VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG ANH NGỌC
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN TÂY TRÀ, TỈNH QUẢNG NGÃI
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 60.34.04.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS. VÕ KHÁNH VINH
Hà Nội, năm 2016
LỜI CAM ĐOAN
Đề tài nghiên cứu “Thực hiện chính sách phát triển nhân lực từ thực tiễn
huyện Tây Trà, tỉnh Quảng Ngãi” là kết quả của quá trình nghiên cứu và khảo sát,
đánh giá thực tế tại huyện Tây Trà, tỉnh Quảng Ngãi. Cùng với sự hướng dẫn tận
tình của GS.TS. Võ Khánh Vinh. Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu
trong luận văn Thạc sĩ Chính sách công về đề tài này là hoàn toàn trung thực, khách
quan và không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Tác giả luận văn
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
bảng
2.1.
Phân tích các chủ thể thực hiện chính sách phát triển nhân
lực nói chung, nhân lực huyện Tây Trà nói riêng
Trang
36
2.2.
Dân số huyện Tây Trà phân theo các xã
41
2.3.
Tốc độ tăng nhân lực huyện Tây Trà qua các năm
43
44
46
48
51
53
55
DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu
Tên hình
hình
2.1.
2.2.
2.3.
2.4.
2.5.
Biểu đồ thể hiện dân số ở huyện Tây Trà phân theo xã
qua các năm 2010-2015
nhà trường cũng như trong quá trình sản xuất kinh doanh, chú trọng nâng cao tính
chuyên nghiệp và kỹ năng thực hành…”. Qua đó nhằm đảm bảo cung cấp nhân lực
cả về số lượng cũng như chất lượng đáp ứng yêu cầu cho sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước. Do đó, để thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược của sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá chúng ta cần nhận thức một cách sâu sắc, đầy
đủ những giá trị to lớn và có ý nghĩa quyết định của nhân tố con người, chủ thể của
mọi sự sáng tạo, “ tài nguyên” vô giá, vô tận của đất nước, phải có cách nghĩ, cách
nhìn mới, phát huy tối đa nhân tố con người, tạo ra động lực mạnh mẽ cho việc phát
triển, đổi mới toàn diện của đất nước.
Trong bối cảnh chung đó, là huyện miền núi nằm phía Tây Bắc của tỉnh
Quảng Ngãi thuộc 62 huyện nghèo nhất của cả nước, trong những năm qua huyện
Tây Trà được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước được đầu tư rất nhiều chương
trình dự án đã làm cho diện mạo nông thôn mới ngày càng phát triển, góp phần phát
triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng được giữ vững, thực hiện mục tiêu quan
trọng xoá đói giảm nghèo, cải thiện và nâng cao đời sống cho nhân dân. Để thực
hiện tốt nhiệm vụ này đòi hỏi phải có nhân lực có chất lượng cao, có đội ngũ cán bộ
có đủ trình độ về chuyên môn, có đủ phẩm chất đạo đức chính trị, đây là yêu cầu đặt
ra hết sức cấp thiết, một bài toán nan giải cần phải giải quyết trong thời gian tới.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc phát triển nhân lực, trong những năm qua cấp
ủy, chính quyền địa phương đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tuy nhiên công tác này
vẫn còn nhiều bất cập do nhiều nguyên nhân như: việc triển khai thực hiện còn
1
chậm, chất lượng nhân lực còn thấp, lao động phổ thông chiếm phần lớn trong cơ
cấu lao động, cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị
chưa đồng bộ, vừa thừa, vừa thiếu, một số nơi hẫng hụt đội ngũ cán bộ kế cận, cán
bộ lãnh đạo tuổi bình quân cao, tỷ lệ cán bộ lãnh đạo trẻ, nữ, khoa học kỹ thuật,
công nghệ thấp, số cán bộ có trình độ trên đại học ít, số lượng cán bộ, công chức
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” đã tập trung phân tích,
lý giải, hệ thống hóa các căn cứ khoa học của việc nâng cao chất lượng đội ngũ
cán bộ, đặc biệt là cán bộ chủ chốt các cấp. Từ đó đưa ra một hệ thống các quan
điểm, phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đáp
ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong những thập
niên đầu thế kỷ 21.
- PGS.TS. Đức Vượng, với đề tài cấp Nhà nước: “Xây dựng đội ngũ tri thức
Việt Nam giai đoạn 2011-2020” nói lên thực trạng của đội ngũ tri thức Việt Nam
hiện nay và đề xuất những giải pháp quan trọng nhằm phát triển nhân lực Việt Nam
trong những năm tới.
