ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO VÀ BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TRẦN TIẾN DŨNG
TÁC ĐỘNG CỦA CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
CỦA TỈNH HƯNG YÊN
Chuyên ngành : Kinh tế chính trị
Mã số :
60 31 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TIẾN SĨ ĐINH QUANG TY
HÀ NỘI, 2007
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việc hình thành các KCN, KCX ở Việt Nam được bắt đầu đặt ra từ năm
1986. Đây là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta trong thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Chủ trương xây dựng và phát
triển KCN, KCX được Đảng và Nhà nước ta đưa ra trên cơ sở nghiên cứu, vận dụng
lý luận chung về phát triển kinh tế thị trường, kinh nghiệm của các nước trong khu
vực và xuất phát từ thực tiễn Việt Nam. Trong nhiệm kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ VII của Đảng, tiếp đến Đại hội VIII, IX và X, định hướng chiến lược xây
Yên không thể làm giàu nếu chỉ dựa vào nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, do
vậy phải tập trung cao độ để phát triển nhanh mạnh, vững chắc công nghiệp và tiểu
thủ công nghiệp làm động lực cho phát triển nông nghiệp, dịch vụ và các lĩnh vực
khác”.
Ngay sau khi được tái lập (năm 1997), Tỉnh ủy và UBND đã chỉ đạo các cấp,
các ngành tiến hành quy hoạch các khu, cụm công nghiệp và đã dành những mặt
bằng có vị trí thuận lợi nhất để xây dựng các KCN. Đến nay, tỉnh đã quy hoạch
được 5 KCN tập trung nhằm thu hút các nguồn lực đầu tư (trong đó 2 khu đã có
quyết định thành lập, hoạt động theo quy chế KCN): Như Quỳnh A, Như Quỳnh B,
Phố Nối A, Phố Nối B, thị xã Hưng Yên. Đồng thời, Tỉnh ủy đã có Nghị quyết
“Đẩy mạnh hợp tác đầu tư trên địa bàn tỉnh Hưng Yên”; UBND đã ban hành quy
định hướng dẫn việc thực hiện thủ tục xin cấp giấy phép đầu tư và quy định quản lý
hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, tỉnh ngoài trên địa bàn Hưng Yên. Đây là
những văn bản tạo cơ sở pháp quy bước đầu cho việc thống nhất quản lý hoạt động
đầu tư trên phạm vi của địa phương. Để khuyến khích thu hút đầu tư, tỉnh chủ
trương cho các dự án được hưởng các chính sách ưu đãi ở mức tối đa theo các quy
định của Chính phủ. Thủ tục cấp giấy phép đầu tư tương đối đơn giản và nhanh
chóng, đối với các dự án đặc biệt có thể được tỉnh cho phép hưởng thêm các ưu đãi
khác.
Đến tháng 6 năm 2005, đã có 374 dự án đầu tư vào địa bàn Hưng Yên, với
tổng số vốn đầu tư đăng ký là 16.625 tỷ đồng; trong đó đã có 160 dự án đã đi vào
hoạt động. Sự hình thành và phát triển các khu, cụm công nghiệp đã tạo ra động thái
phát triển mới của ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh, với mức tăng trưởng khá
cao: giai đoạn 1997-2000 mức tăng trưởng bình quân đạt 60,35%/năm; giai đoạn
2001-2005 đạt bình quân 26,7%/năm. Năm 2004, giá trị sản xuất công nghiệp đạt
5.925 tỷ đồng (tính theo giá cố định năm 1994). Như vậy, sau 8 năm tái lập, giá trị
sản xuất công nghiệp của Hưng Yên đã tăng gấp 16,7 lần so với năm 1996. Sự phát
triển của các ngành công nghiệp đã góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch
CCKT của tỉnh theo hướng CNH, HĐH. Năm 1997, trong cơ cấu GDP của tỉnh,
Luận án tiến sĩ kinh tế của Trần Ngọc Hưng, với đề tài “Các giải pháp hoàn
thiện và phát triển khu công nghiệp ở Việt Nam”;
Luận án tiến sĩ kinh tế của Lê Tuyển Cử (thực hiện năm 2004): “Những biện
pháp phát triển và hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước đối với khu công nghiệp ở
Việt Nam”;
4
Luận án tiến sĩ kinh tế của Nguyễn Xuân Hinh (thực hiện năm 2003), về
“Quy hoạch và phát triển khu công nghiệp Việt Nam trong thời kỳ đổi mới”;
Sách chuyên khảo “Các giải pháp nhằm nâng cao vai trò và hiệu lực pháp lý
quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường ở các khu công nghiệp, khu chế xuất” của
Trương Thị Minh Sâm, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 2004;
Luận án tiến sĩ kinh tế của Nguyễn Thị Thu Hương về “Hoàn thiện công tác xúc
tiến đầu tư nhằm phát triển các khi công nghiệp ở Việt Nam”;
Các bài viết: “Khu công nghiệp, khu chế xuất với cơ hội đầu tư ở Việt Nam”,
đăng trên Tạp chí Kinh tế và Dự báo của TS Phạm Quang Châu; và “Đầu tư vào
Hưng Yên - tiềm năng và cơ hội”, đăng trên Tạp chí Kinh tế - Hội nhập của tác giả
Hà Thuỷ; v.v…
Các công trình nói trên có giá trị tham khảo rất bổ ích đối với tác giả luận văn;
tuy nhiên chưa đi sâu vào việc đánh giá, phân tích tác động của các KCN đối với sự
phát triển KT - XH của tỉnh Hưng Yên.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích, làm rõ tác động của các KCN hiện có ở tỉnh Hưng Yên đối với
sự phát triển KT - XH địa phương.
