ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHAN PHƯƠNG THẢO
Chính sách quân điền năm 1839 ở Bình Định qua
tư liệu địa bạ
HÀ NỘI - 2003
Mục lục
Trang
Danh mục các bảng thống kê
1
Danh mục các bản đồ, biểu đồ
3
Mở đầu
4
Ch-ơng I : tình hình sở hữu ruộng đất nửa đầu thế kỷ XIX
17
và chủ tr-ơng quân điền năm 1839 ở Bình định
39
1.3. S-u tập địa bạ Bình Định
1.3.1. S-u tập địa bạ Bình Định lập tr-ớc và sau quân điền năm
1839
1.3. 2. Những địa bạ đ-ợc tuyển chọn để khảo cứu
Tiểu kết ch-ơng 1
Ch-ơng 2: tình hình sở hữu ruộng đất ở Bình Định
45
45
48
58
60
tr-ớc quân điền năm 1839 qua địa bạ gia long 14 (1815)
2.1. Những số liệu tổng quát của địa bạ và đặc điểm
sở hữu ruộng đất
61
2.2. tình hình sở hữu ruộng đất t2.2.1 Phân bố sở hữu ruộng t2.2.2. Sở hữu ruộng của chủ nữ và phụ canh
2.2.3. Sở hữu ruộng của chức sắc
2.2.4. Sở hữu ruộng theo nhóm họ
2.3. Đặc điểm và nguyên nhân của tình trạng sở hữu
ruộng đất ở Bình Định
Tiểu kết ch-ơng 2
134
137
102
109
122
124
128
Ch-ơng 4: kết quả quân điền năm 1839 ở bình định
140
4.1. Biến đổi sở hữu ruộng đất ở Bình Định qua so sánh
địa bạ tại hai thời điểm 1815 và 1839
140
4.1.1. Về cơ cấu sở hữu các loại ruộng đất
4.1.2. Về sở hữu ruộng t-
140
4.1.3. Về sở hữu ruộng của chủ nữ, phụ canh
4.1.4. Về sở hữu ruộng của chức sắc
4.1.5. Về sở hữu ruộng theo nhóm họ
144
165
4.4. nhận xét và đánh giá tổng quát về phép quân điền
169
năm 1839 ở bình định
Tiểu kết ch-ơng 4
179
Kết luận
181
Danh mục công trình của tác giả liên quan trực tiếp tới luận án
186
Tài liệu tham khảo
187
phụ lục (phần phụ lục đóng kèm sau luận án tách thành tập có số trang riêng)
Chữ viết tắt
Viết tắt:
thức sở hữu ruộng đất nói riêng, là cơ sở khoa học giúp chúng ta hiểu đ-ợc bản
chất các kiểu dạng xã hội trong lịch sử, tìm ra qui luật của lịch sử, lý giải các đặc
điểm chung và riêng của Việt Nam trong bối cảnh chung của thế giới và khu vực.
ở Việt Nam, d-ới thời phong kiến, chế độ ruộng đất là cơ sở, là nền tảng
của nhà n-ớc trung -ơng tập quyền, là nguồn thu nhập chủ yếu của các v-ơng
triều phong kiến, đồng thời cũng là nhân tố cơ bản chi phối mọi hoạt động của xã
hội đ-ơng thời.
Tìm hiểu chế độ ruộng đất ở Việt Nam nói chung, giai đoạn nửa đầu thế
kỷ XIX nói riêng, các nhà sử học rất quan tâm những nguồn sử liệu trực tiếp
liên quan đến tình hình sở hữu ruộng đất và việc phân chia ruộng đất của làng
xã qua các thời kỳ mà địa bạ chính là một trong những nguồn sử liệu đó. Rất
may, qua nhiều thăng trầm lịch sử, kho địa bạ đồ sộ vẫn còn đ-ợc l-u giữ đến
nay. Riêng kho địa bạ l-u giữ tại Cục L-u trữ Nhà n-ớc đã gồm 10.044 tập với
16.884 địa bạ của các thôn ấp đời Nguyễn, phần lớn mang các niên đại từ
1805 đến 1839. Địa bạ cung cấp nhiều t- liệu quý giá giúp các nhà nghiên
cứu có thể tái tạo lại một phần lịch sử đất n-ớc nói chung, về chế độ sở hữu
ruộng đất Việt Nam nói riêng, một cách khách quan với những số liệu thống
kê cụ thể.