- Phạm Thành Nghị và Vũ Hoàng Ngân (2004) trong cuốn sách “Quản lý nhân
lực Việt Nam: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” tập trung phân tích những cơ sở
khoa học của quản lý nhân lực ở Việt Nam: Thực trạng, chính sách đãi ngộ, giải pháp
quản lý, kinh nghiệm quản lý phát triển nhân lực ở một số nước trên thế giới và thực
tiễn áp dụng ở Việt Nam.
- GS.TS. Bùi Văn Nhơn với đề tài: “Các giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ
công chức hành chính nhà nước ở nước ta trong giai đoạn hiện nay” đã đề cập đến
vị trí, vai trò của đội ngũ công chức hành chính trong bối cảnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước đang diễn ra mạnh mẽ với những thời cơ, vận hội và thách
thức mới đang nảy sinh, đòi hỏi công tác cán bộ phải có những chuyển biến mới.
- TS. Đỗ Phú Hải với bài viết: “Chính sách phát triển nhân lực khoa học và
công nghệ ở Việt Nam hiện nay” đã đề cập đến thực trạng chính sách phát triển
nhân lực khoa học và công nghệ trong giai đoạn hiện nay, phân tích nội dung chính
sách, thể chế và các bên tham gia chính sách phát triển nhân lực khoa học và công
nghệ ở Việt Nam hiện nay.
Trong tất cả các nghiên cứu trên đã đề cập đến thực trạng phát triển, quản
lý và chính sách phát triển nhân lực Việt Nam trong thời gian vừa qua và đề xuất
những định hướng, giải pháp, chính sách nhằm phát triển nhân lực Việt Nam
trong những năm tiếp theo. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nghiên
Trà, tỉnh Quảng Ngãi.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian thuộc huyện Tây Trà, tỉnh Quảng Ngãi; phạm vi thời gian
từ năm 2010 đến 2015.
4
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận nghiên cứu
Luận văn vận dụng cách tiếp cận đa ngành, liên ngành xã hội và vận dụng triệt
để phương pháp nghiên cứu chính sách công. Đó là cách tiếp cận quy phạm chính
sách công về chu trình chính sách từ hoạch định đến xây dựng, thực hiện và đánh
giá chính sách công có sự tham gia của các chủ thể chính sách. Lý thuyết chính sách
công được soi sáng qua thực tiễn của chính sách công giúp hình thành lý luận về
chính sách chuyên ngành.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn tập trung sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp tổng hợp, thu thập số liệu: Phương pháp nghiên cứu này cho
phép thu thập những tài liệu trong và ngoài tỉnh liên quan đến chính sách đào tạo và
phát triển nhân lực, phân tích nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho chính sách phát triển
nhân lực, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp đảm bảo tính khoa học.
- Phương pháp phân tích, thống kê, phương pháp so sánh, khái quát hóa, ...
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
- Đề tài vận dụng, bổ sung lý thuyết khoa học chính sách công để làm rõ vấn
đề khoa học và thực tiễn của quá trình thực hiện chính sách phát triển nhân lực.
- Đề tài cung cấp những nghiên cứu, tư liệu, khảo sát thực tế tại huyện Tây Trà,
qua đó góp phần làm phong phú thêm hệ thống lý luận của khoa học chính sách công.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Ở nước ta, Đảng và Nhà nước luôn khẳng định quan điểm coi con người là
trung tâm của sự phát triển, của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hiện nay,
trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hoá và hội nhập quốc tế, phát triển nhân lực
được coi là một trong ba khâu đột phá của chiến lược chuyển đổi mô hình phát triển
kinh tế, xã hội của đất nước; đồng thời, phát triển nhân lực trở thành nền tảng phát
triển bền vững và tăng lợi thế cạnh tranh quốc gia.
Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011 – 2020 nêu rõ mục
tiêu tổng quát phát triển nhân lực Việt Nam là đưa nhân lực Việt Nam trở thành
nền tảng và lợi thế quan trọng nhất để phát triển bền vững đất nước, hội nhập quốc
tế và ổn định xã hội, nâng trình độ năng lực cạnh tranh của nhân lực nước ta lên
mức tương đương các nước tiên tiến trong khu vực, trong đó một số mặt tiếp cận
trình độ các nước phát triển trên thế giới. Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam
thời kỳ 2011 – 2020 cũng đưa ra các giải pháp đột phá để thực hiện chính sách
phát triển nhân lực.
