đại học quốc gia hà nội
khoa luật
phạm thị thúy
thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra
vụ án gây rối trật tự công cộng
trên địa bàn tỉnh hưng yên
luận văn thạc sĩ luật học
Hà nội - 2015
1
đại học quốc gia hà nội
khoa luật
phạm thị thúy
thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra
vụ án gây rối trật tự công cộng
trên địa bàn tỉnh hưng yên
Chuyên ngành
: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số
: 60 38 01 04
TRẬT TỰ CÔNG CỘNG
1.1.
Khái niệm, đặc điểm, mối quan hệ giữa thực hành quyền công
7
tố và kiểm sát điều tra
1.1.1. Khái niệm thực hành quyền công tố
7
1.1.2. Khái niệm kiểm sát điều tra
16
1.1.3. Mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra
18
1.2.
21
Đặc điểm của hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát
điều tra các vụ án gây rối trật tự công cộng
1.2.1. Tội gây rối trật tự công cộng
Chương 2:
PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VÀ THỰC TRẠNG
33
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ÐIỀU
TRA VỤ ÁN GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG TRÊN
ÐỊA BÀN TỈNH HƯNG YÊN
2.1.
Pháp luật tố tụng hình sự về thực hành quyền công tố và kiểm
33
sát điều tra
2.2.
Thực trạng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các
40
vụ án gây rối trật tự công cộng
2.2.1. Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra trong giai đoạn
41
NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC THỰC HÀNH
QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ
ÁN GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG
3.1.
Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về thực hành quyền công
91
tố và kiểm sát điều tra
3.2.
Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thực hành
94
quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án gây rối trật tự
công cộng
3.2.1. Tăng cường trách nhiệm công tố, gắn công tố với hoạt động
điều tra
4
94
3.2.2. Nâng cao kỹ năng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra
: Bộ luật Tố tụng hình sự
CQĐT
: Cơ quan điều tra
KSĐT
: Kiểm sát điều tra
THQCT
: Thực hành quyền công tố
TTCC
: Trật tự công cộng
VKS
: Viện kiểm sát
VKSND
: Viện kiểm sát nhân dân
VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân tối cao
6
DANH MỤC CÁC BIỀU ĐỒ
Số hiệu
Tên biểu đồ
Trang
biểu đồ
2.1
Tỷ lệ các loại tố giác, tin báo về tội gây rối TTCC
7
44
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, tội phạm nói chung, các tội xâm phạm an toàn công cộng,
trật tự công cộng (TTCC) nói riêng và đặc biệt là tội gây rối TTCC đang là
vấn đề nhức nhối của toàn xã hội, tuy loại tội phạm này có tính nguy hiểm
không cao so với các loại tội phạm khác nhưng nó có tính phổ biến, đa dạng
và ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội. Hành vi
gây rối TTCC xâm phạm các quan hệ xã hội trong lĩnh vực công cộng, gây
tổn hại đến các quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước và công dân, hành vi
này được thực hiện công khai và thường ở những nơi đông người, biểu hiện ý
thức coi thường kỷ cương xã hội, pháp luật của Nhà nước. Hình thức biểu
hiện của hành vi gây rối thường là: Hành hung, đánh lộn, đập phá, gây lộn
xộn ở nơi đông người, tụ tập đi xe máy tốc độ cao, lạng lách, đánh võng, gây
Thực hành quyền công tố và KSĐT là chủ đề đã được nhiều học giả
nghiên cứu dưới góc độ lý luận và từ nhiều phương diện khác nhau, trong đó
phải kể đến một số công trình điển hình như sau:
- Lê Cảm (2001), "Những vấn đề lý luận về chế định quyền công tố",
Kỷ yếu đề tài khoa học cấp Bộ: Những vấn đề lý luận về quyền công tố và
việc tổ chức thực hiện quyền công tố ở Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân tối
cao (VKSNDTC), Hà Nội.
- Lê Hữu Thể (Chủ biên) (2005), Thực hành quyền công tố và kiểm sát
các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
- Trịnh Duy Tám (2005), áp dụng pháp luật trong thực hành quyền
công tố ở giai đoạn điều tra của Viện kiểm sát nhân dân ở Việt Nam hiện nay,
Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội.