Chính vì vậy mà vài thập kỷ gần đây, nhiều nhà khoa học hết sức quan
tâm khai thác kho t- liệu địa bạ đồ sộ đời Nguyễn còn l-u giữ lại.
Từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, chúng tôi đ-ợc may mắn
tham gia nhóm nghiên cứu địa bạ do giáo s- Phan Huy Lê chủ trì và có dịp
tiếp xúc với nguồn t- liệu quí báu này. Trong quá trình tiếp cận nguồn t- liệu
ấy, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến s-u tập địa bạ của Bình Định. Bởi lẽ, Bình
Định là một trong những tỉnh có nhiều địa bạ nhất và là tỉnh duy nhất trong cả
n-ớc có địa bạ lập vào hai thời điểm khác nhau trên qui mô toàn tỉnh. Bình
Định có 1222 địa bạ theo danh mục, hiện còn l-u giữ 1207 địa bạ, mang hai
niên đại Gia Long 14 (1815) với 559 địa bạ ấp và Minh Mệnh 20 (1839) với
một s-u tập địa bạ năm 1839, lập ngay sau khi thi hành quân điền năm 1839.
Đề tài quân điền năm 1839 của Minh Mệnh ở Bình Định không phải là
một vấn đề mới đối với giới sử học. Quân điền năm 1839 đã đ-ợc nhiều nhà
nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu trong mấy thập kỷ qua. Nguồn t- liệu chính
đ-ợc các nhà nghiên cứu sử dụng là những ghi chép trong các bộ sử của Quốc
sử quán triều Nguyễn nh- Đại Nam thực lục, Quốc triều chính biên toát yếu,
Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ ... và quan điểm của họ nói chung đều cho
rằng quân điền năm 1839 của Minh Mệnh nhằm mục đích tăng c-ờng và củng
cố ruộng đất công làng xã, đảm bảo nguồn tô thuế cho nhà n-ớc. Nhiều nhà
nghiên cứu coi quân điền năm 1839 nh- một cuộc "thử nghiệm" ở Bình Định
nh-ng vì không thu đ-ợc kết quả khả quan nh- mong muốn nên sau đó không
áp dụng rộng rãi trong cả n-ớc.
Tuy vậy, đi sâu nghiên cứu, phân tích địa bạ Bình Định vào hai thời
điểm 1815 và 1839 đã đem lại nhiều thông tin rất lý thú về biến đổi sở hữu
ruộng đất ở Bình Định tr-ớc và sau khi thực hiện quân điền năm 1839, về
những tác động trực tiếp của quân điền trong việc phân chia lại các loại ruộng
đất công và t- ở Bình Định ... dẫn đến một số vấn đề cần nghiên cứu, làm
sáng tỏ về chính sách quân điền năm 1839. Chủ tr-ơng này cần đ-ợc đánh giá
nh- thế nào, có thực sự tiến bộ không trong bối cảnh cụ thể của tình hình
ruộng đất Bình Định nửa đầu thế kỷ XIX? Hơn nữa, thực chất quân điền có
phải chỉ nhằm mục đích tăng c-ờng quyền quản lý ruộng đất của nhà n-ớc
thông qua việc bổ sung, củng cố ruộng đất công làng xã, quân bình lại ruộng
đất giữa ng-ời giàu và kẻ nghèo nh- Minh Mệnh đã nói ? Hay quân điền năm
1839 còn có mục đích gì khác?
Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài Chính sách quân điền năm 1839 ở
Bình Định qua t- liệu địa bạ lm đề ti luận n với mong muốn lm sng t
những vấn đề ch-a đ-ợc giải quyết về quân điền năm 1839. Ngoài các nguồn
t- liệu trong các th- tịch cổ mà các nhà nghiên cứu đi tr-ớc đã sử dụng, địa bạ
quá ít mà ruộng t- lại quá nhiều là do ảnh h-ởng của phong trào Tây Sơn.
