đại học quốc gia hà nội
khoa luật
BO V QUYN LI LAO NG N TRONG PHP LUT LAO NG VIT
NAM
bùi quang hiệp
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60 38 50
đề c-ơng luận văn thạc sĩ luật học
Giáo viên h-ớng dẫn: ts nguyễn hữu chí
hà nội 2007
1. Tính cấp thiết của đề tài
Khai thác tiềm năng lao động của đất n-ớc, tạo thêm nhiều việc làm, thúc đẩy sự
phát triển của thị tr-ờng lao động là một trong những mục tiêu và nhiệm vụ của pháp
luật lao động. Đồng thời, yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cả ng-ời sử
dụng lao động và ng-ời lao động, bảo đảm mối quan hệ về lợi ích trong quan hệ lao
động phát triển hài hoà và ổn định cũng đặt ra một cách cấp thiết. Với vị trí, t- cách
của ng-ời lao động, việc bảo vệ quyền và lợi ích của lao động nữ, tr-ớc hết là quyền
bình đẳng với lao động nam không nằm ngoài yêu cầu đó. Thực hiện nhiệm vụ này,
hệ thống pháp luật n-ớc ta nói chung, pháp luật lao động nói riêng đã có những đóng
góp quan trọng trong việc hoàn thiện cơ sở pháp lí nhằm bảo đảm sự bình đẳng, bảo
vệ quyền và lợi ích của ng-ời lao động nữ.
Thực tiễn thi hành pháp luật lao động đã cho thấy, sự gia tăng nhu cầu sử dụng lao
động và tăng thu nhập cho ng-ời lao động không đồng nhất với với sự bảo đảm quyền
lợi của ng-ời lao động. Do những đặc điểm về tâm sinh lý, giới tính, lao động nữ
Ph-ơng pháp luận : Duy vật biện chứng, duy vật lịch sử
Ph-ơng pháp cụ thể : So sánh, phân tích tổng hợp, khảo sát thực tế
4.
5. Những đóng góp mới về khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Với mục đích nghiên cứu đã đề ra, luận văn đẵ có những đóng góp mới về khoa học
những vấn đề sau :
- Lần đầu tiên luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống ở bậc sau đại học cả về
mặt lý luận và thực tiễn vấn đề bo v quyn li lao ng n trong phỏp lut lao
ụng Vit nam .
- Luận văn chỉ ra đ-ợc những tồn tại v-ớng mắc của hệ thống các quy định pháp luật
lao ng đôí với lao động nữ và thực tiễn thi hành, áp dụng trong thời gian vừa
qua.
- Luận văn đ-a ra một số khuyn nghị nhằm hoàn thiện pháp luật lao ng nhm
bo v quyn li lao động nữ và nâng cao hiệu qu thc hin
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo,luận văn có 3 ch-ơng.
Các nội dung cơ bản gồm :
CHƢƠNG I: Một số vấn đề lí luận về bảo vệ quyền lợi lao động nữ trong nền kinh
tế thị trƣờng ở Việt nam và sự điều chỉnh của pháp luật lao động .
1.1 Sự cần thiết phải bảo vệ quyền lợi lao động nữ trong điều kiện nền kinh tế thị
trƣờng ở Việt nam.
1.1.1 Đặc điểm,vai trò của lao động nữ trong quan hệ lao động.
1.1.2 Quan điểm về quyền bình đẳng của lao động nữ và bảo vệ quyền lợi lao động nữ ở
Việt nam hiện nay trong điều kiện nền KTTT.
1.1.3 Nhu cầu của lao động nữ cần được bảo vệ quyền lợi bằng pháp luật lao động Việt
nam.
1.2 Vai trò của pháp luật lao động trong việc bảo vệ quyền lợi lao động nữ.
kinh tế thị trƣờng ở Việt nam và sự điều chỉnh của pháp luật lao động.
1.1 Sự cần thiết phải bảo vệ quyền lợi lao động nữ trong điều kiện nền kinh tế thị
trƣờng ở Việt nam.
1.1.1 Đặc điểm, vai trò của lao động nữ trong quan hệ lao động.
