Biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục nếp sống cho sinh viên ngành giáo dục quốc phòng và an ninh ở trung tâm giáo dục quốc phòng hà nội 2 - Pdf 40

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG HÀ NỘI 2
-------------  --------------

NGUYỄN THỊ VÂN ANH

BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
GIÁO DỤC NẾP SỐNG CHO SINH VIÊN
NGÀNH GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ
AN NINH Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC
QUỐC PHÒNG HÀ NỘI 2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục quốc phòng và an ninh

HÀ NỘI, 2016


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG HÀ NỘI 2
-------------  --------------

NGUYỄN THỊ VÂN ANH

BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
GIÁO DỤC NẾP SỐNG CHO SINH VIÊN
NGÀNH GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ
AN NINH Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC
QUỐC PHÒNG HÀ NỘI 2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục quốc phòng và an ninh


nếp sống cho sinh viên ngành GDQP và AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2” đến
thời điểm hiện tại cũng chưa có công trình nghiên cứu nào về vấn đề này, nên
không có sự trùng lặp với các đề tài khác.
Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi thông tin trích dẫn trong khóa luận đã được
chỉ rõ nguồn gốc. Việc hoàn thành khóa luận là sự nỗ lực, cố gắng rất lớn của bản
thân.

Tác giả

Nguyễn Thị Vân Anh


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU……………………………………………………………………

1

NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC NẾP SỐNG CHO SINH
VIÊN NGÀNH GDQP VÀ AN Ở TRUNG TÂM GDQP HÀ NỘI 2

6

1.1.

Sơ lược lịch sử vấn đề nghiên cứu…………………………………..

6



Thực trạng về nếp sống của sinh viên ngành GDQP và AN ở Trung
tâm GDQP Hà Nội 2………………………………………………...

2.3.

21

22

Nguyên nhân thực trạng về nếp sống của sinh viên ngành GDQP và
AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2…………………………………..

29

Chương 3: BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
NẾP SỐNG CHO SINH VIÊN NGÀNH GDQP VÀ AN Ở TRUNG
TÂM GDQP HÀ NỘI 2 …………………………………………………..

32

3.1.

Các nguyên tắc trong đề xuất biện pháp…………………………….

32

3.2.

Một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục nếp sống cho sinh

1

AN

An ninh

2

CNH, HĐH

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

3

GDQP

Giáo dục quốc phòng

4

GD  ĐT

Giáo dục và đào tạo

5

KTX

Ký túc xá



44

giáo dục nếp sống cho sinh viên
Đánh giá của sinh viên ngành GDQP và AN ở Trung tâm
Bảng 3.2

GDQP Hà Nội 2 về tính khả thi của các biện pháp nâng
cao chất lượng giáo dục nếp sống cho sinh viên

46


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục quốc phòng và an ninh cho học sinh, sinh viên là một trong những
nội dung của chiến lược đào tạo con người, nhằm đào tạo ra những con người mới có
đủ trình độ năng lực để thực hiện tốt hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa. Chính vì vậy, ngay sau khi nước nhà thống nhất, ngày
28/4/1981 Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị 107-CT/TW về “Tăng cường
công tác giáo dục quốc phòng nhân dân, chuẩn bị cho thế hệ trẻ sẵn sàng làm nghĩa
vụ bảo vệ Tổ quốc”.[1]. Nghị quyết 02-NQ/TW ngày 30-7-1987 của Bộ Chính trị đã
quy định đưa nội dung đường lối quân sự của Đảng và nhiệm vụ quốc phòng vào
chương trình học tập chính thức của các trường đào tạo, bổ túc cán bộ của Đảng và
Nhà nước; đưa nội dung giáo dục quốc phòng vào chương trình chính khoá trong các
Trường trung học phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học.
Hiện nay ở các nhà trường và cơ sở đào tạo, đội ngũ giáo viên GDQP và AN
vẫn đang còn thiếu về số lượng, chất lượng còn chưa đáp ứng được so với yêu cầu
của nhiệm vụ GD & ĐT trong tình hình mới. Chính vì vậy trong những năm gần
đây được sự quan tâm của Đảng, nhà nước, chính phủ và trực tiếp là Bộ GD & ĐT