Trong luận văn ca mình, ông cõ trích dẫn lời ca Minh Mệnh Số ruộng tư ở
Bình Định đã tăng lên trong cuộc chiến tranh do anh em Tây Sơn gây ra.
Trong cuộc chiến tranh này, họ đã cả gan lấy tất cả đất đai và ruộng n-ơng tuỳ
thích, huỷ cc sồ điền thồ để biến ruộng công thnh ruộng tư. Rất tiếc tc
giả không ghi xuất xứ của câu trích dẫn trên.
Đến năm 1951, Nguyễn Thiệu Lâu đăng trong tập san của Viện Viễn
Đông bc cồ Php (BEFEO) một chuyên kho với tiêu đề Cải cách ruộng
đất năm 1839 tại Bình Định 3132, 119-129]. Đây là một công trình nghiên
cứu quan trọng về chính sách quân điền năm 1839 của Minh Mệnh. Chỉ tiếc
rằng tác giả ch-a khai thác nhiều các t- liệu Hán Nôm của triều đình Huế
có liên quan đến đề tài. Nguồn t- liệu chủ yếu của tác giả là Quốc triều chính
biên toát yếu đ-ợc dịch ra chữ quốc ngữ và xuất bản năm 1923. Nguyễn
Thiệu Lâu đã dẫn một loạt những lời tâu, trình của các quan lại trong triều về
tỷ lệ giửa ruộng đất công v tư ở Bình Định để đi đến kết luận ci diện tích
quá hẹp về ruộng đất công ở Bình Định là nguyên nhân của cuộc cải cách
ruộng đất vo năm 1839. Nhưng Nguyễn Thiệu Lâu cho rng đõ chỉ l
nguyên cớ đ-ợc nhà nước viện dẫn, v nguyên cớ đõ không lm chũng tôi
tha mn. Theo ông, cõ hai gi thiết cõ thể dẫn tới sứ chênh lệch giửa ruộng
đất công và t- ở Bình Định, mà giả thiết nọ loại trừ giả thiết kia: thứ nhất là do
Tây Sơn, và thứ hai là do nguồn gốc xa x-a của ng-ời Chăm. Nguyễn Thiệu
Lâu nghiêng về giả thiết thứ nhất nh-ng ông không có đủ cứ liệu chứng minh
cho nhận định của mình. Vì vậy, ông mong rằng "ngày nào đó, sẽ có một sử
gia trở lại đề tài này và dành cho nó một công trình triển khai xứng đáng hơn".
Hai chuyên luận trên đ-ợc coi là những nghiên cứu đầu tiên về chính
sách quân điền năm 1839 ở Bình Định.
Ngoài ra, trong những bộ lịch sử Việt Nam nh- Lịch sử Việt Nam, Lịch
sử chế độ phong kiến Việt Nam, Đại c-ơng lịch sử Việt Nam, ... hay trong
điểm của Nguyễn Đình Đầu là rất ca ngợi khi đánh giá về quân điền năm
1839.
Năm 1997, chúng tôi có khảo sát cụ thể địa bạ Kiên Mỹ (huyện Tây
Sơn, tỉnh Bình Định) lập vào hai thời điểm 1815 và 1839. Trên cơ sở khai thác
hầu hết các thông tin của cặp địa bạ đó, so sánh, đối chiếu những số liệu về
các loại ruộng đất công và t- qua hai thời điểm đã cho phép đ-a ra một vài
nhận xét b-ớc đầu về biến đổi cơ cấu kinh tế xã hội và ruộng đất của Kiên
Mỹ nửa đầu thế kỷ XIX, cũng nh- về chính sách quân điền năm 1839 nói
chung. Tuy nhiên, chỉ thông qua một cặp địa bạ của một thôn/ấp ở Bình Định
thì ch-a thể có đ-ợc những đánh giá xác đáng và đầy đủ về chính sách quân
điền của Minh Mệnh.
