Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng đến chất lượng cây giống sơn đậu trong giai đoạn vườn ươm - Pdf 39

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NÔNG TRUNG NGHIỆP
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA CHẤT KÍCH THÍCH
SINH TRƢỞNG ĐẾN CHẤT LƢỢNG CÂY GIỐNG SƠN ĐẬU CĂN
TRONG GIAI ĐOẠN VƢỜN ƢƠM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành : Trồng trọt
Khoa

: Nông học

Khóa học

: 2011 - 2015

Thái Nguyên, năm 2015


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NÔNG TRUNG NGHIỆP



i

LỜI CẢM ƠN
Từ thực tiễn trong việc đào tạo mỗi sinh viên ở các trường đại học, cao
đẳng trong cả nước thì phương châm đào tạo “học đi đôi với hành, lí luận
gắn liền với thực tiễn” mới mang lại hiệu quả cao. Chính vì vậy, thực tập tốt
nghiệp là một khâu hết sức quan trọng nhằm đưa những kiến thức đã nắm bắt
được từ trong nhà trường áp dụng vào thực tiễn để mỗi sinh viên có đầy đủ
những kiến thức, kĩ năng cơ bản để hành trang bước vào đời.
Là sinh viên năm cuối của khoa Nông học trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên thực hiện phương châm đào tạo của nhà trường, được sự nhất trí của
Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và ban chủ nhiệm
khoa nông học em đã tiến hành nghiên cứu đề tài với chuyên đề: “Nghiên
cứu ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng đến chất lượng cây giống
Sơn Đậu trong giai đoạn vườn ươm”.
Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên và cũng là công trình đánh dấu
bước ngoặt mới của em sau 4 năm học tập và rèn luyện tại trường Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên. Để hoàn thành đề tài tốt nghiệp, ngoài sự cố gắng
nỗ lực của mình em đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan, đơn
vị cá thể của nhà trường, các thầy cô giáo trong khoa Nông học.
Xuất phát từ lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn cô giáo
TS. Bùi Lan Anh đã giành nhiều thời gian quý báu, trực tiếp tận tình giúp
đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài, em xin cảm ơn toàn thể các thầy cô
giáo trong trường nói chung và trong khoa Nông học nói riêng đã tạo giúp
đỡ, dìu dắt em trong quá trình học tập, rèn luyện tại trường. Cảm ơn sự giúp
đỡ của anh Việt đã tạo mọi điều kiện cho em tiến hành thí nghiệm tại vườn
giống cây ôn đới để hoàn thành đề tài của mình.
Với trình độ và năng lực của bản thân có hạn, mặc dù đã cố gắng hết sức



iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU

CT

: Công thức

Đ/c

: Đối chứng

LNL

: Lần nhắc lại

STT

: Số thứ tự


iv

MỤC LỤC
Phần 1: MỞ ĐẦU ............................................................................................ 1
1.1.Đặt vấn đề................................................................................................ 1
1.2. Mục đích và mục tiêu của đề tài ............................................................ 2
1.2.1. Mục đích nghiên cứu ....................................................................... 2

2.10.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây Sơn Đậu Căn ở Việt Nam
................................................................................................................. 13
Phần 3: NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..................... 17
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................ 17
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu ................................................................... 17
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu ....................................................................... 17
3.2. Nội dung nghiên cứu ............................................................................ 17
3.3. Phương pháp nghiên cứu...................................................................... 18
3.3.1. Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng NAA ở
các nồng độ khác nhau đối với cành giâm cây Sơn Đậu Căn ................. 18
3.3.2. Thí nghiệm 2: ................................................................................ 19
3.4. Phương pháp xử lý số liệu.................................................................... 21
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ............................. 22
4.1. Các kết quả nghiên cứu thí nghiệm ...................................................... 22
4.1.1. Ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng NAA xử lý cành giâm
ở các nồng độ khác nhau đối với cành giâm cây Sơn Đậu Căn .............. 22
4.1.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng NAA đến khả
năng sống của các cành giâm cây Sơn Đậu Căn ở các loại cành khác nhau. .... 28
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ............................................................. 35
5.1. Kết luận ................................................................................................ 35
5.2. Đề nghị ................................................................................................. 35
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 36