Trong nền KTTT, hoạt động của mỗi thành viên trong xã hội không tách rời nhau
do mối liên hệ tự nhiên về sản xuất, trao đổi, phân phối tiêu dùng. Các mối quan hệ này
làm nảy sinh những lợi ích chung, những quan hệ phụ thuộc gắn chặt với nhau trong hệ
thống phân công lao động xã hội, ràng buộc về nghĩa vụ và quyền lợi bởi các quy định
của pháp luật. Xã hội càng phát triển thì phân công lao động càng rõ nét, mối quan hệ
phụ thuộc giữa các cá nhân càng chặt chẽ. Khi lợi ích của người lao động tăng lên thì lợi
nhuận của người chủ tư liệu sản xuất bị giảm xuống và ngược lại( Phạm thi xuân hương,
vấn đề đình công của công nhân ở nước ta hiên nay, luân án tiến sĩ triết học, H. 2001,
tr.41.). Người lao động do những nhu cầu vật chất và tinh thần thiết thân hàng ngày đã
tham gia quan hệ lao động để có thu nhập thỏa mãn các nhu cầu đó. Trong quan hệ lao
động, lợi ích của người lao động chủ yếu biểu hiện dưới dạng tiền lương, tiền thưởng và
một số lợi ích khác. Những lợi ích này là động lực cơ bản thúc đẩy hoạt động của người
lao động. Trong quan hệ lao động còn tồn tại lợi ích của người sử dụng lao động. Việc
thu lợi nhuận của người sử dụng lao động gắn liền với việc chiếm hữu giá trị thặng dư thu
được sau quá trình sử dụng lao động. Để tăng lợi nhuận người sử dụng lao động thường
tìm cách giảm tiền lương, tăng thời gian làm việc hay cắt giảm các chi phí cho việc bảo
đảm an toàn, vệ sinh lao động, bảo hiểm xã hội…Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến lợi
ích của người lao động và là một trong các nguyên nhân cơ bản tạo nên mâu thuẫn trong
quan hệ lao động bởi quan hệ lao động cũng giống như “các quan hệ kinh tế của một xã
hội nhất định nào đó, biểu hiện trước hết dưới hình thức lợi ích” (C.Mác và Ph.Ăngen
toàn tập, tập 18, Nxb.Chính trị quốc gia, H.1995, tr.376). Khi xác lập quan hệ lao động,
các bên phải thỏa thuận với nhau về tiền lương, thời giờ làm việc và các điều kiện sử
dụng lao động khác. Sự thỏa thuận có thể diễn ra nhiều lần trong suốt quá trình tồn tại
quan hệ lao động, khi một trong hai bên thấy cần phải sủa đổi, bổ sung hợp đồng lao
động, thỏa ước lao động tập thể thì sự thỏa thuận lại diễn ra.(Bộ Lao động- Thương binh
và xã hội, Các yếu tố nảy sinh đình công và biện pháp giải quyết, H. 1996, tr.3). Trong
đến lúc đó sẽ xảy ra các tranh chấp phát sinh chủ yêú từ quan hệ lao động và cũng chủ
yếu gắn bó với quá trình lao động.
Trong quan hệ lao động thì lao động nữ luôn được coi là lao động yếu thế hơn so với
lao động nam và thường bị giới chủ đối xử bất bình đẳng. Nền KTTT tất yếu hình thành
thị trường lao động, với các quan hệ lao động ngày càng phức tạp đa dạng đã tạo ra nhiều
cơ hội tốt hơn cho lao động nữ phát huy được khả năng của mình, tuy nhiên do nhiều
nguyên nhân khác nhau, quyền lợi của lao động nữ nhất là trong việc tuyển chọn, đào tạo,
trả công, trả lương, bảo hiểm xã hội … vẫn có sự phân biệt và vi phạm. Đặc biệt mỗi khi
có sự thay đổi công nghệ sản xuất, tổ chức lại lao động trong các doanh nghiệp thì lao
động nữ là người chịu thiệt thòi, dễ bị mất việc hơn nam giới, dường như có một xu
hướng phụ nữ là người cuối cùng được tuyển dụng nhưng là người đầu tiên bị thải hồi.
Thực tiễn thi hành pháp luật lao động đã cho thấy, sự gia tăng nhu cầu sử dụng lao động
và tăng thu nhập cho người lao động không đồng nhất với sự bảo đảm quyền lợi của
người lao động trong đó quyền lợi của lao động nữ còn bị xâm phạm. Chính điều đó là
nguyên nhân của những bất đồng và các cuộc đình công của lao động nữ có xu hướng gia
tăng đặc biệt trong các khu công nghiệp có tỷ lệ lao động nữ cao.