Trong luận án, chúng tôi tiếp cận đối t-ợng nghiên cứu theo một h-ớng
mới, trên cơ sở khảo cứu kỹ 24 cặp địa bạ của 24 thôn /ấp Bình Định lập vào
hai thời điểm 1815 và 1839, kết hợp với các nguồn th- tịch cổ khác và kết quả
điều tra điền dã, rồi tổng hợp, so sánh những đổi thay trong chế độ sở hữu
ruộng đất tại hai thời điểm tr-ớc và sau khi thực hiện chính sách quân điền.
Qua đó, có thể hình dung cụ thể hơn về việc đề xuất và thực hiện chính sách
quân điền của Minh Mệnh năm 1839 trên thực tế, đ-a ra một số nhận định và
đánh giá mới.
3. Cơ sở t- liệu, ph-ơng pháp nghiên cứu
Nội dung chính của luận án dựa trên các nguồn t- liệu chủ yếu sau đây:
Tr-ớc hết là 24 cặp địa bạ của 24 thôn/ấp của Bình Định lập năm 1815
và 1839. Đối với 48 địa bạ này, mọi thông tin về tổng diện tích công t- điền
thổ, cũng nh- diện tích từng loại ruộng đất đó, cho tới diện tích từng thửa
ruộng của từng chủ ruộng t- đều đ-ợc khai thác, sử dụng. Khi phân tích tính
chất sở hữu của các chủ t- điền, luận án còn phân loại các chủ sở hữu đó theo
giới tính (nam, nữ) và theo quê quán của họ (chính canh hay phụ canh). Bên
cạnh đó, luận án kết hợp so sánh, đối chiếu với những thông tin tổng quát về
cụ già địa ph-ơng đã giúp chúng tôi giải đáp một số v-ớng mắc nh- cách phân
chia cụ thể ruộng công và t- trong từng thôn/ấp sau quân điền, hoặc nh- hiện
t-ợng tồn tại hai, ba đẳng hạng trên cùng một thửa ruộng đ-ợc ghi chép
trong địa bạ.
Hiện nay, ở Bình Định vẫn còn lữu giữ khá nhiều di tích, dấu ấn vật
chất về quân điền năm 1839 nh- : một số thửa ruộng t- tuy bị sung làm công
điền năm 1839 song vẫn giữ nguyên tên của chủ sở hữu cũ và vẫn còn đến
nay, hay m-ơng n-ớc đ-ợc dùng làm đ-ờng ranh giới phân chia ruộng công
và t- trong quân điền đến nay có nơi vẫn cònĐây là những nguồn t- liệu rất
phong phú, đa dạng về quân điền mà trong địa bạ không ghi chép.
Trong quá trình thực hiện đề tài luận án này, ph-ơng pháp tiếp cận của
khoa học lịch sử kết hợp với ph-ơng pháp điều tra điền dã của địa lý học lịch
sử và dân tộc học, xã hội học đã đ-ợc áp dụng. Đặc biệt, ph-ơng pháp phân
tích định l-ợng đ-ợc ứng dụng rất hiệu quả trong việc xử lý nguồn t- liệu đám
đông của địa bạ. Ph-ơng pháp thống kê chọn mẫu đ-ợc áp dụng trong việc lựa
chọn và xử lý 24 cặp địa bạ. Các số liệu đ-ợc thống kê và xử lý trên máy vi
tính, kết hợp với một số đồ thị, bản đồ minh họa, trên cơ sở đó đối chứng, so
sánh với các nguồn t- liệu khác nhau liên quan đến đề tài.
4. Nội dung, bố cục chính của luận án
Luận văn dài 200 trang đánh máy với 189 tài liệu tham khảo. Ngoài các
phần Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của luận văn gồm 4 ch-ơng. Ngoài
phần chính văn, luận án có 152 trang Phụ lục với 24 bản đồ minh họa.
Phần Mở đầu đ-ợc dành để phân tích ý nghĩa khoa học và thực tiễn của
đề tài, lý do chọn đề tài, cũng nh- nêu những nét chính về bố cục và kết quả
chủ yếu của luận văn.