1

Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1.Đặt vấn đề
Cây thuốc dân gian từ lâu đã được nhiều người quan tâm đến, đây là

cây trồng cho nhiều loài cây đã đạt 1 số kết quả bước đầu nhất định. Một
trong những phương pháp nhân giống duy trì được nguyên vẹn những tính
trạng tốt từ đời trước cho đời sau là phương pháp nhân giống bằng hom. Nhân
giống bằng hom là phương thức nhân giống được dùng rộng rãi cho 1 số loài
cây như cây rừng, cây ăn quả, cây dược liệu. Là phương pháp có hệ số nhân
giống cao, phù hợp với quy mô lớn và sản phẩm cuối cùng cho 1 số lượng cây
giống đồng đều về mặt chất lượng di truyền.
Cây Sơn Đậu Căn là loài cây sinh trưởng tốt, có khả năng chống chịu với
điều kiện tự nhiên. Cây có ý nghĩa rất lớn trong môi trường và trong y học vì
vậy việc nghiên cứu nhân giống cho cây Sơn Đậu Căn bằng phương pháp nào
để cây ra rễ phát triển tốt là điều cần thiết.
Giâm hom duy trì được tính trạng của cây mẹ, giâm hom là dùng một đoạn
ngọn, thân hoặc rễ để tạo ra cây mới, gọi là cây hom. Kết quả của giâm hom phụ
thuộc vào nhiều yếu tố như cách chăm sóc,…Ngoài ra còn phụ thuộc rất nhiều
vào các yếu tố như giá thể , điều kiện ngoại cảnh, chất kích thích…, nhưng sử
dụng loại thuốc nào, nồng độ bao nhiêu thời gian bao nhiêu thích hợp với khả
năng ra rễ của cây lại là một vấn đề cần được nghiên cứu. Xuất phát từ nhu cầu
thực tế phát triển cây Sơn Đậu Căn cùng công tác nghiên cứu em thực hiện đề
tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng đến chất lượng
cây giống Sơn Đậu trong giai đoạn vườn ươm”.
1.2. Mục đích và mục tiêu của đề tài
1.2.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của chất NAA đến khả năng sinh trưởng
của hom cây Sơn Đậu Căn trong giai đoạn vườn ươm.


3

1.2.2. Mục tiêu nghiên cứu
Xác định được nồng độ và thời gian phù hợp nhất cho khả năng ra rễ, ra

một tế bào nhỏ bé trong các mô cũng có thể tái phân sinh tế bào để tạo nên
một cơ thể mới hoàn chỉnh. Đó chính là điểm khác biệt giữa nhân giống vô
tính và nhân giống hữu tính.
Trong các biện pháp sinh sản vô tính, giâm hom là hình thức phổ biến
nhất và là một trong những công cụ có hiệu quả cho việc lưu giữ, bảo vệ và
duy trì giống cây rừng. Bởi chúng có đặc điểm:
Giâm hom có thể dùng hom thân, hom cành, hom rễ toàn những nguyên
liệu có sẵn, dễ làm, dễ thao tác.
Nhân giống bằng hom cho hệ số nhân giống lớn, nên được sử dụng phổ
biến cho nhân giống cây rừng, cây dược liệu, cây ăn quả.
Đối với phương pháp giâm hom thì dễ dang thực hiện, ít tốn kém đầu tư,
dễ dàng mở rộng và chuyển giao công nghệ cho các cơ sở sản xuất. Các