- Hà Thị Minh Hạnh (2011), Chất lượng thực hành quyền công tố và
kiểm sát điều tra các vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp của Viện
kiểm sát nhân dân cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ
Luật học, Hà Nội.
9
- Bùi Mạnh Cường (2012), Gắn công tố với hoạt động điều tra trong
tố tụng hình sự theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X - Một số
vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội.
Tuy nhiên, chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu hoạt
động thực THQCT và KSĐT cụ thể đối với vụ án gây rối TTCC. Vì vậy, việc
nghiên cứu đề tài "Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án gây
rối trật tự công cộng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên" là một đòi hỏi cấp thiết, có
ý nghĩa thực tiễn sâu sắc.
3. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
- Mục đích của đề tài
vụ án gây rối TTCC. Đưa những vấn đề cần làm sáng tỏ trong khi THQCT và
KSĐT các vụ án gây rối TTCC, đồng thời đề xuất các giải pháp nâng cao chất
lượng THQCT và hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự và tố tụng
hình sự liên quan.
Về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực trạng THQCT trong giai đoạn
điều tra các vụ án gây rối TTCC trong 05 năm (2010 - 2014).
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật
lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh về
Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà
nước pháp quyền, về chính sách tố tụng hình sự và hình sự, về vấn đề nâng
cao chất lượng THQCT trong cải cách tư pháp mà Nghị quyết Đại hội Đảng
VIII, IX, X và các Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số
49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của
Bộ Chính trị.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các
phương pháp cụ thể và đặc thù của khoa học luật tố tụng hình sự, khoa học
điều tra hình sự và các phương pháp, kỹ năng khác, như: phương pháp phân
tích và tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch;
phương pháp quy nạp; phương pháp thống kê, điều tra xã hội học để tổng hợp
các tri thức khoa học luật tố tụng hình sự và luận chứng các vấn đề tương ứng
được nghiên cứu trong luận văn.
11
6. Những điểm mới và đóng góp của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng về phương
diện lý luận và thực tiễn, vì đây là công trình nghiên cứu đầu tiên và có hệ
thống ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học về hoạt động THQCT và KSĐT
Kết quả nghiên cứu của luận văn được sử dụng trong thực tiễn nhằm
góp phần giúp VKSND tỉnh Hưng Yên cũng như VKSND các địa phương
trong cả nước nâng cao được chất lượng THQCT và KSĐT đối với các vụ án
gây rối TTCC.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về thực hành quyền công tố và kiểm
sát điều tra.
Chương 2: Pháp luật thực định và thực trạng thực hành quyền công tố
và kiểm sát điều tra vụ án gây rối trật tự công cộng trên địa bàn tỉnh Hưng
Yên từ năm 2010 đến năm 2014.
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao chất
lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án gây rối trật tự
công cộng.
13
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ
VÀ KIỂM SÁT ÐIỀU TRA VỤ ÁN GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG
1.1. khái niệm, đặc điểm, mối quan hệ giữa thực hành quyền công
tố và kiểm sát điều tra
1.1.1. Khái niệm thực hành quyền công tố
* Quyền công tố
Tại Việt Nam, thuật ngữ "quyền công tố" với tư cách là quyền năng
của VKS lần đầu tiên được ghi nhận tại Hiến pháp năm 1980, sau đó là Hiến
pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013, Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm
1988, BLTTHS năm 2003, Luật tổ chức VKSND năm 1981, Luật tổ chức
nhòa ranh giới và tính đặc thù giữa tố tụng hình sự và các lĩnh vực tố tụng khác.
Quan điểm thứ ba: Quyền công tố là quyền đại diện, nhân danh nhà
nước thực hiện sự buộc tội tại phiên tòa, tức là chỉ diễn ra trong giai đoạn xét
xử. Ở Việt Nam quyền này được Nhà nước giao cho Viện kiểm sát nhân
dân [53, tr. 1-60]. Theo quan điểm này việc thực hiện quyền công tố chỉ diễn
ra ở một lĩnh vực duy nhất là tố tụng hình sự và cũng chỉ có ở một giai đoạn
duy nhất của tố tụng hình sự là giai đoạn xét xử.
