TUYỂN TẬP BÀI TẬP PHỔ THÔNG, ĐẠI HỌC, SAU ĐẠI HỌC
LUẬN ÁN-ĐỒ ÁN-LUẬN VĂN-KHOÁ LUẬN-TIỂU LUẬN
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM ARSEN TRONG NƯỚC NGẦM
VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN SỨC KHOẺ CỘNG ĐỒNG
Nguyễn Thị Thu
Trang 1/67 trang
MỤC LỤC
08. TCVN 5992 : 1995 (ISO 5667-2 : 1991): Chất lượng nước, lấy mẫu, hướng dẫn kĩ thuật
mẫu. 66
09. TCVN 5993 : 1995 (ISO 5667 - 3 : 1985): Chất lượng nước, lấy mẫu, hướng dẫn bảo
quản và xử lí mẫu. 66
Nguyễn Thị Thu
Trang 2/67 trang
CHƯƠNG I. MỞ ĐẦU
I.1. Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, ô nhiễm môi trường nước và tác động của các yếu tố ô nhiễm lên
sức khoẻ cộng đồng đang diễn biến phức tạp khiến rủi ro môi trường ngày càng tăng cao. Ngày
nay, rủi ro môi trường được coi là một trong những loại rủi ro đặc biệt quan trọng và nghiêm
trọng đối với các nước đang phát triển, các nước đang đẩy mạnh hiện đại hoá công nghiệp hoá
và cả những nước công nghiệp phát triển, có thu nhập cao. Một số quốc gia quan tâm đến rủi ro
về sức khoẻ như bệnh ung thư, suy dinh dưỡng, đột biến, béo phì, một số khác thì quan tâm đến
diện tích thuộc vùng sâu vùng xa chưa được tiếp cận với nước sạch. Chính vì vậy, nguy cơ
những ảnh hưởng có hại từ nguồn nước ngầm đến người dân sử dụng nước ngầm làm nguồn
nước sinh hoạt tại hai huyện là khá cao.
Trên cơ sở đó, đề tài lựa chọn vấn đề “Khảo sát hiện trạng ô nhiễm arsen trong nước
ngầm và đánh giá rủi ro lên sức khỏe cộng đồng tại hai huyện Đơn Dương và Đức Trọng
thuộc tỉnh Lâm Đồng” để thực hiện nghiên cứu nhằm xác định nồng độ arsen ở một số huyện
thuộc Lâm đồng và đánh giá ảnh hưởng tới sức khỏe người dân, từ đó đưa ra những khuyến cáo
và biện pháp phòng tránh giảm thiểu những tác động có hại cho người dân trong hai huyện nói
riêng và trong tỉnh Lâm Đồng nói chung.
I.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: arsen trong nước ngầm và dân cư sử dụng nguồn nước ngầm này
vào mục đích sinh hoạt tại hai huyện Đức Trọng và Đơn Dương thuộc tỉnh Lâm Đồng
- Phạm vi nghiên cứu: hai huyện Đức Trọng và huyện Đơn Dương thuộc tỉnh Lâm Đồng
I.3. Mục tiêu của đề tài
- Quan trắc nồng độ arsen trong môi trường nước ngầm tại hai huyện Đơn Dương và Đức
Trọng thuộc tỉnh Lâm Đồng.
- Tính toán liều lượng tiếp nhận vào cơ thể đối với cộng đồng dân cư sử dụng nguồn nước
ngầm bị ô nhiễm arsen vào mục đích sinh hoạt.
- Đánh giá rủi ro đến sức khỏe khi con người phơi nhiễm với arsen trong nước ngầm.
I.4. Nội dung nghiên cứu
- Thu thập khảo sát các số liệu về diện tích, dân số, số giếng nước, phân bố dân cư và phân
bố nước ngầm của huyện.
- Lên kế hoạch quan trắc: chia ô lưới, chọn địa điểm thu mẫu, tần suất lấy mẫu, phương pháp
thu, bảo quản và phân tích mẫu.