Một là, đổi mới nhận thức về phát triển và sử dụng nhân lực: Quán triệt quan
điểm con người là nền tảng, là yếu tố quyết định nhất trong phát triển bền vững kinh
tế, xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng của đất nước và sự hưng thịnh của mỗi đơn
vị, tổ chức. Tạo sự chuyển biến mạnh về nhân lực ở tất cả các cấp lãnh đạo từ Trung
7
ương đến cơ sở và người dân về việc cần phải đổi mới triệt để và có tính cách mạng
trong quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo, xây dựng xã hội học tập; về sự cần
thiết phải cải thiện giống nòi, đảm bảo dinh dưỡng và chăm sóc toàn diện sức khỏe
nhân dân; về sự cần thiết phải nâng cao thu nhập và cải thiện điều kiện làm việc.
Hai là, đổi mới mạnh mẽ quản lý nhà nước về phát triển nhân lực: Trong đó,
cần tập trung vào việc hoàn thiện bộ máy quản lý phát triển nhân lực, đổi mới
phương pháp quản lý, nâng cao năng lực, hiệu lực và hiệu quả hoạt động bộ máy
quản lý về phát triển nhân lực. Cần hình thành một cơ quan chịu trách nhiệm thu
đại học, cao đẳng, hỗ trợ người lao động học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ. Đẩy
mạnh và tạo cơ chế phù hợp để thu hút các nguồn vốn nước ngoài cho phát triển
nhân lực Việt Nam; sử dụng hiệu quả các nguồn vốn của nước ngoài hỗ trợ phát
triển nhân lực (ODA); thu hút đầu tư trực tiếp (FDI) của nước ngoài cho phát triển
nhân lực (đầu tư trực tiếp xây dựng các cơ sở giáo dục, đào tạo, bệnh viện, trung
tâm thể thao,...).
Bốn là, đổi mới giáo dục và đào tạo: là nhiệm vụ then chốt, giải pháp chủ yếu
để phát triển nhân lực Việt Nam trong giai đoạn từ nay đến 2020 và những thời kỳ
tiếp theo. Trước mắt, cần tập trung vào một số nội dung:
- Hoàn thiện hệ thống giáo dục theo hướng mở, hội nhập, thúc đẩy phân tầng,
phân luồng, khuyến khích học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập. Tổ chức lại
mạng lưới giáo dục đào tạo, sắp xếp lại hệ thống giáo dục quốc dân cả ở quy mô
đào tạo, cơ cấu ngành nghề, cơ sở đào tạo, quy hoạch lại mạng lưới giáo dục nghề
nghiệp, giáo dục đại học gắn với quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội của cả nước,
vùng, miền và địa phương. Thực hiện phân tầng giáo dục đại học.
- Đổi mới chương trình, sách giáo khoa phổ thông, khung chương trình đào tạo
ở bậc đại học và giáo dục nghề nghiệp theo hướng phát huy tư duy sáng tạo, năng
lực tự học, tự nghiên cứu, tăng thời gian thực hành, tập trung vào những nội dung,
kỹ năng người học, doanh nghiệp và xã hội cần, đảm bảo liên thông giữa các bậc
học, cấp học, giữa giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học. Đa dạng hoá các
phương thức đào tạo. Có cơ chế để tổ chức, cá nhân người sử dụng lao động tham
gia xây dựng, điều chỉnh, thực hiện chương trình đào tạo và đánh giá năng lực
người học.
- Đổi mới phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp học, bậc học. Cải cách mục
tiêu, nội dung, hình thức kiểm tra, thi và đánh giá kết quả giáo dục và đào tạo, đẩy
9
mạnh ứng dụng công nghệ thông tin. Từng bước áp dụng kiểm định, đánh giá theo
10
được phân bố vào ngành nghề, lĩnh vực, khu vực nào và có thể coi đây là nhân lực
xã hội”.
Nhân lực của đất nước nói chung, của địa phương, của cơ quan và ngay cả mỗi
gia đình đều cần được phát triển. Phát triển nhân lực là các hoạt động đầu tư nhằm
tạo ra nhân lực với số lượng và chất lượng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã
hội của đất nước, đồng thời đảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân. Áp dụng vào
phạm vi địa phương, có thể định nghĩa: Phát triển nhân lực địa phương là các hoạt
động đầu tư có mục đích trong toàn bộ các lĩnh vực ở địa phương nhằm tạo ra
nguồn lực con người với số lượng và chất lượng đáp ứng nhu cầu phát triển của địa
phương, đồng thời đảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân.