trong ngày, trong tuần một cách có nền nếp, giáo dục nếp sống cho sinh viên đã có
nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên chất lượng giáo dục nếp sống cho sinh viên
ngành GDQP và AN có những nội dung còn hạn chế, bất cập. Đáng quan tâm là
hiệu quả công tác giáo dục nếp sống cho sinh viên còn chưa thực sự được chú trọng,
chưa đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc, sự hội nhập kinh tế quốc tế. Ý thức tổ chức kỷ luật, kỹ năng vốn sống, văn
hóa ứng xử và nếp sống của nhiều sinh viên còn hạn chế, và ít nhiều cũng bị ảnh
hưởng bởi mặt trái của xã hội, mặt tiêu cực của nền kinh tế thị trường...
Thực tế trong những năm qua việc giáo dục nếp sống cho sinh viên ngành
GDQP và AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2 đã đem lại những hiệu quả nhất định.
Tuy nhiên, trong quá trình quản lý, tổ chức và thực hiện còn bộc lộ một số hạn chế
bất cập như: Nhận thức của đa số các sinh viên trong Trung tâm về giáo dục nếp sống
chưa sâu sắc, đội ngũ cán bộ lớp không chuyên trách, thường phải kiêm nhiệm làm
nhiều công việc khác nhau, sự phối hợp giữa các bộ phận có lúc còn chưa chủ động,
chưa nhịp nhàng. Các hoạt động tổ chức đoàn thể, hội sinh viên, các câu lạc bộ có lúc

2


còn đơn điệu, cơ sở vật chất phục vụ cho các hoạt động phong trào còn thiếu thốn,
chưa thu hút được đông đảo sinh viên tham gia, ý thức và lối sống của một bộ phận
sinh viên còn chưa chuẩn mực, chưa thể hiện được nếp sống văn minh trong môi
trường quân sự. Trước những yêu cầu của thực trạng đó, đòi hỏi công tác giáo dục
nếp sống cho sinh viên cần được quan tâm đúng mức. Nâng cao chất lượng công tác
giáo dục nếp sống cho sinh viên nhằm giáo dục cho sinh viên tính tự giác, tích cực
trong học tập, rèn luyện, nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng, phẩm chất đạo đức
tốt, lối sống trong sạch, lành mạnh, có kỹ năng trong giao tiếp; có tác phong nghề
nghiệp để phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Đây là những vấn đề cần thiết mà
các Khoa trong nhà trường đang tìm kiếm biện pháp, giải pháp thực hiện.
Do vậy, tôi đã lựa chọn đề tài: “Biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục

thập, tổng hợp phân tích các tài liệu liên quan.
Phương pháp khái quát hóa nhận định khách quan: dựa trên những nhận
định, đánh giá, góp ý kiến của các chuyên gia, các nhà giáo.
5.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp điều tra: điều tra bằng phiếu câu hỏi với sinh viên ngành
GDQP và AN.
Phương pháp quan sát: tiến hành quan sát các nền nếp sinh hoạt tập trung,
hoạt động của sinh viên ở TTGDQP Hà Nội 2 cũng như nội dung giáo dục nếp sống
của các cán bộ quản lý sinh viên nhằm thu thập các tư liệu bổ sung.
Phương pháp phỏng vấn: Tiến hành trao đổi trực tiếp với các sinh viên ở
Trung tâm GDQP Hà Nội 2, các cán bộ quản lý đại đội sinh viên và các phòng,
khoa, các tổ chức liên quan.
5.3. Phương pháp thống kê toán học
Xử lý số liệu, kết quả nghiên cứu.
Nhận định đánh giá chính xác, khách quan kết quả nghiên cứu.
6. Giả thuyết khoa học
Giáo dục nếp sống cho sinh viên ngành GDQP và AN ở Trung tâm GDQP
Hà Nội 2 hiện nay còn nhiều hạn chế, bất cập; nếu phân tích đánh giá đúng thực
trạng công tác giáo dục nếp sống cho sinh viên hiện nay, tìm ra được nguyên nhân
tồn tại; đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng dục nếp sống cho sinh viên
ngành GDQP và AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2 phù hợp thì sẽ nâng cao chất
lượng giáo dục đào tạo, góp phần giáo dục con người phát triển toàn diện.