Theo tôi, quan điểm này trái ngược với quan điểm thứ hai, đã quá thu
hẹp không chỉ khái niệm, nội dung mà còn cả phạm vi của quyền công tố;
không những vậy, nó còn không phản ánh được bản chất của quyền công tố,
còn nhầm lẫn giữa quyền công tố và THQCT bởi vì truy tố và buộc tội trước
Tòa chỉ là một trong số các quyền năng cụ thể của hoạt động THQCT tại giai
đoạn xét xử.
Quan điểm thứ tư: "Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho
các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với
người phạm tội" [53, tr. 10]. Quan điểm này cho rằng quyền công tố chỉ xuất
hiện trong lĩnh vực hình sự và chủ thể THQCT không chỉ có VKS mà còn có
các cơ quan tiến hành tố tụng khác (CQĐT, Tòa án, Thi hành án) và như vậy
quyền công tố có trong tất cả các giai đoạn từ điều tra, truy tố, xét xử đến thi
hành án. Quan điểm này đã đồng nhất khái niệm quyền công tố với nguyên
15
tắc truy cứu trách nhiệm hình sự rằng tội phạm phải bị truy cứu và bị trừng trị,
đã nhầm lẫn giữa các chức năng cơ bản (buộc tội, gỡ tội, xét xử …).
Quan điểm thứ năm:
Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho Viện kiểm
sát truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội; cơ quan
công tố có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng
của ngành kiểm sát: Công tố là một biện pháp chuyên chính trong bất cứ nhà
nước nào. Không có cơ quan nhà nước nào có thể thay thế ngành kiểm sát để
sử dụng quyền công tố. Bắt giam, điều tra, tha, truy tố, xét xử có đúng người,
đúng tội, đúng pháp luật hay không, đó chính là việc Viện kiểm sát nhân dân
phải trông nom, đảm bảo tốt.
- Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị nêu rõ:
"Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân
theo pháp luật trong hoạt động tư pháp" [9, tr. 2].
- Tại Báo cáo thẩm tra của Ủy ban pháp luật của Quốc hội (số 729
ngày 14/3/2002) về dự án Luật Tổ chức VKSND khẳng định: "Hoạt động
công tố chỉ có trong lĩnh vực hình sự, bắt đầu từ việc phát hiện, khởi tố vụ án
đến truy tố bị can và tranh tụng tại phiên tòa" [44, tr. 4].
- Kết luận tại Hội nghị của ngành kiểm sát nhân dân, quán triệt những
nội dung cơ bản của Luật Tổ chức VKSND năm 2002 và những công tác
trọng tâm của VKSND nhằm thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ
Chính trị được tổ chức tháng 6/2002, đồng chí Hà Mạnh Trí - Viện trưởng
VKSND tối cao đã khẳng định: "Việc thực hành quyền công tố chỉ có trong
lĩnh vực hình sự và chỉ trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử".
- Hiến pháp 2013 (Điều 107) và các văn bản pháp luật của Nhà nước
ta (Điều 2 Luật Tổ chức VKSND năm 2014, Điều 23 BLTTHS năm 2003)
quy định: "Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt
động tư pháp" [37, tr. 39].
