Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp đối với tội phạm về ma túy (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn thành phố đà nẵng) - Pdf 39

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN TUN THANH T

thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động t- pháp
đối với tội phạm về ma túy
(trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn thành phố Đà Nẵng)

LUN VN THC S LUT HC

H Ni - 2016


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN TUN THANH T

thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động t- pháp
đối với tội phạm về ma túy
(trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn thành phố Đà Nẵng)

Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04

LUN VN THC S LUT HC

Cỏn b hng dn khoa hc: PGS. TS. NGUYN NGC CH

H NI - 2016

kiểm sát hoạt động tƣ pháp của Viện kiểm sát nhân dân .............. 8

1.1.1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của quyền công tố ................................ 9
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của quyền kiểm sát hoạt động tư pháp ........ 14
1.2.

Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa thực hành quyền công tố và
kiểm sát hoạt động tƣ pháp đối với tội phạm về ma túy .............. 18

1.2.1. Vài nét về tội phạm ma túy ................................................................ 18
1.2.2. Khái niệm thực hành quyền công tố và kiểm sát tư pháp với tội
phạm ma túy ....................................................................................... 21
1.2.3. Đặc điểm thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư
pháp trong tố tụng hình sự đối với các tội phạm về ma túy ............... 21
1.3.

Nội dung thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tƣ
pháp đối với tội phạm về ma túy..................................................... 22

1.3.1. Đối tượng và phạm vi ......................................................................... 22
1.3.2. Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp đối với
các tội phạm về ma túy trong giai đoạn điều tra ................................ 25
1.3.3. Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp đối với
các tội phạm về ma túy trong giai đoạn xét xử .................................. 30


1.3.4. Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp đối với
các tội phạm về ma túy trong giai đoạn thi hành án .......................... 32
CHƢƠNG 2: PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HÀNH
QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG TƢ


3.2.

Giải pháp hoàn thiện pháp luật về thực hành quyền công tố
và kiểm sát hoạt động tƣ pháp tại Việt Nam ................................. 59

3.2.1. Đối với quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân .......................... 59


3.2.2.

Đối với kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân ........... 62

3.2.3. Biện pháp nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố đối với
các tội phạm ma túy trên địa bàn thành phố Đà Nẵng ....................... 65
KẾT LUẬN .................................................................................................... 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 71


DANH MỤC BẢNG

Số hiệu

Tên bảng

Bảng 2.1: Số liệu thống kê công tác truy tố, xét xử tội phạm ma túy

Trang
49


2014, số lượng người nghiện ma túy lên đến 1.888 người; con số này tăng so
với năm 2013 là 248 người [13, tr. 2]. Trong khi đó, ngành kiểm sát Đà Nẵng
đối mặt với nhiều bất cập và thực trạng chung của các cơ quan kiểm sát địa
phương cũng như từ những chính sách mới ảnh hưởng tới hiệu quả thực thi
quyền công tố và giám sát tư pháp trên địa bàn thành phố. Điều này đặt ra yêu
cầu cần có những nghiên cứu cụ thể và thiết thực để công tác thực hành quyền
công tố và kiểm sát điều tra vụ án ma túy của Viện kiểm sát nhân dân thành
phố Đà Nẵng đáp ứng được các tôn chỉ hoạt động của ngành kiểm sát cụ thể:
Mọi hành vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều tra và xử
lý kịp thời, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm
oan người vô tội; Không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ,
tạm giam, bị hạn chế các quyền công dân, bị xâm phạm tính mạng,
sức khoẻ, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm một cách trái pháp
luật; Việc điều tra phải khách quan, toàn diện, đầy đủ, chính xác,
đúng pháp luật; những vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra
phải được phát hiện kịp thời; khắc phục và xử lý nghiêm minh;
Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị can phải có căn cứ và
đúng pháp luật [42, tr. 14].
Với các lý do trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Thực hành quyền công
tố và kiểm sát hoạt động tư pháp đối với tội phạm về ma tuý (trên cơ sở số
liệu thực tiễn địa bàn thành phố Đà Nẵng)” cho luận văn thạc sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Hiện nay, các nghiên cứu về quyền công tố và kiểm sát tư pháp của cơ
quan kiểm sát nhân dân khá nhiều và đầy đủ.
Phải kể tới một số công trình nghiên cứu có giá trị liên quan tới các
khía cạnh của tội phạm ma túy như:

2



- TS Trần Công Phàn, Tiếp tục quan tâm làm tốt công tác thực hành
quyền công tố và kiểm sát giải quyết các vụ án ma túy trong tình hình hiện
nay, Tạp chí Kiểm sát số 20/2015, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, tr. 2-6, 18;
- Nguyễn Thị Hường, Luận văn thạc sĩ luật học “Thực hành quyền
công tố, kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm theo Bộ
luật Tố tụng hình sự Việt Nam” do PGS. TS. Nguyễn Văn Huyên hướng
dẫn, Hà Nội, 2014;
- Đặng Văn Thực, Khóa luận tốt nghiệp “Thực hành quyền công tố và
kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự” do TS.
Vũ Gia Lâm hướng dẫn, Hà Nội, 2012;
- Nguyễn Thị Kiều Trang, Khóa luận tốt nghiệp “Thực hành quyền
công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự” do TS. Vũ Gia Lâm hướng dẫn, Hà Nội, 2012;
- Trần Đức Phong, Một số kinh nghiệm qua thực tiễn thực hành quyền
công tố và kiểm sát điều tra các vụ án về tội phạm ma tuý, Tạp chí Kiểm sát
số 20/2011, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, tr. 2 – 9;
- Phạm Mạnh Hùng, Bảo vệ quyền con người qua hoạt động thực
hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của viện kiểm sát
trong tố tụng hình sự, Tạp chí Kiểm sát số 21/2011, Viện Kiểm sát nhân
dân tối cao, tr. 11-17…
Một số bài báo đáng chú ý trong đề tài nghiên cứu này kể tới như:
- Hoàng Thế Hanh, Một số vấn đề cơ bản để bảo đảm chất lượng thực
hành quyền công tố của kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra các vụ án tham
nhũng, Tạp chí Kiểm sát của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Số 16/2015, tr. 52;
- Vũ Thị Thùy Dương, Nâng cao chất lượng kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự đối với bị can, bị cáo là người chưa
thành niên, Tạp chí Thanh tra của Thanh tra Chính phủ, Số 6/2015, tr. 33;

4



kiểm sát hoạt động tư pháp, từ đó phân tích thực tiễn tội phạm ma túy trên địa
bàn thành phố Đà Nẵng để rút ra các vướng mắc, hạn chế của pháp luật hiện
hành và nguyên nhân của những bất cập trong thực thi pháp luật liên quan.
Ba là, đề xuất các ý kiến nhằm hoàn thiện pháp luật về thực hành quyền
công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp hiện nay.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu một cách có hệ thống, sâu sắc những
khía cạnh pháp lý của một số quy định của pháp luật về thực hành quyền công
tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Nghiên cứu còn sử dụng thực tiễn áp dụng
đối với tội phạm ma túy trên địa bàn Đà Nẵng cũng như trên các địa bàn khác,
pháp luật của một số quốc gia phát triển nhằm đánh giá về quy định pháp luật
liên quan và đưa ra những quan điểm hoàn thiện tại Việt Nam hiện nay.
3.4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được hoàn thành trên cơ sở vận dụng các phương pháp luận
duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê nin và quan điểm
của Đảng cộng sản Việt Nam. Luận văn cũng sử dụng những phương pháp
nghiên cứu luật học truyền thống như phương pháp phân tích, phương pháp
tổng hợp, pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp lịch sử, tư duy
logic, phương pháp quy nạp, diễn giải… nhằm làm sáng tỏ nội dung và phạm
vi nghiên cứu của đề tài.
4. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Với việc thực hiện đề tài này, tác giả mong muốn góp phần hoàn
thiện hơn các quy định liên quan đến thực hành quyền công tố và kiểm sát
hoạt động tư pháp của cơ quan kiểm sát nhân dân trên cơ sở lý luận và thực
tiễn áp dụng với tội phạm ma túy trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Luận
văn này sẽ là một trong những tài liệu khoa học hữu ích cho việc giảng