4


7. Cấu trúc khóa luận
- Phần mở đầu
- Nội dung: gồm có 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về giáo dục nếp sống cho sinh viên ngành GDQP

dùng khái niệm lối sống: “Cuộc đấu tranh giữa hai con đường, giữa cái mới và cái
cũ, tiên tiến và lạc hậu, tiến bộ với phản động, trên lĩnh vực văn hóa tư tưởng và lối
sống đang diễn ra hàng ngày rất phức tạp”. Trong Nghị quyết V của Ban Chấp hành
Trung ương khóa VIII, bàn về lĩnh vực văn hóa. Nội dung nghị quyết gồm 6 vấn đề
quan trọng thì vấn đề giáo dục đạo đức, lối sống, nếp sống được đặt lên đầu tiên.
Trong toàn văn Nghị quyết V thuật ngữ lối sống, nếp sống được nhắc đến như “tư
tưởng đạo đức và lối sống là những lĩnh vực then chốt của văn hóa” hay như “lối
sống lành mạnh, nếp sống văn minh”. Như vậy, vấn đề nếp sống đã được quan tâm
sâu sắc không chỉ các nhà khoa học mà các nhà quản lý xã hội cũng rất chú trọng
tới việc quản lý giáo dục nếp sống.

6


Trong thời gian gần đây hàng loạt những công trình nghiên cứu về lối sống,
nếp sống đã được thực hiện theo tinh thần đổi mới của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng do những thay đổi về kinh tế, xã hội đang phát triển đưa đến những biến đổi
trong lối sống, nếp sống, định hướng giá trị con người Việt Nam nói chung, giới
học sinh, sinh viên nói riêng. Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu lối sống,
nếp sống ở đối tượng sinh viên đã được công bố như sau:
Tác giả Nguyễn Thị Kỷ: Tổ chức tốt cuộc sống sinh viên ở ký túc xá nhằm
giáo dục đạo đức, lối sống cho họ, Kỷ yếu hội thảo định hướng giá trị giáo dục đạo
đức trong các trường đại học, Hà Nội, năm 1996.
Tác giả Mạc Văn Trang: Đặc điểm lối sống sinh viên hiện nay và những
phương hướng, biện pháp giáo dục lối sống cho sinh viên, Đề tài khoa học cấp bộ,
Mã số B94-38-32, Năm 1998.
Tác giả Đặng Văn Thuân: Các biện pháp quản lý giáo dục nếp sống cho sinh
viên trường Cao đẳng Sư phạm Mẫu giáo Trung ương 3, Luận văn thạc sĩ khoa học
giáo dục, Năm 1999.
Tác giả Tạ Duy Chung: Quản lý giáo dục nếp sống cho sinh viên nội trú

Ở Liên Xô cũ, một số công trình nghiên cứu lối sống đã đặt vấn đề nghiên
cứu nội hàm khái niệm lối sống với 3 cách tiếp cận được tóm lược như sau:
- Cách tiếp cận thứ 1: Xem xét lối sống như một phạm trù có liên quan bên
trong của chủ thể như nếp nghĩ, nếp hành động, thói quen mà ít quan tâm đến hoạt
động sống và các điều kiện sống. Mặt hạn chế của cách tiếp cận này ở chỗ, theo A.
I. Buchenco, nó đã loại ra một yếu tố quan trọng của lối sống là hoạt động của chủ
thể và lao động.
- Cách tiếp cận thứ 2: Định nghĩa lối sống bằng cách liệt kê ra các hoàn cảnh
sống của con người, xã hội do đó lối sống được kiến giải như một phạm trù xã hội
học bao gồm các điều kiện sống, các hình thức hoạt động sống của con người, các
quan hệ xã hội, các sinh hoạt, các hình thức thỏa mãn nhu cầu thế giới quan.
- Cách tiếp cận thứ 3: Xem lối sống như là một sự thống nhất các hình thức
hoạt động sống và các điều kiện sống của con người, xã hội. Như vậy, lối sống là
một phạm trù của xã hội học, chỉ sự thống nhất hữu cơ của các hình thức hoạt động
sống và các điều kiện sống nhất định.
Từ 3 cách tiếp cận trên, M. N. Rukevich, tiến sĩ triết học Viện hàn lâm khoa
học Liên Xô cũ đã khái quát như sau: Lối sống là một tổng thể, một hệ thống những

8


đặc điểm chủ yếu, nói lên hoạt động của các nhóm dân tộc, giai cấp, các nhóm xã
hội, các cá nhân trong những điều kiệu của một hình thái kinh tế xã hội nhất định.
Có nhiều cách phân loại lối sống:
- Từ bình diện sử dụng năng lực, T. Makiguchi nêu lên 3 lối sống của con
người như sau:
+ Lối sống đóng góp: trong mối quan hệ với thời gian, con người có các thái
độ mang tính lạc quan hay bi quan khi hoạt động phản ứng với các kích thích của
hiện tại, hoạt động hướng về quá khứ và hoạt động hướng về tương lai.
+ Lối sống trao đổi: lối sống văn hóa, lối sống chính trị, lối sống kinh tế.