- Đề xuất các giải pháp nhằm góp phần thúc đẩy và nâng cao tác động tích
cực của các KCN ở tỉnh Hưng Yên đối với sự phát triển có KT - XH của địa
phương trong giai đoạn sắp tới.
Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau
trong nước về phát triển các KCN.
- Làm rõ những tác động chủ yếu của các KCN hiện có tại tỉnh Hưng Yên
đến sự phát triển KT - XH ở giai đoạn 1997 - 2005.
- Đề xuất quan điểm, phương hướng và các giải pháp thúc đẩy các KCN của
tỉnh Hưng Yên phát triển hợp lý và có hiệu quả hơn trong giai đoạn 2006 - 2010 và
các năm tiếp theo.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài mục lục, phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn có 3 chương và 8 tiết:
Chương 1: Khu công nghiệp: một số vấn đề lý luận và kinh nghiệm thực
tiễn;
Chương 2: Các khu công nghiệp hiện có tại tỉnh Hưng Yên - lịch sử hình
thành, phát triển và những tác động chủ yếu của chúng;
Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát huy tác động của các khu công
nghiệp ở tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn 2006-2010 và đến năm 2020.
6
Chương 1
KHU CÔNG NGHIỆP: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN TRONG NƯỚC
1.1. Khu công nghiệp nhìn dưới góc độ lý luận
1.1.1. Một số khái niệm có liên quan
Trong khuôn khổ của luận văn, dưới đây chúng tôi tập trung làm rõ hơn khái
niệm về khu chế xuất, và khái niệm về khu công nghiệp.
1.1.1.1. Khu chế xuất
Sau chiến tranh thế giới thứ II, vào thập kỷ 60, từ những thay đổi trong môi
trường kinh tế - kỹ thuật của nền kinh tế thế giới, xu hướng toàn cầu hóa diễn ra với
quy mô và tốc độ ngày càng lớn, đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình tự do hóa thương
giới (WEPZA).
Theo quan điểm của UNIDO, trong tài liệu “KCX tại các nước đang phát
triển” (Export Processing Zone in Developing Countries) công bố năm 1990 thì
“KCX là khu vực tương đối nhỏ phân cách về mặt địa lý trong một quốc gia, nhằm
mục tiêu thu hút đầu tư vào các ngành công nghiệp hướng về xuất khẩu bằng cách
cung cấp cho ngành công nghiệp này những điều kiện về đầu tư và mậu dịch thuận
lợi đặc biệt so với phần lãnh thổ còn lại của nước chủ nhà. Trong đó đặc biệt là
KCX cho phép nhập khẩu cho sản xuất để miễn thuế ” [7].
Theo Điều lệ hoạt động của WEPZA: “Khu chế không chỉ bao gồm khu vực
công nghiệp chuyên môn hóa sản xuất, mà còn bao gồm tất cả các khu vực được
chính phủ các nước cho phép như khu cảng tự do, khu mậu dịch tự do, khu quá
cảng...” [7], “ hoặc bất kỳ khu vực ngoại thương hoặc khu vực khác được WEPZA
công nhận”. Như vậy, theo khái niệm này, KCX được hiểu theo nghĩa rộng hơn,
bao gồm tất cả các khu vực được chính phủ nước nhận đầu tư cho phép như cảng tự
do, khu mậu dịch, khu vực ngoại thương tự do, những khu vực được miễn thuế.
Khái niệm này đã được bổ sung bằng những quan điểm mới như khu kinh tế mở,
đặc khu kinh tế, phù hợp với nhu cầu phát triển của các mối quan hệ thương mại và
đầu tư quốc tế ngày càng được mở rộng, cũng như xuất phát từ những nhu cầu bức
thiết của quá trình công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu của các nước đang phát
triển.