6


công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra, xét xử các vụ
án hình sự; kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình,
hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật;
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành bản án, quyết định của
Tòa án nhân dân; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tạm giữ, tạm
giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù; tiếp nhận, giải quyết
kịp thời các khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền; kiểm sát việc giải quyết
khiếu nại, tố cáo về các hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp theo quy
định của pháp luật; tiếp nhận các tin báo, tố giác về tội phạm do các cơ quan,
tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân và cá nhân chuyển đến. Năm 2002 đánh
dấu bước điều chỉnh quan trọng về chức năng hoạt động của Viện kiểm sát
theo yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp, cụ thể kể từ thời điểm Viện

8


kiểm sát chỉ có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động
tư pháp, không thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội nữa. Tới nay, Luật Tổ chức Viện Kiểm
sát nhân dân (sửa đổi) đã được Quốc hội khóa XIII kỳ họp thứ 8 thông qua
ngày 25/11/2014 gồm 06 chương, 101 điều [31] và được xác định là sửa đổi
căn bản, toàn diện về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân nhằm
thể chế Hiến pháp năm 2013 và yêu cầu cải cách tư pháp. Theo đó, Viện
Kiểm sát trong tố tụng hình sự có hai chức năng: Chức năng thực hành quyền
công tố và chức năng kiểm sát tư pháp trong hoạt động tụng hình sự.
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của quyền công tố
1.1.1.1. Khái niệm
“Quyền công tố” là quyền nhân danh quyền lực công thực hiện việc
truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội [40, tr. 204]. Đối tượng
tác động của quyền công tố là tội phạm và người phạm tội. Phạm vi quyền

nam trước 1945 và tồn tại ở miền Bắc đến năm 1958, ở Miền Nam trước
1975, cơ quan công tố nằm trong tòa án. Có lúc nó nằm trong Chính phủ
(1958 – 1959) và mô hình VKS như hiện nay. Cụm từ “thực hành quyền công
tố” lần đầu tiên xuất hiện trong các văn bản pháp lý là Hiến pháp năm 1980
khi đề cập đến chức năng của Viện kiểm sát nhân dân tại Điều 138, và được
nhắc lại ở các Điều 1 và 3 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981.
Kể từ đó, đã có nhiều tài liệu, bài viết bàn về quyền công tố và thực hành
quyền công tố, nhất là từ khi nước ta tiến hành công cuộc cải cách tư pháp.
Riêng về “quyền công tố” đã có tới tám quan điểm khác nhau. Mỗi quan điểm
có cách thể hiện và lập luận riêng [16, tr. 44]. Dưới đây là 04 nhóm quan
điểm phổ biến nhất trong số đó:
- Quan điểm 1: Công tố không phải là chức năng độc lập của viện kiểm
sát mà chỉ là hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong tố tụng hình sự [21, tr. 127-151]. Quan hệ giữa thực hành quyền công tố

10


và kiểm sát việc tuân theo pháp luật là quan hệ giữa cái riêng và cái chung.
Quan niệm này phổ biến ở nước ta trước năm 1980 khi hiến pháp chưa có quy
định về chức năng thực hành quyền công tố của viện kiểm sát và cũng xuất
phát từ quan niệm phổ biến của các nhà tố tụng hình sự học Xô viết trước đây.
- Quan điểm 2: Quyền công tố là quyền của viện kiểm sát thay mặt nhà
nước bảo vệ lợi ích công (nhà nước, xã hội và công dân) khi có các vi phạm
pháp luật. Vì vậy, viện kiểm sát thực hành quyền công tố không chỉ trong tố
tụng hình sự mà cả trong lĩnh vực tố tụng khác như dân sự, kinh tế và các hoạt
động tư pháp khác [38, tr. 56].
- Quan điểm 3: Quyền công tố là quyền của nhà nước giao cho viện
kiểm sát truy tố người phạm tội ra trước tòa án và thực hành việc buộc tội đó
tại phiên tòa [36, tr. 86-87].