Các định nghĩa, các cách phân loại lối sống trình bày ở trên giúp cho nhà
quản lý, nhà nghiên cứu có cơ sở đi sâu phân tích đặc điểm của từng khách thể, từng
nhóm xã hội để từ đó xác định phương hướng cụ thể xây dựng lối sống phù hợp.
1.2.2. Khái niệm về nếp sống
Thuật ngữ nếp sống được dùng rất phổ biến. Theo thói quen trong ngôn ngữ
tiếng Việt, trên sách báo hiện nay sử dụng hầu như cả hai thuật ngữ lối sống và nếp
sống với một nội hàm giống nhau. Hai thuật ngữ này không hoàn toàn như một
nhưng cũng không nói lên hai phạm trù khác nhau.
A.P.Buchenco cho rằng: “Nếp sống không phải là một phần mà là một trong
những hình thức biểu hiện của sự sống”.
L.V.Cokan cho rằng: “Nếp sống của con người được xem như là sự phản ánh
của cá nhân vào xã hội, lối sống của con người được xem như là sự phản ánh của xã
hội vào cá nhân”.
Nếp sống là cách xử sự của mỗi người, những giá trị được rút ra từ đời sống
hiện thực. Những giá trị ấy là sự điều tiết các xu hướng, quan niệm và hành vi của
con người làm cơ sở cho việc đánh giá các giá trị xã hội, các nguyên tắc của trật tự
xã hội và hoạch định của nếp sống cộng đồng.
Lối sống gồm nhiều hệ thống hành vi ứng xử của con người. Lối sống phải
được thông qua nếp sống. Nếp sống là những hành vi ứng xử của con người, được
lặp đi lặp lại nhiều lần thành nền nếp, thành thói quen, thành phong cách được xã
hội công nhận. Những hành vi trong lối sống chưa được lặp đi lặp lại, chưa có tính
ổn định và chưa trở thành bản tính tự nhiên của con người trong các hoạt động,
trong các ứng xử thì không nằm trong phạm trù nếp sống. Nếp sống là mặt ổn định
của lối sống, là bản năng của lối sống nên khi nói đến nếp sống nghĩa là nói đến một
lối sống ổn định.

10


Thật là khó khăn khi tách rời nếp sống ra khỏi lối sống, lối sống có tính định



anh hùng, các bậc vĩ nhân, các nhà khoa học và ngay cả ở những con người bình
thường biết hy sinh với cộng đồng hoặc giữ gìn phẩm chất trong sáng trong mọi
hoàn cảnh thực sự khó khăn.
Khái quát toàn bộ các vấn đề lý luận đã trình bày ở trên có thể nêu lên định
nghĩa tổng quát: “Nếp sống là những cách thức hành động và suy nghĩ, những quy
ước được lặp đi lặp lại hàng ngày và trở thành thói quen trong sản xuất, sinh hoạt,
phong tục, lễ nghi, hành vi đạo đức, trong pháp luật”.
Từ định nghĩa cho ta thấy nếp sống chính là cách thức ứng xử, việc làm, việc
thực hiện các quy ước của cộng đồng đã trở thành thói quen. Nếp sống được thể
hiện trong tất cả các hoạt động của con người từ sinh hoạt, giải trí, vui chơi, học tập
đến lao động, ứng xử, giao tiếp… Có thể chia nếp sống theo nhiều cách, dựa vào
các đặc điểm và các tiêu chí xã hội học, người ta phân loại như sau:
- Theo đặc điểm nghề nghiệp: có nếp sống nông dân, nếp sống nghệ sĩ…
Ví dụ: Người nông dân có nếp sống chất phác, thật thà, giản dị…
- Theo đặc điểm vùng miền có nếp sống đô thị, nếp sống nông thôn…
- Theo đặc điểm độ tuổi nếp sống thanh niên, nếp sống người cao tuổi…
Ví dụ: Thanh niên họ có nếp sống nhanh thích nghi và tiếp thu những cái
mới, sống phóng khoáng và thích thay đổi. Còn người cao tuổi họ luôn có nếp sống
là: Có tính ổn định cao và họ khó thích nghi với những cái mới.
- Theo tiêu chí phân tầng xã hội có nếp sống công nhân, nếp sống trí thức…
- Theo hình thái kinh tế xã hội có nếp sống tư bản chủ nghĩa, nếp sống XHCN.
Nếp sống có một số tính chất như sau: Nếp sống là những phẩm chất có tính
ổn định, là biểu hiện của đạo đức; là những hành vi đã trở thành thói quen, không
tách rời khỏi hoàn cảnh, điều kiện cụ thể trong cuộc sống hàng ngày của con người;
Nếp sống được biểu hiện ở các mặt hoạt động: Lao động, học tập, quan hệ,
ứng xử; hoạt động cá nhân; hoạt động đoàn thể xã hội.
Đối với sinh viên nếp sống biểu hiện trong các hoạt động học tập, sinh hoạt,
lao động, giao tiếp, ứng xử. Đây là những hoạt động trong nhà trường, đặc biệt ở