5

phương pháp chủ yếu là từ cành hoặc chồi được cắt thành từng đoạn dài 10 –
15cm, nhúng vào thuốc và cắm vào giá thể bằng cát hoặc túi bầu. Hom được
phun mù theo định kỳ để giữ ẩm cho hom giâm không bị quá khô hay quá ẩm.
Kết quả của hom giâm được xác định bởi thời gian ngắn và tỷ lệ ra rễ cao. Có
nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả của việc giâm hom, nhưng phụ thuộc bởi
ba yếu tố chính là: khả năng ra rễ của hom giâm (cá thể, giai đoạn và vị trí của
hom), môi trường giâm hom và các chất kích thích ra rễ.
Giâm hom là công việc áp dụng và đã thu được những kết quả bước đầu,
có thể đưa vào sản xuất đại trà cho một số đối tượng cây trồng chính phục vụ
bảo tồn và chọn giống.
2.1.1.3. Cơ sở khoa học về chất kích thích sinh trưởng
Những hóa chất có khả năng điều khiển được sinh trưởng và phát dục của
cây trồng được gọi là chất kích thích sinh trưởng hay chất điều hòa sinh trưởng.
Ảnh hưởng của các chất kích thích sinh trưởng đến sự ra rễ của hom

Sơn Đậu là loài quý hiếm, phân bố hẹp, trữ lượng không đáng kể, lại
thường bị chặt phá bừa bãi, nên Sơn đậu Căn có tên trong sách đỏ Việt Nam
[28].
Phân bố ở Việt nam: Cao Bằng, Hà Giang( Mèo Vạc, Yên Minh, Quảng
Bạ); Quảng Ninh( các đảo thuộc Vịnh Hạ Long); Ninh Bình( Nho quan); Đà
Nẵng(Sơn trà)…[28].
Phân bố ở Trung Quốc: Quảng tây (từ Tây nam sang Tây bắc), tỉnh Quý
Châu và vùng Đông nam của tỉnh Vân nam, các khu vực có vị trí
22°21'~26°6' độ vĩ Bắc, 103°20'~108°45' độ kinh Đông [28].
2.3. Giá trị sử dụng của cây Sơn Đậu Căn
Sơn Đậu Căn bộ phận dùng là rễ cây Sơn Đậu, hay còn gọi là Quảng
Đậu, Khổ Đậu. Vào mùa thu, người ta thu hoạch rễ, rửa sạch, phơi sấy khô.
Trước khi dùng đem cắt đoạn 3 – 5 cm, sao vàng. Theo y học cổ truyền, sơn
đậu có vị đắng, tính hàn, phế vị, đại tràng. Có tác dụng thanh nhiệt giải độc,
lợi hầu họng, dùng trị các bệnh sốt do viêm nhiễm đường hô hấp, viêm
amidan, viêm họng … [27].


7

2.4. Một số đặc điểm sinh học của cây Sơn Đậu Căn
2.4.1. Đặc điểm thực vật học, sinh lý cây Sơn Đậu Căn
Sơn Đậu Căn thuộc loại cây bụi, mọc thẳng đứng hoặc nằm sát mặt đất.
thân hình trụ có lông mềm, lông nằm ngắn. Bộ rễ có từ 2 – 5 rễ nhỏ, hình trụ,
màu vàng nâu, dài 30 – 40 cm. Lá kép lông chim lẻ, mỗi lá kép có từ 9 – 15 lá
chét mọc đối. Lá chét dầy, thuôn hay hình bầu dục dài 3 – 4 cm, rộng 1 – 2
cm, mặt trên nhẵn và óng ánh, mặt dưới có lông. Cụm hoa mọc thành chùm ở
nách lá, dài 5 – 12 cm, hoa cáng bướm màu vàng trắng, đài hoa hình chuông
bên ngoài có lông. Tràng hoa màu vàng. Quả màu tím đen, thành chuỗi, dài
4cm, có lông, tự mở, có chứa hạt hình trứng, đen bóng. Thời kỳ hoa là tháng 5