nước, quyền lực công để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự và áp
dụng hình phạt đối với người phạm tội; còn người phạm tội là chủ thể bị truy
cứu trách nhiệm hình sự và gánh chịu các chế tài hình sự do nhà nước quy
định và áp dụng.
Một trong những nguyên tắc đặc thù của hoạt động tố tụng hình sự là
nguyên tắc công tố, nguyên tắc mà mọi hoạt động tố tụng được tiến hành
trước hết và chủ yếu vì lợi ích nhà nước, lợi ích chung của toàn xã hội. Điểm
mấu chốt nhất của nguyên tắc này là hoạt động của các cơ quan tiến hành tố
tụng nhằm phát hiện, khám phá tội phạm, xác định và xử lý người phạm tội.
Một số công dân cũng tham gia vào hoạt động tố tụng, nhưng họ chỉ được lôi
cuốn vào hoạt động tố tụng khi hoạt động này đã xuất hiện trên cơ sở các
quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng. Mặt khác, hoạt động tố tụng
hình sự luôn tồn tại ba chức năng tố tụng cơ bản: buộc tội; bào chữa (gỡ tội)
và xét xử. Buộc tội, thực chất là hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự đối
với người phạm tội. Người buộc tội, đại diện của cơ quan thực hiện chức năng
buộc tội có trách nhiệm và có quyền đưa ra lời cáo buộc đối với những cá

12


nhân cụ thể và có nhiệm vụ phải đưa ra những bằng chứng cho sự cáo buộc
đó. Vì thế, quyền lực nhà nước trong lĩnh vực hình sự gắn liền với sự buộc tội
nhân danh nhà nước, hay nói cách khác là nhân danh công quyền, và chỉ phát
sinh khi có hành vi phạm tội xảy ra. Sự buộc tội nhân danh công quyền này
được gọi là quyền công tố. Như vậy, quyền công tố là quyền nhân danh nhà
nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.
Xuất phát từ khái niệm về quyền công tố như trên, nên đối tượng của
quyền công tố chỉ là tội phạm và người phạm tội; nội dung của quyền công tố
là sự buộc tội đối với người đã thực hiện hành vi tội phạm; phạm vi quyền
công tố bắt đầu từ khi tội phạm được thực hiện và kết thúc khi bản án có hiệu

hai quy trình tiếp tục lẫn nhau để đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Khác với chế định quyền công tố của các quốc gia tư bản phương tây
chỉ bao gồm quyền buộc tội, quyền công tố của nước ta bao gồm cả quyền
buộc tội và gỡ tội. Khi thực hiện chức năng buộc tội, Viện kiểm sát căn cứ
chứng cứ thu thập được để buộc tội đối với bị can, bị cáo hoặc đưa ra những
căn cứ gỡ tội đối với bị can, bị cáo khi đình chỉ vụ án; thông qua bản cáo
trạng hoặc bản luận tội nêu các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự đối với bị can, bị cáo. Khi thực hiện quyền công tố, Viện kiểm sát
thay mặt cho quyền lực nhà nước để truy tố ra tòa những người phạm tội và là
cơ sở pháp lý để Tòa án xét xử vụ án thông qua quyết định truy tố của Viện
kiểm sát nhân dân [38, tr. 60].
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của quyền kiểm sát hoạt động tư pháp
1.1.2.1. Khái niệm
Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động thực hiện quyền lực Nhà nước,
do Nhà nước giao cho Viện kiểm sát nhằm đảm bảo pháp chế trong hoạt động
tư pháp hình sự. Kiểm sát các hoạt động tư pháp là một dạng giám sát Nhà
nước về tư pháp, là hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước. Tuy nhiên, khác
với hoạt động giám sát Nhà nước nói chung về tư pháp, kiểm sát hoạt động tư

14


pháp là sự giám sát trực tiếp các hoạt động cụ thể của các cơ quan tư pháp và
các cơ quan được giao một số hoạt động trong quá trình tố tụng như: Kiểm
lâm, Hải quan, Cảnh sát biển… khi tham gia hoạt động tố tụng.
Xét hoàn cảnh lịch sử nên Hiến pháp năm 1946 không được ban bố thi
hành, Quốc hội giao cho Chính phủ cùng Ban Thường vụ Quốc hội căn cứ
vào các nguyên tắc của Hiến pháp ban hành các văn bản pháp luật, vì vậy Tòa
án và Cơ quan công tố được tổ chức theo các Sắc lệnh của Chính phủ. Theo
các Sắc lệnh nói trên thì Cơ quan công tố nằm trong cơ cấu tổ chức của Tòa