Từ những dẫn chứng trên, tôi bày tỏ sự đồng tình với quan điểm của
Tiến sĩ Lê Hữu Thể, cũng chính là quan điểm thứ 5 đã nêu trên:
Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc
truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Quyền công
17
18
nhưng các quyết định khởi tố vụ án hình sự của Tòa án đều phải được gửi cho
VKS xem xét, nếu có vi phạm pháp luật thì VKS sẽ kháng nghị. Như vậy, về
mặt pháp lý chỉ có VKS là cơ quan có quyền độc lập phát động quyền công tố
mà không chịu sự can thiệp của bất cứ cơ quan nhà nước nào. Trong giai đoạn
điều tra, CQĐT chỉ có quyền đề nghị áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ các biện
pháp ngăn chặn, còn việc quyết định là do VKS; CQĐT có quyền độc lập thu
thập tài liệu chứng cứ, nhưng việc bảo đảm cho các tài liệu chứng cứ ấy có đủ
cơ sở để truy tố bị can hay không là do VKS chịu trách nhiệm. Khi có đủ tài
liệu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội và xét thấy cần xử lý người đó
trước Tòa án thì VKS quyết định truy tố bị can ra Tòa. BLTTHS nước ta đã
quy định thẩm quyền công tố của VKS trong tố tụng hình sự rất lớn là "được
áp dụng các biện pháp do BLTTHS để xác định tội phạm và xử lý người
phạm tội" (Điều 23 BLTTHS). Từ những nội dung trên, tôi đồng ý với quan
điểm: "Thực hành quyền công tố là việc Viện kiểm sát sử dụng các biện pháp
do luật định để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, đưa
người phạm tội ra xét xử trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó" [19, tr. 40].
Phạm vi quyền công tố
Trong tố tụng hình sự ở nước ta hiện nay, VKS thực hiện quyền công
tố ở các giai đoạn tố tụng, bởi vì khi có việc tiến hành tố tụng thì bao giờ cũng
gắn liền với việc buộc tội. Do đó, không thể quan niệm việc THQCT chỉ ở
giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm hoặc xét xử phúc thẩm. Tại phiên tòa giám
đốc thẩm, VKS cũng có thể bảo vệ quan điểm buộc tội của VKS cấp dưới khi
bị cáo kháng cáo kêu oan, bảo vệ kháng nghị của VKS theo hướng tăng nặng
trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Về nguyên tắc, khi có tội phạm xảy ra là xuất hiện quyền công tố, luật
tố tụng hình sự Việt Nam đã thể hiển rõ nguyên tắc này là: Mục đích của tố
tụng hình sự nhằm bảo đảm cho mọi tội phạm xảy ra đều phải được phát hiện
biện pháp do luật định mà VKS sử dụng để truy cứu trách nhiệm hình sự đối
với người phạm tội... Thế nhưng trong lý luận và thực tiễn hiện nay vẫn chưa
có một công trình nào nêu rõ được nội dung THQCT bao gồm những quyền
năng pháp lý cụ thể nào. Điều này dẫn tới tình trạng nhầm lẫn giữa chức năng
THQCT và chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKS. Từ kết quả
20
nghiên cứu ở các phần trên, tôi cho rằng: những quyền năng pháp lý mà VKS
tự quyết định và liên quan đến việc cáo buộc bị can, bị cáo thì đó là những
quyền năng thuộc nội dung THQCT; những quyền năng pháp lý mà VKS sử
dụng để phát hiện và yêu cầu xử lý vi phạm pháp luật của cơ quan tiến hành
tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng là những quyền
năng thuộc chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật. Tuy vậy, việc xác
định và phân biệt này chỉ mang tính chất tương đối, bởi vì có những hành vi
tố tụng mà chúng thể hiện sự đan xen giữa THQCT và kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong lĩnh vực tư pháp. Chẳng hạn, quyết định kháng nghị phúc
thẩm hình sự của VKS đối với bản án hoặc quyết định chưa có hiệu lực pháp
luật. Vì một quyết định kháng nghị có thể bao hàm đồng thời hai nội dung,
một là có sự vi phạm trong việc áp dụng BLHS, hai là vi phạm nghiêm trọng
về tố tụng hình sự; hoặc chỉ thể hiện một trong hai nội dung trên nhưng đều
làm phát sinh một trình tự xét xử mới, xét xử phúc thẩm hình sự. Chính vì lẽ
đó, theo luật định, VKS thực hiện đồng thời hai chức năng, chức năng công tố
và kiểm sát các hoạt động tư pháp mà không tách ra thành các chương riêng.