Ch-ơng 1: Tình hình sở hữu ruộng đất nửa đầu thế kỷ XIX và chủ
tr-ơng quân điền năm 1839 ở Bình Định. Trên cơ sở khái quát chung tình
hình ruộng đất và những chính sách của nhà Nguyễn đối với các loại hình sở
việc khảo cứu, phân tích địa bạ 24 thôn của Bình Định lập năm Minh Mệnh 20
(1839). Kết quả thống kê cho thấy, sau quân điền, diện tích ruộng t- giảm đi
xấp xỉ một nửa, trong khi đó, sở hữu công điền sở tại tr-ớc đây không có thì
nay lại gia tăng đáng kể, chiếm xấp xỉ 50% tổng diện tích công t- điền thổ.
Điều đó chứng tỏ chính sách quân điền năm 1839 mà một số ng-ời coi là
ci cch điền địa đ được thức thi triệt để tới tụng ấp/ thôn trong việc phân
chia lại tỷ lệ giữa ruộng công và t-. Tuy nhiên, đi sâu phân tích mức sở hữu
của từng chủ t- hữu cũng nh- cách sung công một nửa ruộng t- ở các
thôn/ấp cho phép hình dung rõ hơn một số điểm về chính sách quân điền
năm 1839 mà tr-ớc đây ch-a đ-ợc làm sáng tỏ.
Sự có mặt một số không nhỏ các chủ sở hữu là nữ trong địa bạ ở cả hai
thời điểm 1815 và 1839 cũng ít nhiều gợi ra bức tranh về vai trò ng-ời phụ nữ
ở Bình Định nói riêng và ở nông thôn Việt Nam thời phong kiến nói chung.
Đặc biệt, hiện t-ợng chia đều ruộng đất cho con cái không phân biệt nam hay
nữ, dẫn tới có những chủ sở hữu ruộng t- tuy là nữ nh-ng lại có mức sở hữu
khá cao là một đặc điểm đáng l-u ý của Bình Định. Bên cạnh đó, tỷ lệ chủ phụ
canh cũng nh- mức sở hữu trung bình của họ bằng và cao hơn chính canh
trong các thôn/ấp Bình Định là vấn đề đáng quan tâm đ-ợc phản ánh trong địa
bạ Bình Định.
Ch-ơng 4: Kết quả quân điền năm 1839 ở Bình Định. Trong ch-ơng 4,
thông qua so sánh các số liệu của địa bạ 24 thôn/ấp vào hai thời điểm 1815 và
1839, luận án muốn làm rõ hơn những biến đổi ruộng đất ở Bình Định sau
quân điền năm 1839, đặc biệt là những khác biệt cơ bản giữa phân bố ruộng
đất công và t- tr-ớc và sau quân điền. Bên cạnh đó, ch-ơng 4 còn trình bày
cách chia ruộng công theo khẩu phần cho quan lại, binh lính và xã dân cùng
những hệ quả của nó tại Bình Định.
Danh sách các chủ trùng tên trong hai địa bạ cùng mức sở hữu ruộng
đất của họ là kết quả có đ-ợc sau những phân tích, đối chiếu 24 cặp địa bạ tại
với những chủ sở hữu nhỏ, mức sở hữu trung bình xấp xỉ 1 mẫu ruộng, ng-ời
sở hữu lớn nhất chỉ có hơn 20 mẫu ruộng. Đó là những đặc điểm nổi bật trong
phân bố ruộng ở Bình Định đầu thế kỷ XIX. .Nêu lên và phân tích nguyên
nhân của đặc điểm đó, tìm hiểu lý do sâu xa dẫn đến chủ tr-ơng quân điền
năm 1839 của Minh Mệnh là vấn đề mới của luận văn.
Chủ tr-ơng quân điền năm 1839 của Minh Mệnh đ-ợc thi hành triệt
để ở hầu khắp các thôn/ấp của Bình Định, những nơi có t- điền nhiều hơn
công điền. Phần t- điền sung công điền đem chia cho quan lại, binh dân, theo
l-ơng điền và khẩu phần. Qua phân tích địa bạ kết hợp với t- liệu điền dã và
các nguồn sử liệu khác, luận án chỉ ra cách thức cụ thể khi áp dụng chủ tr-ơng
quân điền trong việc sung công chiết cấp một nửa t- điền, cũng nh- cách chia
ruộng công theo l-ơng điền và khẩu phần.