Khoảng cách trồng 40x50 cm.
Mật độ trồng 50000 cây/ha.
2.6.3. Phân bón và kỹ thuật bón phân
Phân bón lót cho 1 ha: Phân chuồng 10-12 tấn/ha. Phân chuồng phải
được ủ hoai mục, có thể sử dụng phân xanh bổ xung để làm tơi xốp đất. Rắc
đều phân lên trên luống trước khi vun đất lên luống, dùng cuốc lên luống lấp
kín phân .
Phân bón vô cơ: Năm thứ nhất dùng 80kg đạm Urê/ha hòa nước tưới vào
từng hốc cho giai đoạn cây trong vườn ươm. Từ năm thứ 2 trở đi thì mỗi năm
bón 2 lần vòa tháng 2-4 tháng 8-9, sử dụng phân tổng hợp bón vào gốc cây,
mỗi lần bón khoảng 250kg NPK.
2.6.4. Kỹ thuật trồng
Sơn Đậu Căn trải qua giai đoạn vườn ươm 6 tháng đến 1 năm sẽ được
chuyển ra trồng. Cây con được trồng theo từng hốc, đặt thẳng cây con vào
chính giữa hốc, lấp đất đều xung quanh, nén đất xung quanh gốc cho chặt cây
để không bị lay gốc, đồng thời lấp đất cho bằng mặt luống để tranh cây không
bị đọng nước sau mưa, tưới.


9

2.6.5. Phòng trừ sâu bệnh
Bệnh hại
Hiện nay trên cây Sơn Đậu Căn đã phát hiện ra 2 loại bệnh do vi khuẩn
gây ra : Bệnh thối rễ (Root rot) và bệnh Sclerotium rolfsii [28].
- Bệnh thối rễ nguyên nhân là do vi khuẩn xâm nhập vào bộ rễ gây ra
thối, làm cho nước và chất dinh dưỡng không vận chuyển được từ đó dẫn đến
bộ phận trên mặt đất bị héo và chết. Bệnh gây hại cả năm nhưng hại nghiêm
trọng nhất là vào mùa hè và mùa thu. Thời kỳ đầu của bệnh có thể sử dụng
thuốc Chlorothalonil pha loãng với nước 500 lần rồi tưới vào gốc.

pha với nước để phun qua lá.
2.6.6. Thu hoạch Sơn Đậu Căn
Sơn Đậu sau 3 năm trồng có thể thu hoạch được, nhưng tốt nhất là thu
hoạch khi cây đã trồng được ngoài 4 năm. Bộ phận thu hoạch là rễ cây, thu
vào tháng 8-9 (mùa thu), dùng dụng cụ cắt các bộ phận trên mặt đất. Đào lấy
rễ, rửa sạch đất cát trên rễ, sau đó đem phơi khô hoặc sấy khô. Năng suất có
thể đạt 25- 30 tấn tươi/ha.
2.7. Những nghiên cứu về giâm hom trên thế giới và ở Việt Nam
Trên thế giới các công trình nghiên cứu về giâm cành và những ảnh
hưởng của các yếu tố giâm cành đến rất sớm, đã có những nghiên cứu và
được ứng dụng ở nhiều nước, từ đó mà chất lượng cây giống, năng suất cây
trồng các nước tăng lên rất nhiều.
Năm 1883, valenski. A.H, đã công bố công trình nhân giống một số lá
kim và lá rộng bằng hom đây là một bước tiến mới trong việc nhân giống.
Năm 1961 việc nhân giống thành công bạch đàn bằng phương pháp giâm
hom chính giâm hom cây giống lâm nghiệp.
Năm 1972, Bhatragan thí nghiệm giâm hom cây Tếch đạt tỷ lệ ra rễ cao
nhất là 65.8%.