Từ các khái niệm “Phát triển nhân lực”, “Chính sách phát triển nhân lực”, có
thể định nghĩa khái niệm “Thực hiện chính sách phát triển nhân lực ở địa phương là
việc hiện thực hóa, cụ thể hóa các chương trình, kế hoạch phát triển nhân lực vào
thực tiễn tại địa phương trong một khoảng thời gian nhất định, nhằm đạt mục tiêu
phát triển kinh tế, xã hội đã đề ra của địa phương”.
1.2.2. Ý nghĩa và tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách phát triển
nhân lực
Tổ chức thực hiện chính sách là trung tâm kết nối các khâu trong chu trình
chính sách thành một hệ thống. Việc hoạch định chính sách đúng có chất lượng là
rất quan trọng, nhưng thực hiện đúng chính sách còn quan trọng hơn. Việc thực
hiện đúng chính sách sẽ có ý nghĩa vô cùng quan trọng, tạo lập được niềm tin,
nâng cao uy tín của chủ thể hoạch định và ban hành chính sách (uy tín của Nhà
nước). Chính sách đúng đắn sẽ tạo dựng được niềm tin và sự phản ứng tích cực từ
nhân dân đối với nhà nước. Điều này là hoàn toàn gây lợi ích về mặt chính trị và
xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho Nhà nước trong quá trình thực hiện chính sách
phát triển nhân lực.
Qua kết quả thực hiện chính sách phát triển nhân lực sẽ giúp ta biết được
dựng và hoàn thiện khung pháp lý về chính sách phát triển nhân lực. Ban Chấp
hành Trung ương Đảng, Chính phủ, các Bộ ngành đã ban hành văn bản như:
- Nghị quyết số 29 – NQ/TW ngày 04/11/2013 của Bộ Chính trị “về đổi mới
căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại
hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập
quốc tế”;
12
- Quyết định số 1216/QĐ-TTg ngày 22/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt quy hoạch chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020;
- Quyết định số 579/QĐ-TTg ngày 19/4/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011 – 2020;
Hệ thống pháp luật trên là công cụ pháp lý quan trọng để đảm bảo triển khai
thực hiện chính sách phát triển nhân lực, giúp các cơ quan nhà nước nâng cao hiệu
lực, hiệu quả quản lý về xây dựng chính sách phát triển nhân lực; các văn bản nêu
trên đã cụ thể hóa một cách hữu hiệu, tích cực đường lối chủ trương của Đảng đối với
công tác phát triển nhân lực.
1.3.2. Phổ biển, tuyên truyền chính sách phát triển nhân lực
Việc phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách cho các đối tượng có liên
quan. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến các kế hoạch tổ chức triển khai
thực hiện chính sách có thể được thực hiện thông qua phối hợp với các đoàn thể
chính trị xã hội để quán triệt nội dung hay có thể đăng tải, tuyên truyền trên báo chí,
trang thông tin điện tử để cho các đối tượng thụ hưởng được biết và thực hiện chính
sách. Việc xây dựng các văn bản hướng dẫn cụ thể thực hiện chính sách phải đảm
bảo chính xác, cụ thể, dễ hiểu, dễ thực hiện. Nếu thực hiện tốt công tác tuyên
truyền, phổ biến thì chính sách sẽ được các đối tượng thụ hưởng tiếp nhận một cách
nhanh chóng và tạo thuận lợi trong việc triển khai thực hiện chính sách.
Phổ biến, tuyên truyền chính sách tốt sẽ giúp cho mọi người dân tham gia thực
Đồng thời chủ động điều chỉnh, bổ sung chính sách cho phù hợp với hoàn cảnh mới.
Trong chừng mực nào đó để đảm bảo lợi ích chung cho xã hội, các cơ quan nhà
nước có thể kết hợp sử dụng biện pháp hành chính để duy trì chính sách bảo vệ
quyền, lợi ích cho đối tượng tham gia.
Tăng cường thực hiện dân chủ để người dân mạnh dạn tham gia quản lý xã
hội, trong đó tự ý thức được tầm quan trọng của chính sách phát triển nhân lực và
tham gia tìm kiếm, đề xuất biện pháp thực hiện mục tiêu với các cơ quan nhà nước
để điều chỉnh bổ sung chính sách ngày càng hoàn chỉnh và phù hợp với thực tiễn.
Những hoạt động trên sẽ góp phần tích cực vào việc duy trì chính sách phát triển
nhân lực trong giáo dục đại học hiện nay.