Kết quả quân điền năm 1839 của Minh Mệnh ở Bình Định đ-ợc một
số nhà nghiên cứu coi là một cuộc cách mạng điền địa, nh-ng thực chất mục
đích của Minh Mệnh khi thực hiện chính sách này là gì ? Tại sao Minh Mệnh
phải đề ra giải pháp đặc biệt với riêng tỉnh Bình Định? Quân điền năm 1839
thực sự đã đem lại kết quả, nguồn lợi cho những ai? Cho nhà n-ớc hay cho
ng-ời dân Bình Định? Đó là những vấn đề đã đ-ợc luận án lý giải, phân tích
dựa trên trên cơ sở t- liệu địa bạ kết hợp với t- liệu điền dã. Từ đó đ-a ra một
số đánh giá mới về tác dụng của quân điền năm 1839 của Minh Mệnh.
Cuối cùng, với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn GS. Hà
Văn Tấn, ng-ời đã tận tình h-ớng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm
luận án.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thày thuộc Bộ môn Lịch sử Việt Nam cổ trung đại, Khoa Lịch sử, Tr-ờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại
học Quốc gia Hà Nội đã chỉ dẫn và góp nhiều ý kiến quí báu trong quá trình
hoàn chỉnh luận án. Đặc biệt, tôi xin cảm ơn TS. Vũ Văn Quân và các đồng sự
đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình dịch và kiểm tra các nguồn t- liệu Hán
4.
Ban chỉ đạo điều tra dân số trung -ơng (1991), Tập bản đồ dân số Việt
Nam, Hà Nội.
5.
Đỗ Bang (1997), Kinh tế Việt Nam d-ới triều Nguyễn (1802 - 1945), Đề
tài khoa học cấp nhà n-ớc KX-ĐL: 94-16, Đại học khoa học Huế, Huế.
6.
Nguyễn L-ơng Bích: Nguyên nhân thành bại của cuộc cách mạng Tây
Sơn, Tập san Văn Sử - Địa, số 14 (2/1958)
7.
Phan Huy Chú (1961), Lịch triều hiến ch-ơng loại chí, tập III, NXB Sử
học, Hà Nội.
8.
Cục L-u trữ quốc gia: Danh mục địa bạ trấn Bình Định đời Gia Long và
Danh mục địa bạ tỉnh Bình Định đời Minh Mệnh (bản đánh máy).
9.
Cuộc khởi dấy và chiến tranh của Tây Sơn (Nguyên văn chữ Tây Ban
Nha, do một nữ học giả ng-ời Pháp dịch ra tiếng Pháp. Bài này rút trong
18. Đại Nam điển lệ toát yếu (1962), Nguyễn Sĩ Giác dịch, Đại học Luật
khoa Sài Gòn xuất bản, Sài Gòn.
19. Đại Nam nhất thống chí (1971), Tập III, Bản dịch, NXB Khoa học xã
hội, Hà Nội.
20. Đại Nam thực lục (tiền biên) (1962), Tập I, NXB Sử học, Hà Nội.
21. Đại Nam thực lục chính biên (1963), Tập III, NXB Khoa học xã hội, Hà
Nội.
22. Đại Nam thực lục chính biên (1963), Tập IV, NXB Khoa học xã hội, Hà
Nội.
23. Đại Nam thực lục chính biên (1963), Tập V, NXB Khoa học xã hội, Hà
Nội.
24. Đại Nam thực lục chính biên (1963), Tập VI, NXB Khoa học xã hội, Hà
Nội.
25. Đại Nam thực lục chính biên (1964), Tập IX, NXB Khoa học xã hội, Hà
Nội.
26. Đại Nam thực lục chính biên (1964), Tập X, NXB Khoa học xã hội, Hà
Nội.
27. Đại Nam thực lục chính biên (1964), Tập XI, NXB Khoa học xã hội, Hà
Nội.
28. Đại Nam thực lục chính biên (1965), Tập XII, NXB Khoa học xã hội, H.
40. Nguyễn Đình Đầu (1988), Thừ tìm hiểu đất nước qua 10044 tập địa bộ,
Tạp chí khoa học Đại học Tổng hợp Hà Nội, số 4.