11

Tại Việt Nam, nghiên cứu về tạo cây hom đã được tiến hành từ năm cuối
thập kỷ 70.
Theo kết quả của Dương Mộng Hùng, các hom phi lao được xử lý IBA ở
nồng độ 200ppm có tỷ lệ ra rễ là 76,6%.
Năm 1999, theo Nguyễn Hoàng Nghĩa trong đề án nghiên cứu bảo tồn
gen cây rừng quý hiếm cho biết sau khi giâm hom cây bách xanh và cây pơ
mu như sau: Cây Bách xanh với chất IBA, ABT 1% thì tỷ lệ hom ra rễ cao
nhất đạt 85%. Cây pơ mu đạt tỷ lệ ra rễ cao nhất với NAA 1% và 1,5% là

2010 nước ta nhập khẩu 16.790,38 tấn dược liệu thô với tổng giá trị nhập
khẩu dược liệu 15.143,39 nghìn USD và năm 2011 nhập 18.772,48 tấn dược
liệu thô, tăng 11,81% so với năm 2010 và tổng giá trị nhập khẩu dược liệu
năm 2011 đạt 16.445,86 nghìn USD, tăng 8,6% so với năm 2010 [5].
Theo báo cáo của Cục quản lý dược, nhu cầu sử dụng Sơn Đậu làm
thuốc hàng năm là 150 tấn, trong đó lượng nhập từ Trung Quốc là 98,5% [5].
2.10. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây Sơn Đậu Căn ở trên thế giới
và ở việt nam.
2.10.1. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây Sơn Đậu Căn ở trên thế giới
Theo kinh nghiệm truyền thống và y học cổ truyền Trung Quốc và Nhật
Bản, rễ Sơn Đậu Căn được sử dụng để giảm sốt, giải độc, chữa viêm họng,
viêm lợi , viêm loét dạ dày và nhuận tràng [17].
Theo y học hiện đại, trong rễ Sơn Đậu Căn có nhiều các alkaloid như:
matrine, oxymatrine, sophocapine…[16] có tác dụng chống ung thư và ức chế
sự phát triển của khối u, điều trị các bệnh viêm gan siêu vi trùng, rối loạn nhịp
tim, viêm da.
Ở Trung Quốc, Sơn Đậu Căn là một trong những cây thuốc quan trọng
đã được nghiên cứu rất kỹ về thành phần hóa học của rễ cây Sơn Đậu bao
gồm: flavonoid; polysaccharides, saponin và các alkaloid [22].


13

Theo Niu Kuizhi (1996) [18], Sơn Đậu Căn ít có tác dụng phụ. Khi sử
dụng ở liều lượng quá nhiều, nó có thể làm phát sinh một số triệu chứng về
tiêu hóa như: buồn nôn, nôn, táo bón, đôi khi, chóng mặt, rụng tóc, và phát
ban. Các tác dụng phụ liên quan đến liều lượng: Khi liều sử dụng là dưới 30
gram mỗi ngày, không có phản ứng bất lợi xuất hiện.
Theo Hson-Mou Chang (1986) [16], liều dùng của các alkaloid của rễ
cây Sơn Đậu chiết xuất đối với người là 300 – 600 mg/ngày (tức ở mức 2%

