơ
quan chuyên môn; trách nhiệm của tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp; trách nhiệm của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; trách
nhiệm của cộng đồng dân cư trong công tác quản lý chất thải. Nghiên cứu xây

cho công tác quản lý, xử lý chất thải rắn: nguồn ngân sách nhà nước, quỹ bảo
vệ môi trường, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước ngoài. Mở rộng hỗ
trợ tín dụng nhà nước cho các công trình đầu tư, dự án tái chế, tái sử dụng và
thu hồi năng lượng từ chất thải rắn cũng như các ưu đãi về thuế, phí và lệ phí.
Khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư vào hoạt động
tái chế, tái sử dụng và thu hồi năng lượng từ chất thải rắn. Đẩy mạnh xã hội
hoá công tác thu gom, vận chuyển và vận hành cơ sở xử lý chất thải rắn; tăng
dần nguồn thu phí vệ sinh, giảm dần hỗ trợ từ ngân sách cho hoạt động thu
gom, vận chuyển chất thải rắn. Xây dựng chính sách mua sắm công để ưu tiên
mua sắm các sản phẩm thân thiện môi trường, sản phẩm sau quá trình tái chế,
xử lý chất thải từ nguồn ngân sách.
Nhóm giải pháp về giám sát, kiểm tra, thanh tra, tăng cường sự phối hợp
giữa các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường của các địa phương trong
kiểm soát chặt chẽ các khu xử lý chất thải, bãi chôn lấp chất thải giáp ranh
giữa các địa phương và việc vận chuyển chất thải liên tỉnh. Tăng cường công
tác thanh tra, kiểm tra hoạt động thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn
để phòng ngừa cũng như kịp thời phát hiện và xử lý các vi phạm
Nhóm giải pháp hỗ trợ kỹ thuật và nghiên cứu, phát triển công nghệ,
nghiên cứu phát triển công nghệ xử lý chất thải rắn theo hướng giảm thiểu
lượng chất thải rắn chôn lấp, tăng cường tỷ lệ tái chế, tái sử dụng và thu hồi
năng lượng từ chất thải. Đẩy mạnh việc xây dựng các mô hình điểm về tái
chế, tái sử dụng và thu hồi năng lượng từ chất thải rắn nhằm lựa chọn các mô

18


hình phù hợp để nhân rộng trên phạm vi cả nước. Áp dụng các công nghệ tái
chế hiện đại, thân thiện với môi trường thay thế các công nghệ cũ, lạc hậu ở
các cơ sở tái chế.
1.3. Tổ chức thực hiện chính sách thu gom và xử lý chất thải

của phương pháp tiếp cận “từ trên xuống” nhưng vẫn gặp phải một số vấn đề
khi thực hiện bởi vì nó chịu ảnh hưởng mang tính chủ quan của những cán bộ
chuyên trách. Ngoài ra phương pháp này chưa thật sự huy động được sự tham
gia của người dân. Do đó, để đảm bảo phù hợp với tình hình mới cũng như
mục tiêu hướng đến cộng đồng, phương pháp tiếp cận phù hợp nhất khi thực
hiện chính sách là tiếp cận theo chiều dọc (Bộ Tài nguyên và Môi Trường, Sở
Tài nguyên và Môi Trường cấp tỉnh, thành phố, Phòng Tài nguyên và Môi
trường cấp quận, huyện, các xã (tiếp cận mang tính hai chiều)), theo chiều
ngang (có sự phối hợp giữa các Bộ, các cơ quan ban ngành) và sự tham gia
của các bên liên quan và cộng đồng, người dân, các tổ chức trong nước và
quốc tế.
Như vậy, cách tiếp cận đối với chính sách về lĩnh vực bảo vệ Môi trường
đó là Đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và các tổ chức đoàn thể xã
hội, chính trị thông qua các chương trình, chiến lược, chính sách, nghị quyết
và chỉ thị về mặt chính trị. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ
môi trường trong phạm vi cả nước.
- Cơ quan Bộ chịu trách nhiệm chính trong lĩnh vực môi trường là Bộ
Tài nguyên và Môi trường. Bộ này có 3 Cục/Vụ liên quan đóng vai trò chủ
chốt trong quản lý chất thải:
+ Vụ Môi trường: Hoạch định các chính sách, chiến lược và pháp luật
ở các cấp trung ương và địa phương. Hướng dẫn áp dụng các tiêu chuẩn
Việt Nam.
+ Vụ Thẩm định và Đánh giá tác động môi trường: Thẩm định báo cáo
đánh giá tác động môi trường của ác dự án, xây dựng các hệ thống quản lý
chất thải rắn, các khu chôn lấp, xử lý.
+ Cục bảo vệ môi trường: Phối hợp thực hiện thanh tra môi trường đối
với các bãi chôn lấp. Thực hiện giám sát và phối hợp, cưỡng chế về mặt môi

20





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status