41. Nguyễn Đình Đầu (1992), Chế độ công điền công thổ trong lịch sử khẩn
hoang lập ấp ở Nam kỳ lục tỉnh, Hội sử học Việt Nam, Hà Nội.
42. Nguyễn Đình Đầu (1994), Tổng kết nghiên cứu địa bạ: Nam Kỳ lục tỉnh,
NXB thành phố Hồ Chí Minh.
43. Nguyễn Đình Đầu (1995), Công cuộc quân điền ở Bình Định họi 1839,
90 năm nghiên cứu văn hóa và lịch sử Việt Nam, NXB Khoa học xã hội,
Hà Nội, tr. 204-216.
44. Nguyễn Đình Đầu (1996), Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn: Bình Định,
tập I, NXB thành phố Hồ Chí Minh.
45. Nguyễn Đình Đầu (1996), Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn: Bình Định,
tập II, NXB thành phố Hồ Chí Minh.
46. Nguyễn Đình Đầu (1996), Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn: Bình Định,
tập III, NXB thành phố Hồ Chí Minh.
47. Nguyễn Đình Đầu (1997), Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn: Phú Yên,
NXB thành phố Hồ Chí Minh.
48. Lê Quí Đôn (1977): Phủ biên tạp lục, tập I, NXB Khoa học xã hội, Hà
Nội.
chống ngoi xâm bo vệ độc lập dân tộc cuối thế kỷ XVIII, Tạp chí
Nghiên cứu lịch sử, (183), tr. 8-27.
60.
Phan Huy Lê (1995), Địa b cồ Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử,
(5,6/1995).
61. Phan Huy Lê (1995), Nguọn tư liệu địa b Việt Nam qua phân tích địa
bạ Kiên Mỹ (Bình Định), 90 năm nghiên cứu văn hóa và lịch sử Việt
Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 196-203.
62. Phan Huy Lê (1998), Tìm về cội nguồn, Tập I, NXB Thế giới, Hà Nội.
63. Phan Huy Lê (1998), Tìm về cội nguồn, Tập II, NXB Thế giới, Hà Nội.
64. Phan Huy Lê, Chu Thiên, V-ơng Hoàng Tuyên, Đinh Xuân Lâm (1965),
Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, Tập III, NXB Giáo dục, Hà Nội.
65. Phan Huy Lê, Phan Đại Doãn, Vũ Minh Giang, Nguyễn Quang Ngọc
(1988), T- liệu về Tây Sơn - Nguyễn Huệ , tập I: Trên đất Nghĩa Bình, Sở
văn hóa - thông tin Nghĩa Bình xuất bản, Qui Nhơn.
66. Phan Huy Lê, Vũ Minh Giang, Vũ Văn Quân, Phan Ph-ơng Thảo (1995),
Địa bạ Hà Đông, Hà Nội.
67. Phan Huy Lê, Nguyễn Đức Nghinh, Vũ Minh Giang, Vũ Văn Quân,
Phan Ph-ơng Thảo (1997), Địa bạ Thái Bình, Hà Nội.
68. Trần Huy Liệu (1951), Giở li mấy trang lịch sừ cuối nh Lê v Tây Sơn
(1947)
79. Nghị định số 231-BNV/HC/NĐ của Bộ tr-ởng Nội vụ Việt Nam cộng
hòa (1958)
80. Nghị định về việc giải thể khu, hợp nhất tỉnh ở miền Nam Việt Nam
(2/1976)
81. Nguyễn Đữc Nghinh (1974), Tình hình phân phối ruộng đất ở x Mc
Xá giữa hai thời điểm (1789-1805), Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, (157).
82. Nguyễn Đữc Nghinh, Bùi Quí Lộ (1975), Mấy vấn đề nghiên cữu ruộng
đất trong làng xã ng-ời Việt đầu thế kỷ XIX, Tạp chí Dân tộc học, (2).
83. Nguyễn Đữc Nghinh (1975), Về ti sn ruộng đất ca một số chữc dịch
trong làng xã thuộc huyện Từ Liêm vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ
XIX, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, (165).