Nhiều nước trên thế giới, ngoài chức năng công tố, Viện công tố còn được
giao nhiệm vụ trông nom việc áp dụng pháp luật của các cơ quan tư pháp
nhưng cũng không tách bạch giữa hai nhiệm vụ này trong Luật công tố. Hiện
nay trong lý luận và thực tiễn cũng còn có một số quan điểm khác nhau về
THQCT và chủ thể THQCT. Do đó việc quan niệm nội dung THQCT cũng
thực hiện mục đích THQCT, pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam đã quy định
cho VKS những quyền năng pháp lý:
- Quyết định việc khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can;
- Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu CQĐT tiến hành điều tra; trực tiếp
tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật.
- Yêu cầu thủ trưởng CQĐT thay đổi Điều tra viên. Nếu hành vi của
Điều tra viên có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố về hình sự;
- Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm
giam và các biện pháp ngăn chặn khác, phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết
định của CQĐT theo quy định của pháp luật;
- Hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của CQĐT;
22
- Quyết định truy tố bị can, quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ điều
tra; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án.
1.1.2. Khái niệm kiểm sát điều tra
Kiểm sát điều tra nói một cách đầy đủ đó là kiểm sát các hoạt động tư
pháp trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự.
Kiểm sát hoạt động tư pháp
Hoạt động tư pháp là các hoạt động liên quan đến quá trình giải quyết
các vụ án và các tranh chấp bao gồm các hoạt động điều tra, thu thập tài liệu,
chứng cứ như khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành các quyết định của
Tòa án trong cả lĩnh vực hình sự, dân sự và hành chính, kinh tế... Hoạt động
tư pháp là hoạt động trước hết phải được tiến hành bởi các cơ quan tư pháp.
Kiểm sát các hoạt động tư pháp là một trong hai chức năng hiến định
của VKS nhân dân. Theo quy định của pháp luật, VKS thực hiện chức năng
kiểm sát các hoạt động tư pháp bằng các công tác khác nhau gắn liền với các
lĩnh vực khác nhau bao gồm kiểm sát các hoạt động của các cơ quan tiến hành
Trong đó, tại chương II, các mục 2 (gồm các điều 14, 15) quy định cụ thể về
nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi THQCT và kiểm sát tuân theo pháp
luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của CQĐT (công tác thứ nhất) với
tiêu đề "Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự".
Sau khi vụ án được khởi tố, giữa các chủ thể tiến hành tố tụng và
những người tham gia tố tụng phát sinh những quan hệ tố tụng, các quan hệ
này tồn tại trong suốt cả quá trình giải quyết vụ án hình sự. Trong giai đoạn
điều tra thì đó là mối quan hệ giữa CQĐT và VKS, là các hoạt động của
CQĐT được thực hiện bởi các Điều tra viên, là các hành vi của các Điều tra
viên, là các quyết định của CQĐT, là hành vi của những người tham gia tố
tụng... Đồng thời với sự xuất hiện của các hoạt động tố tụng cũng xuất hiện
đòi hỏi có sự giám sát việc tuân theo pháp luật nhằm đảm bảo cho pháp luật
được tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh.
Nội dung của KSĐT chính là các nhiệm vụ và quyền hạn mà pháp
luật tố tụng hình sự quy định khi KSĐT. Theo Điều 113 BLTTHS, nội dung
của KSĐT là: Kiểm sát việc khởi tố, kiểm sát các hoạt động điều tra và việc
lập hồ sơ vụ án của CQĐT; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những
24
người tiến hành và tham gia tố tụng; giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền
điều tra theo quy định của pháp luật; yêu cầu CQĐT khắc phục các vi phạm
pháp luật trong hoạt động điều tra; yêu cầu Thủ trưởng CQĐT xử lý nghiêm
minh Điều tra viên có vi phạm kỷ luật khi tiến hành điều tra…
1.1.3. Mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra
Đây cũng là một vấn đề đã từng có nhiều quan điểm chưa thống nhất
về cả lý luận và thực tiễn. Có quan điểm cho rằng, THQCT và KSĐT là hai
chức năng độc lập của VKS, cần được phân biệt rạch ròi. Bởi lẽ, bản thân