Nguyễn Thị Thu
CHƯƠNG II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
II.1. Tổng quan về arsen
II.1.1. Một số tính chất của arsen (As)
As chiếm 1.10-4 % tổng số nguyên tử trong vỏ trái đất, chúng tồn tại chủ yếu ở dạng
khoáng vật sunfua: Sunfide Orpiment vàng – As2S3 và Realgar đỏ - As4S4;…
Trong bảng hệ thống tuần hoàn các nguyên tố hoá học, Arsenic nằm ở phân nhóm Va
với một số các đặc trưng:
Bảng II.1 Tính chất hóa học của nguyên tử arsen
Ký hiệu hoá học
As
Z
33
Cấu hình e
[Ar]3d104s24p3
Rn/tử (AO)
1,48
Rion E3- (AO)
1,92
Rion E5+ (AO)
As tồn tại ở hai dạng kim loại và không kim loại:
Ở dạng không kim loại As là chất rắn màu vàng (còn gọi là As vàng) được tạo nên khi
làm ngưng tụ hơi, có mạng lưới lập phương (giống Photpho trắng), kiến trúc mạng lưới
bao gồm các phân tử As 4 liên kết với nhau bằng lực Vanderwaals. Phân tử As 4 có cấu tạo
hình tứ diện đều với các nguyên tử As nằm ở đỉnh. Do có mạng lưới phân tử nên As vàng
kém bền ở nhiệt độ thường dưới tác dụng của ánh sáng dễ chuyển sang dạng kim loại
(dạng bền hơn).
Dạng kim loại có màu bạc trắng, hơi xám (gọi là As xám). As xám có cấu trúc dạng
Polime, có mạng lưới nguyên tử giống Photpho đen, có khả năng dẫn nhiệt, dẫn điện
nhưng giòn có thể nghiền thành bột dễ dàng.
Nguyễn Thị Thu
Trang 6/67 trang
As tồn tại ở các mức oxi hóa -3, +3, +5 với các hợp chất As(III) (Asenhidrua, Các
Asenua kim loại,Asen(III) oxit – As 2O3, Acid Asenous, Asensunfua: As 4S6.
Asentrihalogenua: AsX3) và hợp chất As(V) (Asen oxit : As2O5 ;Acid Asenic ;Asen
Sunfua : As2S5 ; Asen Pentahalogenua : Chỉ có AsF5).
II.1.2. Dạng tồn tại của arsen trong môi trường
II.1.2.1. Sự xuất hiện của arsen và hợp chất arsen trong môi trường
Những nghiên cứu về sự hình thành của As trong môi trường và trong các mẫu sinh
học đang là những chủ đề được quan tâm đến nhiều nhất hiện nay. As xuất hiện trong tự
nhiên một cách phổ biến trong các khoáng vật, bên cạnh đó, sự sử dụng As một cách rộng
rãi trong các hoá chất nhuộm màu, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ là những nguồn chính cho
sự có mặt của arsenic trong môi trường.
Trên thực tế, trước đây As được ứng dụng trong một số lĩnh vực như sau:
•
arsenic
acids
(H3AsO4,
H2AsO4–,
HAsO42–),
dimethylarsinate
(DMA),
monomethylarsonate(MMA), arsenobetaine(AB) và arsenocholine (AC).
Những dạng hợp chất này minh hoạ cho sự đa dạng của các trạng thái oxy hoá của As
và kết quả là đưa đến sự phức tạp về hoá tính của nó trong môi trường.
Trong pha nước với môi trường thoáng khí acid, Arsenic chiếm ưu thế ở pH cực kỳ
thấp (pH
xúc tác cho quá trình oxi hoá từ arsenite thành arsenat đồng thời cũng thúc đẩy sự tạo
thành methyl arsines thông quá các quá trình sinh học. Sản phẩm methyl hoá arsenic
được tạo thành bởi các vi khuẩn methogenic trong điều kiện hiếu khí.
Nguyễn Thị Thu
Trang 9/67 trang
Các hợp chất arsenic bị methyl hoá bởi vi khuẩn và nấm tạo thành dimethyl và
trimethylarsine bởi một cơ chế liên quan tới sự thay thế của các nguyên tử oxygen bởi
các nhóm methyl. Sự methyl hoá được xem như là một cơ chế giải độc đối với các vi sinh
vật và đóng vai trò quan trọng trong sự chuyển hoá As từ trầm tích vào nước và không
khí.
McBride và Wolfe cho rằng arsenat có thể bị chuyển hoá thành dimethylarsine bởi
Methanobacterium dưới điều kiện hiếu khí. Methylarsonic được tạo thành từ sự methyl
hoá arsenite có thể chuyển hoá qua các sản phẩm trung gian và cuối cùng bị khử thành
dimethylarsine.