84. Nguyễn Đữc Nghinh (1975), Tình hình phân phối ruộng đất của thôn
Định Công giữa hai thời điểm (1790-1805), Tạp chí Nghiên cứu lịch sử,
(161).
85. Nguyễn Đữc Nghinh (1977), X Thượng Phũc giửa hai thời điểm (1790-
1805), Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, (172).
86. Nguyễn Đức Nghinh (1977), Mấy tư liệu ruộng đất công làng xã d-ới
triều Tây Sơn, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, (175).
sự nghiệp thống nhất đất n-ớc hồi thế kỷ XVIII, Tạp chí Nghiên cứu
lịch sử, (183), tr. 76-95.
96. Nguyễn Họng Phong (1959), Vấn đề ruộng đất trong lịch sừ chế độ
phong kiến Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, (1, 2).
97. Vũ Huy Phúc (1979), Tìm hiểu chế độ ruộng đất Việt Nam nửa đầu thế
kỷ XIX, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
98. Nguyễn Phan Quang (1999), Việt Nam thế kỷ XIX (1802-1884), NXB
Thành phố Hồ Chí Minh.
99. Vũ Văn Quân (1988), Vi nét về chế độ tô thuế thời Nguyễn (thế kỷ
XIX), Tạp chí Khoa học Đại học tổng hợp Hà Nội, (4), tr. 55-64
100. Vũ Văn Quân (1991), Chế độ ruộng đất - kinh tế nông nghiệp Việt Nam
nửa đầu thế kỷ XIX, Luận án PTS sử học, Hà Nội.
101. Vủ Văn Quân (1993), Khi qut về tình hình ruộng đất v gii quyết
vấn đề ruộng đất ca Nh nước nừa đầu thế kỷ XIX, Tạp chí Nghiên
cứu Kinh tế, (194).
102. Vũ Văn Quân (1994), Thừ phân tích yếu tố dòng hó trong cấu trũc
ruộng đất ca một lng thuộc đọng bng Bắc Bộ đầu thế kỷ XIX, Tạp
chí Dân tộc học, (3).
103. Vũ Văn Quân, Nguyễn Quang Ngọc (1994), Diễn biến sở hửu ruộng đất
112. Số liệu về dân số và tình hình phân bố ruộng đất của các thôn trong
huyện Tuy Ph-ớc năm 2002 do Uỷ ban nhân dân huyện cung cấp
113. Văn Tân (1956), Cách mạng Tây Sơn, NXB Văn Sử Địa, Hà Nội.
114. Quách Tấn (1967), N-ớc non Bình Định, Nam C-ờng xuất bản, Sài Gòn.
115. Quốc triều chánh biên (1972), nhóm nghiên cứu Sử - Địa Việt Nam xuất
bản, Sài Gòn .
116. Tây Sơn - Nguyễn Huệ (1978), Kỷ yếu hội nghị nghiên cứu phong trào
nông dân và anh hùng Nguyễn Huệ, Ty Văn hóa và Thông tin Nghĩa
Bình xuất bản.
117. Nguyễn Văn Thành, Vũ Trinh, Trần Hựu (1994) Hoàng Việt luật lệ (Luật
Gia Long), 5 tập, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.
118. Phan Ph-ơng Thảo (2000), Tình hình sở hửu ruộng đất ở Kiên Mỹ (Bình
Định) đầu thế kỷ XIX qua địa b Gia Long, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế,
(260).
119. Phan Phương Tho (2001), Biến đồi sở hửu ruộng đất ở Kiên Mỹ (Bình
Định) sau chính sch quân điền năm Minh Mệnh 20 (1839), Tạp chí
Nghiên cứu lịch sử, (317), tr. 23 32.
120. Phan Phương Tho (2001), Hiện tượng "Phú canh" ở Thi Bình qua địa
b Gia Long, Kỷ yếu hội thảo Việt Nam học lần thứ nhất, Tập V, NXB
Thế giới, H. 2001, tr. 456-461
121. Phan Phương Tho (2002), Vi nhận xét về đội ngũ chức sắc làng xã ở
Bình Định nừa đầu thế kỷ XIX qua tư liệu địa b, Tạp chí Nghiên cứu lịch