thành của thanh niên sinh viên và đi đến kết luận: Trình độ học vấn và vị trí xã hội
của con người có ảnh hưởng đến sự trưởng thành của họ. Những nghiên cứu của
ông cho thấy, thanh niên nông thôn trưởng thành về mặt xã hội sớm hơn thanh niên
công nhân; thanh niên sinh viên trưởng thành về mặt xã hội muộn nhất. Điều này là

13


do càng tham gia lao động sản xuất sớm thì tình cảm trách nhiệm, tình cảm nghĩa
vụ càng hình thành sớm, họ nhanh chóng sống độc lập và tách khỏi sự phụ thuộc
vào cha mẹ.
Mặt khác theo các nhà tâm lý học tuổi sinh viên là thời kỳ phát triển tích
cực nhất của những loại tình cảm cao cấp như tình cảm trí tuệ, tình cảm đạo đức,
tình cảm thẩm mỹ. Những tình cảm này biểu hiện rất phong phú trong hoạt động
và trong đời sống sinh viên. Đặc điểm của nó là tính hệ thống và bền vững so với
thời kỳ trước đó.
Đối với sinh viên học ngành GDQP và AN tại Trung tâm GDQP Hà Nội 2
rất đa dạng, phong phú, đến từ nhiều vùng, miền khác nhau, họ mang theo những
nét đặc trưng riêng, văn hoá vùng miền, truyền thống gia đình, phong tục tập
quán khác nhau….
Sinh viên ngành GDQP và AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2 có sự khác
biệt so với sinh viên ở các khoa trong nhà trường đó là sinh viên khi đến học
được biên chế thành các tiểu đội (tổ học tập), trung đội (lớp học tập) do ban chỉ
huy đại đội quản lý trực tiếp, sinh viên phải ăn, ở, sinh hoạt tập trung, sống xa
nhà. Sinh viên trong cùng một trường nhưng ở các khoa khác ở môi trường bên
ngoài rất thoải mái trong sinh hoạt, học tập, tự do đi lại ngoài giờ học… Còn
sinh viên ngành GDQP và AN khi nhập học, theo môi trường quân đội được rèn
luyện theo các chế độ trong ngày, trong tuần hết sức gò bó, với tính kỷ luật cao.
Ban đầu nhiều sinh viên đã nản chí, tự ý bỏ ra ngoài đi chơi, chấp hành thời gian
ra vào cổng còn sai quy định, mang mặc sai tác phong, tuy nhiên sau đó được sự

1.4.1. Giáo dục nếp sống cho sinh viên trong hoạt động học tập, rèn luyện
Theo quy định của Trung tâm khi sinh viên đến nhập học được tổ chức biên
chế thành các tiểu đội, trung đội, đại đội, mỗi trung đội là một lớp học số lượng sinh
viên trong mỗi lớp học dao động từ trên 40 đến trên 60 sinh viên, tuỳ theo số lượng
chỉ tiêu từng năm.
Hàng ngày sinh viên phải tham gia học tập theo kế hoạch chung. Vị trí
học tập các nội dung lý thuyết được tổ chức ở giảng đường, các nội dung thực
hành được tổ chức học tập ở ngoài sân bãi, thao trường. Trong quá trình học tập
được giảng viên tổ chức duy trì kỷ luật trong lớp học hết sức nghiêm túc và chặt
chẽ, cụ thể:

15


Khi học tập trong hội trường (phòng học), người phụ trách hoặc trực ban lớp
học phải kiểm tra quân số, trang phục, chỉ huy sinh viên vào vị trí, hô “Nghiêm” và
báo cáo giảng viên. Nếu có mang theo vũ khí giảng viên phải tổ chức cho khám
súng trước và quy định nơi giá (đặt) súng. Sinh viên ngồi trong lớp học phải đúng vị
trí quy định, tập trung tư tưởng theo dõi nội dung học tập. Khi ra hoặc vào lớp phải
đứng nghiêm báo cáo xin phép giảng viên. Được phép mới ra hoặc vào lớp.
Sau mỗi tiết hoặc giờ học tập được nghỉ 5 đến 10 phút. Hết giờ nhanh chóng
vào lớp, tiếp tục nghe giảng. Giảng viên phải chấp hành đúng thời gian. Nếu giảng
quá giờ quy định phải báo cho người phụ trách lớp học và người học biết. Hết giờ
học, người phụ trách hoặc trực ban lớp hô “Đứng dậy” và hô “Nghiêm”, báo cáo
giảng viên cho xuống lớp, sau đó chỉ huy sinh viên ra về.
Khi học tập ngoài thao trường, người phụ trách hoặc trực ban lớp phải tổ
chức cho sinh viên đi và về thành hàng lối, thời gian đi và về không tính vào thời
gian học tập. Nếu một lần đi (về) trên một giờ được tính một nửa vào thời gian học
tập. Trước khi học tập, người phụ trách hoặc trực ban lớp học phải tập hợp sinh
viên, kiểm tra sĩ số, trang phục, vũ khí, học cụ, khám súng, sau đó báo cáo với

tạo. Kịp thời ngăn chặn và nghiêm khắc xử lí đối với các hoạt động dưới hình thức
tổ chức nhóm, cục bộ, vùng miền, địa phương, mang tính tự phát mà nội dung
không lành mạnh ảnh hưởng tới môi trường đào tạo của Trung tâm. Đó là những
hoạt động vừa mất thời gian và ảnh hưởng xấu đến kết quả học tập, rèn luyện của
các em, vừa ảnh hưởng đến nếp sống.
1.4.2. Giáo dục nếp sống cho sinh viên trong hoạt động tập thể cá nhân và lao động
Thời gian ngoài giờ vào các giờ nghỉ, ngày nghỉ sinh viên tham gia vào các
hoạt động ngoại khoá như: giao lưu văn hóa văn nghệ, thi đấu thể dục thể thao, tổ
chức các chương trình, sự kiện và tham gia lao động củng cố đơn vị, làm sạch đẹp
môi trường.... Đây là những hoạt động không thể thiếu trong khóa học, nó có tác
dụng rất tích cực trong việc giúp sinh viên bổ sung, ứng dụng kiến thức học được
qua sách vở vào thực tiễn cuộc sống, các em được hoạt động, trải nghiệm cuộc
sống. Đặc biệt những hoạt động đó nằm trong kế hoạch và có tổ chức, có định
hướng giáo dục rõ ràng, tổ chức phân công cụ thể, có người phụ trách. Những thời
gian ngoài giờ là thời điểm rất dễ để sinh viên vi phạm các quy định, vi phạm kỷ
luật, do vậy việc giáo dục nếp sống trong các hoạt động này là hết sức quan trọng.

17


Lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra sản phẩm vật
chất và tinh thần cho xã hội. Lao động là vinh quang, mọi người cần phải có thái độ
tôn trọng, yêu quí lao động; lao động phải có tính mục đích, tính kỷ luật, có kiến
thức, kỹ năng, chất lượng và hiệu quả.
Lao động sáng tạo ra con người. Bằng lao động con người ngày càng tiến
hóa và phát triển, hoàn thiện (cả về vóc dáng và nhân cách). Lao động là thuộc tính
của con người, đã là con người thì phải lao động. Lao động sáng tạo ra của cải vật
chất; nhờ có lao động làm cho đời sống vật chất và đời sống tinh thần ngày càng
phong phú.
Mọi biểu hiện lười lao động, dựa dẫm, ỷ lại đều phải được phê phán bởi từ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status