Trong điều kiện acid loài nấm Cadida humicola có thể chuyển hoá Arsenate thành
Trimethylarsine. Một phần ít hơn của Trimethylarsine cũng được tạo thành bởi loài nấm
này từ Arsenite, methylarsonate và dimethylarsinate. Những loài nấm có khả năng tạo ra
sản phẩm trimethylarsine từ các hoá chất bảo vệ thực vật monomethylarsonate và
dimethylarsinate bao gồm: Candida humicola, Gliocaninum roseum và một giống của
Penicillium.
Sự methyl hoá của As đóng vai trò quan trọng bởi vì kết quả của quá trình là tạo ra các
sản phẩm cực độc:
Nguyễn Thị Thu
Trang 10/67 trang
hàm lượng As trong cơ thể con người để tìm hiểu hoàn cảnh và môi trường sống, như
hàm lượng As trong tóc nhóm dân cư khu vực nông thôn trung bình là 0,4-1,7 ppm, khu
vực thành phố công nghiệp 0,4-2,1 ppm, còn khu vực ô nhiễm nặng 0,6-4,9 ppm.
Sự xâm nhập, phân bố và lưu trữ của Arsenic cũng như các hợp chất của nó trong cơ
thể người có thể hình dung theo sơ đồ sau:
Hình II.4. Sự xâm nhập của arsen và những hợp chất của nó trong cơ thể
Sự nhiễm độc As có thể phân loại thành các dạng nhiễm độc cấp tính và nhiễm độc
mãn tính với các biểu hiện:
•
Ngộ độc As cấp tính : khát nước dữ dội, đau bụng, nôn mửa, tiêu chảy, mạch đập
yếu, bí tiểu và có thể tử vong .
•
Nhiễm độc As mãn tính: xuất hiện các đốm sẫm màu trên thân thể hay ở đầu các
chi, niêm mạc lưỡi hoặc sừng hóa da (thường xuất hiện ở tay, chân, phần cơ thể bị cọ sát
nhiều hoặc tiếp xúc với ánh sáng nhiều), có thể gây đến hoại tử, rụng dần từng đốt ngón
chân... cuối cùng sẽ có thể dẫn đến ung thư, đột biến gen và tử vong.
•
Sự nhiễm độc As mãn tính được phân làm bốn giai đoạn chính:
Nguyễn Thị Thu
Trang 12/67 trang
nhiều phương pháp khác nhau và một số các phương pháp định lượng As được biết như
phương pháp hấp phụ nguyên tử, phương pháp phổ hấp thụ phân tử, phương pháp điện hoá,
phương pháp kích hoạt nơtron – NAA, phương pháp sắc ký…
II.1.4.1. Phương pháp khối lượng
Xác định As dựa trên việc kết tủa As 2S3 bằng dithioaxetamit trong môi trường axit HCl, hoặc
H2SO4 hoặc HClO4 0,1N. Dung dịch chứa kết tủa được đun trên bếp cách thuỷ, lọc lấy kết tủa
sấy khô ở 2000C đến khối lượng không đổi, rửa lại bằng nước cất và làm khô ở nhiệt độ 170 0C.
Cân kết tủa và tính hàm lượng As tương ứng. Tuy nhiên phương pháp này chỉ áp dụng với mẫu
có hàm lượng As lớn và phải thực hiện qua nhiều công đoạn.
II.1.4.2. Phương pháp phân tích thể tích
Xác định As dựa trên phản ứng oxi hoá khử: AsO32- + I2 + H2O -> AsO43- + 2I- + 2H+
Phản ứng phụ thuộc vào nồng độ H +, vì vậy để phản ứng xảy ra theo chiều thuận, phải thực
hiện trong điều kiện dư NaHCO3 (dung dịch có pH = 8). Chất chỉ thị là hồ tinh bột. Phương
pháp này cho phép xác định được hàm lượng As từ 0,1% đến vài chục phần trăm.
II.1.4.3. Phương pháp phân tích trắc quang
As trong dung dịch phân tích được khử về asin bằng natri hydroborat ở môi trường pH=6,
khí asin được dẫn đi trong dòng N2 qua bình thuỷ tinh đựng chì axetat, sau đó được dẫn vào
bình chứa thuốc thử bạc dietyldithiocacbamat, ở đó As sẽ tạo phức màu đỏ với bạc dietyl
dithio cacbamat có bước sóng hấp thụ quang là 520nm. Trong phương pháp này sunfua các
nguyên tố kim loại: crom, coban, đồng, thuỷ ngân,… có ảnh hưởng đến việc xác định As,
song có thể loại trừ ảnh hưởng bằng cách dùng axetat chì để giữ lại khí sunfua. Ngoài ra, khi
Nguyễn Thị Thu
Trang 14/67 trang
II.1.4.7. Phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử ngọn lửa F-AAS
Nguyễn Thị Thu
Trang 15/67 trang
Nhiệt độ của ngọn lửa đèn khí được điều chỉnh phụ hợp với từng nguyên tố và từng loại
dung dịch mẫu. Khí được đốt để tạo ra ngọn lửa có thể là hỗn hợp C 2H2-KK hay hỗn hợp N2OC2H2 hoặc H2-C2H2. Dựa vào tính chất nguyên tử của từng nguyên tố mà chọn ngọn lửa cho
nhiệt độ thích hợp.