KCX là mô hình kinh tế mà các nước đang phát triển, nhất là các nước châu
Á đã sử dụng như một công cụ tích cực nhằm thu hút đầu tư nước ngoài, đẩy mạnh
công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu. Thông qua việc sử dụng các KCX, các nước
đang phát triển đã tìm thấy ở mô hình kinh tế này một giải pháp trung gian phù hợp,
cho phép chuyển mạnh nền kinh tế theo định hướng xuất khẩu. Đối với mục tiêu
8
thành lập KCX nhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, tăng trưởng xuất khẩu, tạo
như là một yếu tố hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài - đối tượng đầu tư chủ
9
yếu, bằng việc nới lỏng cho họ nhiều quy chế. Với mô hình kinh tế này, thị trường
nội địa trở thành yếu tố hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, hứa hẹn tiềm năng tiêu
thụ rất lớn, trong khi thị trường thế giới ngày càng trở nên bão hòa với những sản
phẩm của các doanh nghiệp trong KCX, vốn tương đối giống nhau cả về chủng loại
và chất lượng. Bên cạnh đó, việc mở rộng thị trường nội địa là phù hợp với xu
hướng tự do mậu dịch khu vực và thế giới.
Việc hàng hóa của các doanh nghiệp trong KCN được tiêu thụ trong nước
góp phần đẩy lùi và ngăn chặn hàng nhập lậu từ bên ngoài. Đây là yếu tố kích thích
cạnh tranh, nâng cao khả năng xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài, do không bị sức
ép phải xuất khẩu toàn bộ sản phẩm ra nước ngoài; đồng thời, do có những điều
kiện kinh doanh dễ dàng hơn so với KCX, nên mô hình kinh tế KCN cũng được các
nhà đầu tư trong nước đặc biệt quan tâm.
Trên thế giới hiện nay, nhìn tổng thể, có hai loại mô hình KCN khác nhau,
tùy vào điều kiện cụ thể của từng nước.
- Loại thứ nhất: là khu vực lãnh thổ rộng có nền tảng là sản xuất công
nghiệp, đan xen với nhiều hoạt động dịch vụ, kể cả dịch vụ sản xuất công nghiệp,
dịch vụ sinh hoạt, vui chơi giải trí, khu thương mại, văn phòng, nhà ở... Loại hình
này về thực chất là những khu hành chính - kinh tế, điển hình là một số KCN ở
Indonesia, Đài Loan, Thái Lan và một số nước Tây Âu.
- Loại thứ hai: là khu vực lãnh thổ, có giới hạn nhất định, tập trung các
doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh
sống. Nơi có nhiều KCN theo loại hình này là Singapore; ngoài ra, ở Đài Loan và
một số nước khác cũng có một số khu theo mô hình tương tự và đã hoạt động khá
thành công.
Đối với Việt Nam, khái niệm về KCN và một số thuật ngữ có liên quan,
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
12. Nguyễn Minh Đức (2003), "Chủ động và năng động Bình Dương", Trang tin
điện tử Tạp chí cộng sản, địa chỉ , (33).
13. Đỗ Hữu Hào (2006), "Vai trò của khu công nghiệp, khu chế xuất đối với việc
nâng cao trình độ công nghệ, quản lý doanh nghiệp và hiện đại hóa hệ thống kết
cấu hạ tầng", Trang tin điện tử Tạp chí khu công nghiệp, địa chỉ
14. Lê Văn Học (2006), "Thành tựu và những bài học kinh nghiệm qua 15 năm xây
dựng và phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất ở Việt Nam", Trang tin
điện tử Tạp chí khu công nghiệp, địa chỉ
15. Hiệp hội doanh nghiệp Hưng Yên (2006), "Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp
tỉnh(PCI)", Bản tin doanh nghiệp-Doanh nhân Hưng Yên.
11
16. Lê Phương Hiếu (2006), "Phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước", Tạp chí Tài chính doanh nghiệp, (8),
tr.7, 8.
17. Trần Ngọc Hưng (2007), "Cần nhanh chóng hoàn thiện cơ chế quản lý và tổ
chức bộ máy quản lý Nhà nước đối với khu công nghiệp, khu chế xuất, khu
công nghệ cao, khu kinh tế cho phù hợp với pháp luật về đầu tư", Trang tin điện
tử Tạp chí khu công nghiệp, địa chỉ
18. Trần Ngọc Hưng (2007), "Một số vấn đề về công tác thanh tra, kiểm tra khu
công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế", Trang tin điện tử Tạp chí khu công
nghiệp, địa chỉ
19. Vũ Văn Hòa (2006), "Quy hoạch phát triển khu chế xuất, khu công nghiệp, cum