Để bảo vệ quyền lợi của lao động nữ một cách hiệu quả, khắc phục tình trạng bất bình
đẳng của lao động nữ so với lao động nam trong các quan hệ lao động, không thể không
xem xét đến các đặc điểm đặc thù chi phối đến vị thế, điều kiện lao động của lao động nữ
trong mối tương quan so với lao động nam trong các quan hệ lao động, xã hội cũng như
các hành vi đối xử của giới chủ. Qua đó cũng khẳng định vai trò quan trọng không thể
thiếu của người phụ nữ trong cả hai mối quan hệ, quan hệ gia đình và quan hệ lao động
trong tiến trình phát triển kinh tế xã hội.
1.1.1.1 Đặc điểm của lao động nữ
Khi nghiên cứu đặc điểm của lao động nữ, không thể không đề cập đến những yếu tố
chi phối đến địa vị pháp lý của lao động nữ như tính đặc thù, vị trí vai trò của lao động nữ
trong gia đình và xã hội. Trước hết ta tìm hiểu tính đặc thù của lao động nữ.
Lao động nữ được hiểu là người lao động có giới tính là nữ, chính từ sự khác biệt về
lao động, trong khi đó sự áp dụng pháp luật và sự phân biệt giới giữa các thành phần kinh
tế, đặc biệt trong khu vực kinh tế ngoài nhà nước vẫn còn tồn tại.
Lao động nữ có vị trí vô cùng quan trọng trong đời sống gia đình và xã hội. Trước đây
do tập tục và thói quen, lao động nữ ít khi khẳng định được vai trò và tầm quan trọng
trong lĩnh vực lao động, đặc biệt là trong công tác lãnh đạo và nghiên cứu khoa học.
Ngày nay, lao động nữ ở Việt nam đã có mặt ở nhiều ngành nghề, kể cả những ngành
nghề được coi là độc quyền của lao động nam. Trong cơ chế thị trường, khả năng cạnh
tranh tìm việc làm của lao động nữ vẫn thấp hơn nam giới do nhiều nguyên nhân. Điều
đó đòi hỏi phải từng bước thực hiện sự bình đẳng nam nữ thông qua các biện pháp khác
nhau, trong đó sự điều chỉnh và định hướng kịp thời của pháp luật lao động nhằm bảo vệ
quyền lợi của lao động nữ trong các quan hệ lao động.
Nền kinh tế thị trường với những yếu tố cạnh tranh quyết liệt, trong đó thị trường lao
động đã và đang nảy sinh những vấn đề nóng bỏng, phức tạp trong các lĩnh vực nảy sinh
trong quan hệ lao động và nó đã tác động mạnh mẽ đến người lao động, đặc biệt là lao
động nữ. Với những yếu tố đặc thù của mình, thời gian làm việc thực tế(cả thời gian lao
động tại gia đình) của lao động nữ nhiều hơn nam giới, điều này đã ảnh hưởng đến lao
động nữ trong các cơ hội thăng tiến nghề nghiệp và không được người sử dụng lao động
tuyển dụng vào những vị trí công việc có mức lương cao. Vì vậy lao động nữ phải đối
mặt với nhiều thách thức trong các cơ hội so với nam giới về việc làm, tiền lương thu
nhập, điều kiện lao động, bảo hiểm xã hội…Nhiều chủ sử dụng lao động đã không muốn
tuyển nhận lao động nữ nếu không có sự ràng buộc của các quy định pháp luật. Bởi vậy,
ngoài những quy định áp dụng cho tất cả mọi người lao động nói chung, pháp luật lao
động đã có những quy định riêng áp dụng cho lao động nữ nhằm bảo vệ và bảo hộ họ
trước những nguy cơ bất lợi có thể xảy ra do ảnh hưởng từ chính những yếu tố đặc thù.
Đồng thời cũng giúp cho họ vừa có thể thực hiện tốt chức năng lao động xã hội vừa có
thể thực hiện tốt thiên chức của người phụ nữ.
Về mặt xã hội: Theo các nhà xã hội học phụ nữ ở thời kỳ bình minh của nhân loại, phụ
nữ tham gia vào các hoạt động sản xuất một cách bình đẳng với nam giới, thủa ban đầu,
nam giới và phụ nữ cùng lao động chung, cùng săn bắt hái lượm. Nhưng vào thời kỳ đó,