1.3.5. Điều chỉnh chính sách phát triển nhân lực
Điều chỉnh chính sách phát triển nhân lực là một hoạt động cần thiết diễn ra
thường xuyên trong tiến trình tổ chức thực hiện chính sách phát triển nhân lực. Nó
được thực hiện bởi cơ quan quản lý nhà nước về phát triển nhân lực cấp Trung ương
14
để chính sách này ngày càng phù hợp với yêu cầu quản lý và tình hình thực tế của
đất nước. Theo quy định cơ quan nào ban hành chính sách thì được quyền điều
chỉnh bổ sung chính sách, nhưng trên thực tế việc điều chỉnh các biện pháp, cơ chế
chính sách phát triển nhân lực diễn ra rất năng động, linh hoạt. Vì thế các cơ quan
nhà nước, các ngành, các cấp chủ động điều chỉnh biện pháp, cơ chế chính sách,
miễn là không làm thay đổi mục tiêu chính sách. Nếu cần hoàn thiện mục tiêu chính
sách, các cơ quan nhà nước, các ngành, địa phương chủ động đề xuất với cơ quan
ban hành (Quốc hội hay Chính phủ) thực hiện. Một nguyên tắc cần phải chấp hành
khi điều chỉnh chính sách phát triển nhân lực là để chính sách tiếp tục tồn tại chỉ
được điều chỉnh các biện pháp, cơ chế thực hiện mục tiêu chính sách hoặc bổ sung,
hoàn chỉnh mục tiêu theo yêu cầu thực tế. Nếu điều chỉnh là thay đổi mục tiêu,
nghĩa là làm thay đổi chính sách, thì coi như chính sách phát triển nhân lực không
Việc xem xét, đánh giá tổng kết về chỉ đạo, điều hành thực hiện chính sách
phát triển nhân lực của các cơ quan nhà nước trong hệ thống chính trị từ Trung
ương đến cơ sở. Nội dung đánh giá, tổng kết công tác chỉ đạo, điều hành là chương
trình hành động, kế hoạch được xây dựng để thực hiện chính sách phát triển nhân
lực và những nội quy, quy chế, các văn bản hướng dẫn, văn bản liên tịch, chương
trình phối hợp và các văn bản quy phạm khác để xem xét tình hình phối hợp chỉ
đạo, điều hành thực hiện chính sách.
Việc đánh giá tổng kết trong thực hiện chính sách phát triển nhân lực sẽ chỉ ra
được chính xác ưu điểm, hạn chế, kinh nghiệm trong thực hiện chính sách phát triển
nhân lực. Có như vậy chính sách phát triển nhân lực mới phù hợp với thực tế, đúng
với định hướng mà Đảng và Nhà nước đề ra.
1.4. Các phương pháp thực hiện chính sách phát triển nhân lực
Phương pháp thực hiện chính sách nói chung, chính sách phát triển nhân lực
nói riêng là một khâu rất quan trọng trong quá trình thực hiện, bởi chính sách có
được thực hiện đúng định hướng hay không, có khoa học, hợp lý, quyết định sự
thành công hay thất bại của quá trình thực hiện chính sách là ở khâu này. Phương
pháp thực hiện chính sách phát triển nhân lực gồm:
Một là, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển
nhân lực. Nâng cao nhận thức về ý nghĩa và tầm quan trọng của việc phát triển nhân
lực nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Trên
cơ sở quy hoạch phát triển nhân lực của địa phương, các cấp, các ngành, các địa
phương, các doanh nghiệp, các cơ quan chức năng chủ động phối hợp một cách chặt
16
chẽ, đồng bộ trong quá trình xây dựng, triển khai thực hiện chương trình, kế hoạch,
đề án phát triển nhân lực cho ngành, lĩnh vực, địa phương của mình, bảo đảm tạo sự
thống nhất, đồng bộ và hiệu quả cao cho sự phát triển nhân lực.
Hai là, tiếp tục xây dựng, bổ sung hoàn thiện cơ chế, chính sách: triển khai
bên ngoài, mở rộng liên kết đào tạo bằng vốn, công nghệ, đội ngũ giảng viên của nước
ngoài để nhanh chóng đào tạo nhân lực trong tỉnh đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.
Năm là, kinh phí thực hiện đề án phát triển nhân lực: huy động và sử dụng có
hiệu quả các vốn cho phát triển nhân lực, bao gồm: vốn ngân sách nhà nước; vốn
hỗ trợ phát triển chính thức ODA, vốn FDI, NGO, liên kết hợp tác quốc tế, vốn tín
dụng, vốn của các thành phần kinh tế, vốn trong nhân dân. Hằng năm, cân đối, bố
trí thỏa đáng ngân sách, huy động từ 12 - 13% tổng vốn đầu tư toàn xã hội để đầu tư
phát triển nhân lực. Thực hiện các cơ chế, chính sách ưu đãi về thuế thu nhập doanh
nghiệp, hỗ trợ về đất đai và ưu đãi tín dụng… để tranh thủ tối đa các vốn đầu tư
đẩy mạnh phát triển nhân lực.
1.5. Các chủ thể thực hiện chính sách phát triển nhân lực
- Chủ thể thứ nhất: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo duy nhất
và toàn diện về mọi mặt đời sống xã hội của đất nước. Đảng là chủ thể lãnh đạo,
định hướng việc hình thành mục tiêu, nguyên tắc và các giải pháp để phát triển mọi
ngành, mọi lĩnh vực, mọi chính sách, trong đó có chính sách phát triển nhân lực.
Vai trò lãnh đạo đó được thực hiện tập trung, thống nhất từ Trung ương đến cơ sở.
Đối với chính sách phát triển nhân lực thì vai trò chủ thể của Đảng thể hiện trước
hết ở việc đề ra các chủ trương, giải pháp lớn để làm cơ sở triển khai thực hiện như:
Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 28-6-1997 của Ban Chấp hành Trung ương khoá
VIII về Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước; Kết luận số 86-KL/TW ngày 24/01/2014 của Bộ Chính trị về chính sách thu
hút nhân lực, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ.
Cùng với việc định hướng cho sự hình thành chính sách phát triển nhân lực, các cấp
ủy Đảng là đơn vị chỉ đạo, lãnh đạo tổ chức thực hiện các chính sách thông qua các
cơ quan Nhà nước, đội ngũ đảng viên và cán bộ công chức.
- Chủ thể thứ hai: Theo Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 thì các cơ quan
của Quốc hội gồm có Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc và 9 Ủy
ban, trong đó có 3 Ủy ban có chức năng liên quan đến chính sách phát triển nhân
lực gồm:
chức hành chính, sự nghiệp nhà nước; chính quyền địa phương, địa giới hành chính;
cán bộ, công chức, viên chức nhà nước; đào tạo, bồi dưỡng về chuyên ngành hành
chính và quản lý nhà nước; hội, tổ chức phi chính phủ; thi đua, khen thưởng; tôn giáo;
19
văn thư, lưu trữ nhà nước; thanh niên và quản lý nhà nước đối với các dịch vụ công
thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ theo quy định của pháp luật. Đây là Bộ chủ quản trong
quá trình triển khai thực hiện các chính sách phát triển nhân lực trên địa bàn cả nước.
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư: thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kế hoạch,
đầu tư phát triển và thống kê, bao gồm: tham mưu tổng hợp về chiến lược, kế hoạch
phát triển kinh tế-xã hội của cả nước; quy hoạch phát triển, cơ chế, chính sách quản
lý kinh tế chung và một số lĩnh vực cụ thể; đầu tư trong nước, đầu tư của nước
ngoài vào Việt Nam và đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài; khu kinh tế (bao gồm
cả khu công nghiệp, khu kinh tế cửa khẩu, khu công nghệ cao và các loại hình khu
kinh tế khác); quản lý hỗ trợ phát triển chính thức và viện trợ phi chính phủ nước
ngoài; đấu thầu; thành lập, phát triển doanh nghiệp và khu vực kinh tế tập thể, hợp
tác xã; thống kê; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc
phạm vi quản lý của Bộ theo quy định của pháp luật.
Tổng hợp chung các cân đối chủ yếu của nền kinh tế quốc dân: cân đối tích
lũy và tiêu dùng; cân đối về tài chính, tiền tệ; vay và trả nợ nước ngoài; ngân sách
nhà nước; vốn đầu tư phát triển toàn xã hội và giám sát các cân đối này; đề xuất các
giải pháp lớn để giữ vững các cân đối theo mục tiêu chiến lược và kế hoạch; phối
hợp với Bộ Tài chính trong việc xây dựng và lập dự toán ngân sách nhà nước, bảo
đảm thực hiện mục tiêu kế hoạch.
- Bộ Tài chính: Chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan
thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương, UBND cấp tỉnh trong việc xây dựng,
trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quy định hoặc quy định theo thẩm quyền các
định mức phân bổ và các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách theo quy định