+ Thuốc uống trong để trị bệnh Sùi Mào Gà:
Bài 1: Dã cúc hoa 30g, thổ phục linh 30g, kim ngân hoa 10g, cam thảo
10g, bản lam căn 10g, sơn đậu căn 10g, xạ can 10g, liên kiều 10g, hoàng cầm
10g, chi tử 10g, hoàng bá 10g, thương truật 10g, sơn từ cô 5g, sắc uống mỗi
ngày 1 thang [12].
+ Thuốc bôi ngoài để trị bệnh Sùi Mào Gà:
Bài 1: Mãxỉ hiện 45g, bản lam căn 30g, sơn đậu căn 30g, khổ sâm 30g,
hoàng bá 20g, mộc tặc thảo 15g, bạch chỉ 10g, đào nhân 10g, lộ phong phòng
10g, cam thảo sống 10g, tế tân 10g, sắc đặc lấy nước thấm vào gạc đắp lên
vùng tổn thương mỗi ngày 1 lần, mỗi lần 15 phút [12].
Bài 2: Khổ sâm 50g, đậu căn 20g, đào nhân 15g, đan bì 12g, tam lăng
30g, nga truật 30g, mộc tặc 20g, sắc lấy nước ngâm rửa tổn thương mỗi ngày
2 lần, mỗi lần 8 phút, 14 ngày là 1 liệu trình [8].
+ Thuốc chữa bệnh Thủy đậu thể nặng: Thủy đậu mọc dày, sắc tím tối,
màu nước đục, xung quanh nốt thủy đậu màu đỏ sẫm, trẻ sốt cao, khát nước,
bứt rứt, mặt đỏ, môi hồng, niêm mạc miệng có những nốt phỏng, rêu lưỡi
vàng, chất lưỡi đỏ. Phép chữa là thanh nhiệt giải độc ở khí phận, lương huyết
ở danh phận. Dùng bài: kim ngân 12g, liên kiều 8g, sinh địa 12g, xích thược
8g, bồ công anh 16g, chi tử (sao) 8g. Sắc uống ngày 1 thang. Nếu họng đau
gia xạ can 4g, sơn đậu căn 8g. Nếu phiền táo gia hoàng liên 8g; táo bón gia
đại hoàng 4g; khát nước, miệng khô gia thiên hoa phấn, sa sâm, mạch môn
mỗi vị 8 - 12g [1].


15

+ Bài thuốc hỗ trợ điều trị Mụn trứng cá: Bồ công anh, ngưu hoàng, đại
hoàng, sơn đậu căn... có tác dụng thanh huyết nhiệt, thanh phế nhiệt, tiêu
viêm, tán ứ, trừ nhiệt độc... tái lập cân bằng sinh lý da; một số kháng sinh
thực vật cũng thường phối hợp trong bài thuốc trị trứng cá như: Kim ngân

điều trị một số chứng bệnh thông thường như giảm đau, chống viêm, hạ sốt,
lợi tiểu và các bệnh ung bướu
- Viên ngừa mụn Hoa Linh của Công ty cổ phần VNG [4]. Lư hành toàn
quốc theo số 1031/2007/YT_CNTC.
Công dụng: Thanh nhiệt, lương huyết, tiêu viêm, tán ứ, trừ nhiệt độc
tích tụ trên da, tái lập cân bằng sinh lý ở da. Hỗ trợ điều trị tận gốc mụn trứng
cá, chống mụn trứng cá mọc thêm, ngừa mụn tái phát (bao gồm: mụn trứng cá
thông thường; trứng cá bọc; trứng cá đỏ; mụn mủ; mụn cám).


17

Phần 3
NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
3.1.1.1. Đối tượng
Đề tài tiến hành nghiên cứu giống cây Sơn Đậu Căn tại Trung tâm
Nghiên cứu cây trồng ôn đới miền núi phía Bắc Việt Nam.
3.1.1.2. Vật liệu
Mẫu cây: Cành giâm cây Sơn Đậu Căn
Chế phẩm : NAA
Dụng cụ: Dao, kéo,chậu nhựa, túi bầu, thước mét, thước kẹp panme..
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu: Các nghiên cứu được thực hiện trong phạm vi
vườn ươm giống của Trung tâm Nghiên cứu cây trồng ôn đới miền núi
phía Bắc Việt Nam tại Phia Đén, xã Thành Công, huyện Nguyên Bình,
tỉnh Cao Bằng.
Thời gian nghiên cứu: Thí nghiệm được tiến hành nghiên cứu từ tháng 2
– tháng 5 năm 2015.

CT1

CT2

CT3

CT4 CT5

Nhắc
lại 2

CT4

CT6

CT9

CT8 CT1 CT10 CT3 CT2 CT5

CT7

Nhắc
lại 3

CT3 CT10 CT5

CT7 CT2

CT1


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status