II.1.4.8. Phương pháp quang phổ hấp thụ không ngọn lửa (ETA-AAS)
Quá trình nguyên tử hoá được thực hiện trong cuvet graphit hay thuyền tăng tan với thời gian
ngắn (sự nguyên tử hoá tức khắc) nhờ năng lượng của dòng điện công suất lớn ở môi trường khí
trơ. Nguồn năng lượng thường được dùng hiện nay là dòng điện có cường độ dòng rất cao (từ
50-600A) và hiệu điện thế thấp (nhỏ hơn 12V) hay năng lượng của dòng cao tần cảm ứng.
II.1.5. Tiêu chuẩn về arsen
Theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm QCVN 09:2008/BTNMT, tiêu
chuẩn nước ngầm đối với arsen là 0,05 mg/L.
Trước thảm hoạ thạch tín đang hiện hữu ở nhiều Quốc gia bị nhiễm arsen, trong đó Băng-lađét nghiêm trọng nhất, ngày 24/5/2000, Cục Bảo vệ môi trường Hoa Kì (EPA) quyết định giảm
thông số arsen trong Tiêu chuẩn nước uống của Hoa Kì từ 0,05 mg As/L, ngang TCVN, xuống
còn 0,005 mg As/L.
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) từ năm 1993 đến nay, có khuyến cáo, nồng độ Arsen trong
nước uống không được lớn hơn 0,01mg/L. Từ năm 2002, Bộ Y tế Việt Nam đã đưa tiêu chuẩn
arsen nhỏ hơn hoặc bằng 0,01 vào áp dụng. Hiện nay, Tiêu chuẩn Nhà nước về nước uống
TCVN 5501-1991 và Tiêu chuẩn vệ sinh đối với nước uống và sinh hoạt của Bộ Y tế QĐ
505:2002/BYT qui định thông số arsen không được lớn hơn 0,01mg As/L.
II.1.6. Giảm thiểu arsen trong nước
•
Quá trình sinh học loại bỏ As trong nước
Hầu hết các quá trình này đã trở thành những công nghệ xử lý nước nhiễm As truyền thống
chẳng hạn như hấp phụ, trao đổi ion, lọc màng… Một số quá trình như hấp phụ trên nhôm hoạt
tính, trao đổi ion đã được sử dụng để sử lý As trong nguồn nước sinh hoạt ở quy mô nhỏ như
hộ gia đình. Các quá trình sinh học hay điện hóa cũng được nghiên cứu để xử lý nước nhiễm
As. Tuy nhiên, các nghiên cứu này hầu như đang còn ở mức độ thí nghiệm mà chưa được áp
dụng thực tế một cách rộng rãi. Các quá trình hấp phụ và trao đổi ion hiện nay đang là những
quá trình có khuynh hướng được sử dụng nhiều trong thực tế do chi phí thiết bị và bảo dưỡng
thấp, không yêu cầu trình độ chuyên môn cao khi vận hành.
II.1.6.2. Một số cách để hộ dân tự phòng tránh arsen
• Ở hộ gia đình dùng bơm điện
Giàn mưa làm bằng ống nhựa, đường kính 27mm, khoan 150-200 lỗ, mỗi lỗ có đường kính
1,5-2mm tuỳ công suất máy bơm đang sử dụng. Dưới cùng của bể lọc là lớp sỏi đỡ dày khoảng
1 gang, trên lớp sỏi đỡ là lớp cát dày khoảng 2,5-3 gang. Không dùng loại đệm lót giường, hoặc
than củi dễ sinh phản ứng phụ, làm tăng nồng độ nitrit trong nước.