quan Nhà nước và công dân. Các Viện kiểm sát nhân dân địa
phương và Viện kiểm sát quân sự có quyền kiểm sát trong phạm vi
do luật định [38, tr. 53].
Sự ra đời của mô hình Viện kiểm sát thay thế cho mô hình Viện công tố
ở nước ta gắn liền với yêu cầu của nhiệm vụ bảo đảm pháp chế thống nhất điều kiện nền tảng cho việc xây dựng nhà nước kiểu mới. Xét bối cảnh lịch sử
ra đời của Viện kiểm sát thì thấy việc lựa chọn mô hình này ở nước ta, Ban
soạn thảo Hiến pháp năm 1959 do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu quyết
định chuyển Viện công tố thành Viện kiểm sát bao gồm cả chức năng công tố
và chức năng kiểm sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật là hoàn toàn có
sự cân nhắc, tính toán và thể hiện tính khách quan chứ không phải là một sự
sao chép máy móc mô hình Viện kiểm sát ở một số nước trên thế giới. Đến
Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992 tuy có những bổ sung, thay đổi
về tổ chức, hoạt động của Viện kiểm sát nhưng chức năng kiểm sát các hoạt
động tư pháp vẫn luôn được giao cho Viện kiểm sát.
Theo khoản 2 Điều 23 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định:
Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng
hình sự có trách nhiệm phát hiện kịp thời vi phạm pháp luật của các cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố
tụng, áp dụng những biện pháp do Bộ luật này quy định để loại trừ việc
vi phạm pháp luật của những cơ quan hoặc cá nhân này [28, tr. 17].

16


Theo đó, trong quá trình tiến hành tố tụng Viện kiểm sát còn kiểm sát
việc tuân theo pháp luật (kiểm sát hoạt động tư pháp) đối với Cơ quan tiến
hành tố tụng; Người tiến hành tố tụng; Người tham gia tố tụng nhằm bảo đảm
cho pháp luật được thi hành thống nhất, không để cơ quan, cá nhân nào làm
trái quy định của pháp luật, gây oan sai cho người vô tội. Mục đích của kiểm
sát hoạt động tư pháp là nhằm đảm bảo cho pháp luật được áp dụng nghiêm

và xử lý nghiêm minh, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội.
1.2. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa thực hành quyền công tố và kiểm
sát hoạt động tƣ pháp đối với tội phạm về ma túy
1.2.1. Vài nét về tội phạm ma túy
Ma túy là ẩn họa của toàn nhân loại và cuộc chiến chống lại ma túy cho
thấy sự cam go trên phạm vi toàn cầu cũng như trong khu vực. Hàng trăm
năm qua, tội phạm ma túy gắn bó hữu cơ với tội phạm hình sự trên thế giới
cũng như ở từng khu vực và trong từng quốc gia.
Ở Việt Nam, mặc dù đã có nhiều cố gắng của các cơ quan nhà nước, tổ
chức và sự tham gia của toàn xã hội nhưng tội phạm ma túy vẫn có xu hướng
gia tăng, diễn biến phức tạp. Trước tình hình đó, ngày 09/12/2000, Quốc hội
đã ban hành Luật Phòng, chống ma túy số 23/2000/QH10 và Luật này được
sửa đổi, bổ sung năm 2008, có hiệu lực từ ngày 01/01/2009. Đồng thời, ngày
25/9/2007 Thủ tướng ban hành Quyết định số 156/2007/QĐ-TTg Phê duyệt
Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy đến năm 2010 với 9 đề
án, trong đó Bộ Công an là đầu mối Chương trình mục tiêu quốc gia phòng,
chống ma túy. Ngày 24/02/2011 Thủ tướng tiếp tục ban hành Quyết định số
282/QĐ-TTg về việc ban hành kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 48 CT/TW ngày
22/10/2010 của Bộ chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công
tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới.
Trong các quy định của pháp luật hình sự, Bộ luật Hình sự năm 1985
quy định duy nhất 01 điều về tội phạm ma túy, cụ thể là Điều 203 về tội tổ

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status