• Ở hộ gia đình dùng bơm tay
Nước từ vòi bơm róc vào máng mưa. Máng mưa cần có nhiều lỗ nhỏ để không khí dễ tan vào
nước, phát huy hiệu quả oxi hoá của oxi có sẵn trong không khí. Sau khi qua máng mưa, nước
cho chảy qua bể lọc có 3 ngăn: ngăn đầu dùng lọc cặn, nước thô chảy từ dưới lên; có đường xả
cặn ở đáy, ngăn hai dùng lọc tinh, nước chảy từ trên xuống, ngăn thứ ba dùng chứa nước sạch.
Nguyễn Thị Thu
Trang 17/67 trang
khắp thế giới tiêu thụ khoảng 10 tới 50 phần tỷ arsen trong nước uống của họ.
II.1.7.2. Tình hình ô nhiễm arsen ở Việt Nam
Nguyễn Thị Thu
Trang 18/67 trang
Do cấu tạo địa chất, nhiều vùng ở nước ta nước ngầm bị nhiễm arsen. Theo thống kê chưa
đầy đủ của Bộ Y tế (2009), cả nước có khoảng hơn 1 triệu giếng khoan, trong đó nhiều giếng có
nồng độ arsen cao hơn từ 20-50 lần nồng độ cho phép (0.01mg/L), ảnh hưởng xấu đến sức
khoẻ, tính mạng của cộng đồng.
Hình II.5. Bản đồ các khu vực nhiễm arsen trên toàn quốc
(Trên bản đồ Lâm Đồng đang là điểm nóng về ô nhiễm arsen)
Theo kết quả cuộc khảo sát của Viện Công nghệ Môi trường, Viện Khoa học và Công nghệ
Việt Nam, Cục Thuỷ Lợi, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn 2004, tại
châu thổ sông Hồng, những vùng bị nhiễm nghiêm trọng nhất là phía Nam Hà Nội, Hà Nam,
Hà Tây, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình và Hải Dương. Ở Đồng bằng sông Cửu
Long, cũng phát hiện nhiều giếng khoan có nồng độ arsen cao nằm ở Đồng Tháp và An Giang.
Hiện 21% dân số Việt Nam đang dùng nguồn nước nhiễm arsen vượt quá mức cho phép và tình
trạng nhiễm độc arsen ngày càng rõ rệt và nặng nề trong dân cư. Song phần lớn người dân vẫn
không hề hay biết những tác hại nghiêm trọng đối với sức khỏe khi tích tụ những chất độc này
trong cơ thể.
Theo kết quả điều tra của Cục Thuỷ lợi thuộc Bộ NN&PTNT ngầm tại Hà Nội 2002, 2003,
nguồn nước ngầm của Hà Nội cũng đang ở mức báo động vì bị nhiễm Arsen vượt tiêu chuẩn
Nguyễn Thị Thu
Trang 19/67 trang
arsen ở phía Nam của Hà Nội là vấn đề nghiêm trọng nhất ở Việt Nam hiện nay.
Những cuộc khảo sát về nồng độ arsen trong nước sinh hoạt của người dân khu vực nông
thôn do Cục Thuỷ lợi, Trung tâm nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn-CERWASS (Bộ
Nguyễn Thị Thu
Trang 20/67 trang
NN&PTNT), Viện Công nghệ và Môi trường, Bộ Y tế tiến hành trên 23 tỉnh cho kết quả nồng
độ arsen trong nước ở các tỉnh này vượt chuẩn cho phép 47,17%.
Trong đó, các tỉnh có nguồn nước nhiễm arsen cao là Hà Nam (64,03%), Hà Nội (61,63%),
Hải Dương (51,99%). Đáng nói là nhiều mẫu nước có hàm lượng arsen vượt quá 100 lần so với
tiêu chuẩn cho phép.
II.1.7.3. Tình hình arsen tại Lâm Đồng
Theo báo cáo của Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Đức Trọng, hiện một số
mẫu nước trong các khe suối thuộc khu vực K74 thuộc xã Đạ Quyn - điểm nóng đào đãi vàng
trái phép ở huyện Đức Trọng có hàm lượng Arsen cao gấp từ 5.698 - 5.733 lần so với quy định.
Tại Lâm Đồng hiện nay chưa có báo cáo chính thức nhưng nhiều nghiên cứu được thực hiện
cho thấy Lâm Đồng có nồng độ arsen trong nước ngầm đáng báo động, thuộc danh sách các
tỉnh có arsen cao trong cả nước.
II.2. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
II.2.1. Giới thiệu chung về tỉnh Lâm Đồng
Lâm Đồng là tỉnh miền núi Nam Tây Nguyên có diện tích tự nhiên 9.764,8km 2, chiếm
khoảng 2,9% diện tích cả nước, dân số 996.221 người, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số
chiếm 23% dân số toàn tỉnh. Lâm Đồng có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, xã hội, an
ninh, quốc phòng, là vùng đất giàu về tài nguyên thiên nhiên, có nhiều thế mạnh, tiềm năng đã
và đang được khai thác phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
diện, bao gồm cả nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương
nghiệp, dịch vụ. Đức Trọng là một trong những địa danh quen thuộc đối với du khách trong
nước và với du khách nước ngoài. Hồ Nam Sơn được quy hoạch sẽ là điểm du lịch và hoạt
động dịch vụ văn hoá - thể thao. Huyện có sân bay Liên Khương là cửa ngõ ra vào thành phố
Đà Lạt bằng đường hàng không.
Về vị trí địa lý, huyện Đức Trọng nằm ở vùng giữa của tỉnh Lâm Đồng, phía Đông Bắc giáp
thành phố Đà Lạt, phía Nam giáp tỉnh Bình Thuận, phía đông giáp huyện Đơn Dương và tỉnh
Ninh Thuận, phía tây giáp huyện Di Linh và Lâm Hà. Diện tích tự nhiên 902,2km 2, dân số
177.952 người (năm 2009), chiếm 9,3% về diện tích và 14% dân số toàn tỉnh.
Huyện Đức Trọng có mật độ dân số vào loại cao trong tỉnh: 197 người/km 2. Thành phần dân
số thuộc 27 dân tộc anh em, trong đó các dân tộc thiểu số chiếm 30%, chủ yếu là người Chu
Ru, K’Ho và một số đồng bào dân tộc ở các tỉnh phía Bắc di cư vào từ năm 1954.
Bảng II.2. Dân số huyện Đức Trọng (2009)
Tên xã
Số dân
Diện tích (km2)
Mật độ (người /km2)
Tà Năng
5304
150
35.36
147.51
Phú Hội
18202
107
170.11
Đà Loan
10239
54.9
186.50
N'Thol Hạ
6765
35.3
191.64
Hiệp An
10368
10828
23.6
458.81
Bình Thạnh
7240
15.4
470.13
Liên Nghĩa
50048
37.4
1338.18
Tổng
177952
902.5
Nguyễn Thị Thu
7 khu phố, 1 thôn
2.
Thị trấn Dran
133.3
16024
06 khu phố, 7 thôn
3.
Xã Quảng Lập
9.50
4729
05 thôn
4.
Xã Tutra
74.50
12251
10 thôn
8.
Xã Đà Ròn
33.49
7814
8 thôn
9.
Xã Lạc Lâm
21.20
9081
10 thôn
103.50
12154
15 thôn
STT
Lạt
và
huyện
Lạc
Dương.
Trang 24/67 trang
Địa hình được chia làm 3 dạng chính: địa hình núi cao; địa hình đồi thoải lượn sóng; địa hình
thung lũng sông suối.
Ở địa phương gồm có các loại đất chính sau: đất phù sa dốc tụ; đất phù sa sông suối; đất phù
sa không được bồi hàng năm; đất nâu đỏ trên Ban Zan; đất đỏ vàng trên đá phiến; đất mùn vàng
đỏ Gzanit và Daxit.
II.2.4. Tính chất nước ngầm tại Lâm Đồng
Đoàn Địa chất thủy văn -Địa chất công trình 707 (nay là Đoàn Quy hoạch và Điều tra tài
nguyên nước) đã đề xuất đề tài “Xây dựng bản đồ quản lý nước ngầm vùng trọng điểm dân cư,
kinh tế trên từng địa bàn huyện” và được cơ quan quản lý và UBND tỉnh lần lượt phê duyệt,
thực hiện cho các đơn vị hành chính của tỉnh trong các năm 1999-2009. Kết quả điều tra đã
đánh giá trữ lượng khai thác, trữ lượng triển vọng khai thác và trữ lượng tiềm năng cho từng
vùng đạt từ 87.000m3/ngày (vùng Di Linh) đến 354.000m3/ngày (vùng Bảo Lộc).
Năm 2009 là năm cuối cùng đề tài tiếp tục xây dựng bản đồ quản lý nước ngầm thành phố
Đà Lạt, thị xã Bảo Lộc, huyện Bảo Lâm và tổng hợp kết quả trên toàn tỉnh. Hệ thống bản đồ
quản lý nước ngầm có ưu điểm nổi bật là: