LUÂN ÁN CK II- Nghiên cứu hình ảnh cắt lớp vi tính và một số đặc điểm lâm sàng ở bệnh nhân ung thư đại trực tràng - Pdf 40

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC

TRẦN QUỐC TUẤN

NGHIÊN CỨU HÌNH ẢNH CẮT LỚP VI TÍNH
VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG
Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG

LUẬN ÁN CHUYÊN KHOA CẤP II

HUẾ - 2009


CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

CEA

: Kháng nguyên phôi ung thư biểu mô
(Carcinoma embryonic antigen)

CLVT

: Cắt lớp vi tính

ĐT


UTĐTT

: Ung thư đai trực tràng

UTTT

: Ung thư trực tràng

Positron Emission Tomography-Computed Tomography


DANH MỤC HÌNH ẢNH
Trang
Hình 1.1. Hệ thống bạch huyết của đại tràng ..........................................

6

Hình 1.2. Hệ thống bạch huyết của trực tràng ..........................................

7

Hình 1.3. Hình ảnh các giai đoạn của ung thư đại trực tràng ........................15
Hình 1.4. Đầu dò siêu âm nội soi và hình ảnh ung thư trực tràng .................20
Hình 1.5. Hình ảnh cộng hưởng từ ung thư trực tràng xâm lấn tử cung.........20
Hình 1.6. Hình ảnh cắt lớp vi tính ung thư đại tràng, di căn gan và hạch ......25
Hình 1.7. Hình ảnh nội soi ảo và nội soi ung thư đại tràng ..........................25
Hình 2.1. Máy chụp cắt lớp vi tính xoắn ốc Shimadzu................................31
Hình 2.2. Các mặt phẳng cần nghiên cứu trên cắt lớp vi tính ......................34

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

3.5. Đặc điểm giải phẫu bệnh ........................................................................................55
3.6. Giá trị của cắt lớp vi tính đối chiếu với phẫu thuật................................................ 58
Chương 4: BÀN LUẬN......................................................................................................... 62
4.1. Đặc điểm chung...................................................................................................... 62
4.2. Đặc điểm lâm sàng .................................................................................................65
4.3. Đặc điểm tổn thương trên cắt lớp vi tính ................................................................67
4.4. Đặc điểm tổn thương trong quá trình phẫu thuật....................................................72
4.5. Đặc điểm giải phẫu bệnh ........................................................................................75
4.6. Giá trị của cắt lớp vi tính đối chiếu với phẫu thuật................................................77
KẾT LUẬN ............................................................................................................................83
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư đại trực tràng là một bệnh ác tính có tỷ lệ mắc cao trên thế giới,
đứng hàng thứ hai trong các bệnh ung thư cả hai giới chỉ sau ung thư phổi ở
nam và ung thư vú ở nữ giới [14], [35]. Ở các nước công nghiệp phát triển
như Tây Âu, Bắc Mỹ ... nơi có khẩu phần ăn nhiều mỡ thịt, ít xơ thì tỷ lệ ung
thư đại trực tràng rất cao [7], [74]. Tại Hoa Kỳ năm 2007 phát hiện mới
153.760 người mắc bệnh ung thư đại trực tràng, xếp thứ ba sau ung thư phổi
và tiền liệt tuyến ở nam và có 52.180 bệnh nhân bị tử vong [77]. Tại Việt
Nam ung thư đại trực tràng đứng hàng thứ năm trong các loại ung thư sau ung
thư dạ dày, phổi, vú, vòm họng và đứng thứ ba trong các ung thư đường tiêu
hoá sau ung thư gan, ung thư dạ dày [1], [9], [35]. Theo số liệu ghi nhận tình
hình ung thư ở Hà Nội 2001 - 2005, tỷ lệ mới mắc của ung thư đại trực tràng
ở nam là 13,5/100.000 và nữ là 9,8/100.000 [16].
So với các loại ung thư khác thì ung thư đại trực tràng tiên lượng tốt

có nhiều nghiên cứu về các đặc điểm bệnh học, nội soi, cũng như nhận xét về
phương pháp điều trị [6], [30], [32]. Để góp phần chẩn đoán ung thư đại trực
tràng, đánh giá tổn thương trong thành ruột cũng như sự xâm lấn, di căn của
tổn thương u, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu hình ảnh cắt
lớp vi tính và một số đặc điểm lâm sàng ở bệnh nhân ung thư đại trực
tràng” nhằm 2 mục tiêu:
1. Khảo sát đặc điểm lâm sàng, hình ảnh cắt lớp vi tính của ung thư đại trực
tràng.
2. Xác định giá trị của cắt lớp vi tính trong chẩn đoán, đánh giá xâm lấn và di
căn so với kết quả phẫu thuật.


3

Chương 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU CỦA ĐẠI TRỰC TRÀNG
1.1.1. Hình thể ngoài và trong của đại tràng
- Hình thể ngoài đại tràng
Đại tràng (ĐT) là phần cuối cùng của ống tiêu hoá, tiếp theo hồi tràng ở
góc hồi manh tràng đi tới trực tràng (TT). Đại tràng dài trung bình 1,5m, ĐT
ngang và ĐT sigma có chiều dài thay đổi nhiều. Một số tác giả cho rằng chiều
dài đại tràng có thể thay đổi theo chế độ ăn và bệnh lý đại tràng. Toàn bộ đại
tràng tạo thành một khung hình chữ U ngược bao quanh tiểu tràng bao gồm:
Manh tràng và ruột thừa, ĐT lên, ĐT ngang, ĐT góc lách, ĐT xuống, ĐT
Sigma. Đại tràng to lớn hơn tiểu tràng có các dải cơ dọc, bờm mỡ và các
bướu. Các đoạn di động của đai tràng bao gồm: Manh tràng, ĐT ngang và ĐT
sigma. Các đoạn cố định vào thành bụng sau của ĐT: Đại tràng lên và đại
tràng xuống [10], [58].

Tầng dưới là tổ chức xơ: ở 2 bên là những giải cùng - trực tràng - sinh
dục - mu phát triển từ bao hạ vị treo trực tràng vào bên hông tiểu khung.
Trong những giải này chứa đám rối thần kinh hạ vị gồm những dây thần kinh
tạng vùng chậu. Ở phiá trước nam nữ khác nhau, ở nam là những giải cân trực
tràng tiền liệt, ở nữ cân trực tràng âm đạo là những thanh mạc. Bao xơ trực
tràng là hàng rào tự nhiên ngăn cản quá trình xâm lấn của tổn thương ung thư, nó
yếu ở mặt trước, nhất là ở nữ và ở mặt bên nhưng bền vững ở mặt sau [12], [27].
- Hình thể bên trong
Cấu tạo bên trong của TT có khác lớp thanh mạc che phủ phần trên ở
phía trước và hai bên. Ba dãy cơ dọc phân tán trước sau dày hơn hai bên. Bên
trong lớp niêm mạc nhô tạo thành ba lớp ngang trên, giữa, dưới hình lưỡi
liềm. Trong ống hậu môn có những nếp cơ dọc gọi là cột cơ hậu môn [27].


5
1.1.3 Động mạch đại trực tràng
- Đại tràng được nuôi dưỡng bởi động mạch mạc treo tràng trên và động
mạch treo tràng dưới. Động mạch mạc treo tràng trên xuất phát từ động mạch
chủ bụng, cấp máu cho ĐT phải thông qua các nhánh: động mạch kết tràng
phải, động mạch kết tràng giữa, động mạch hồi kết tràng. Động mạch mạc
treo tràng dưới xuất phát từ động mạch chủ bụng, cấp máu cho ĐT trái thông
qua các nhánh: động mạch kết tràng trái, thân động mạch kết tràng sigma. Các
nhánh nuôi ĐT khi cách bờ mạc treo khoảng 2,5 cm mỗi mạch chia đôi tạo
thành hình vòng cung nối với nhau.
- Trực tràng được nuôi dưỡng bởi 3 động mạch: động mạch trực tràng
trên, động mạch trực tràng giữa và động mạch trực tràng dưới. Động mạch
trực tràng trên là phần tận cùng của động mạch kết tràng sigma, đây là nhánh
chính tưới máu cho phần trên của trực tràng. Động mạch trực tràng giữa bắt
nguồn từ động mạch hạ vị, cung cấp máu cho phần dưới TT. Động mạch trực
tràng dưới bắt nguồn từ động mạch chậu trong, cung cấp máu cho phần xa của

máu cho phần đại tràng tương ứng.
- Nhóm hạch chính: từ các hạch trung gian, bạch huyết đại tràng phải đổ
vào hạch chính nằm ở quanh gốc của động mạch mạc treo dưới, rồi tất cả tập
trung đổ vào ống ngực.

Hình 1.1. Hệ thống bạch huyết của đại tràng [24].


7
Bạch huyết trực tràng đổ về theo 3 đường chính:
- Phần trên: đổ vào nhóm hạch ở cạnh động mạch TT trên rồi tới nhóm
hạch cạnh đại tràng sigma, cuối cùng đổ vào đám hạch đại tràng trái giữa.
- Phần giữa: đổ vào nhóm hạch nơi tách ra của động mạch TT giữa từ
động mạch hạ vị, nhưng phần lớn bạch huyết ở cuống giữa chạy lên cuống trên.
- Phần dưới có 2 vùng: vùng chậu hông có bạch huyết của phần dưới
bóng trực tràng đổ vào các bạch huyết nằm dọc các động mạch cùng bên và
các hạch ở góc nhỏ. Vùng đáy chậu có bạch huyết đổ vào các hạch bẹn nông
nằm ở tam giác Scarpa [10], [11], [12].

Hình 1.2. Hệ thống bạch huyết của trực tràng
[Nguồn Gordon PH, Principles and Practice of Surgery for the Colon, Rectum and
Anus, 2nd ed, 1999, tr. 32]

1.2. GIẢI PHẪU BỆNH UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG
1.2.1. Vị trí tổn thương
Theo Sherman hơn 95% trường hợp ung thư đại trực tràng (UTĐTT) chỉ
có một khối u. Trong đó trên 50% ung thư (UT) là ở TT, 20% ở đại tràng
sigma, 15% ở đại tràng phải, 6-8% ở đại tràng ngang, 6-7% ở đại tràng trái và
1% ở ống hậu môn [7], [35].
1.2.2. Hình ảnh đại thể

+ Ung thư biểu mô tuyến vảy.
+ Ung thư biểu mô không biệt hóa.
+ Ung thư biểu mô không phân loại được.


9
- U carcinoide gồm: loại ưa bạc, không ưa bạc và loại hỗn hợp.
- Ung thư không phải biểu mô tuyến: u cơ trơn, các loại u khác.
1.2.5. Sự tiến triển của ung thư đại trực tràng
Ung thư đại trực tràng xuất phát từ lớp niêm mạc phát triển tại chỗ vào
các lớp khác nhau của đại trực tràng, đặc biệt là phát triển vào trong lòng đại
trực tràng gây biến chứng bán tắc ruột và tắc ruột. Nếu không được chẩn đoán
và điều trị sẽ tiếp tục phát triển ra ngoài thành đại trực tràng, vùng xung
quanh khối u, xâm nhập vào đường máu và hệ thống bạch huyết di căn xa tới
các tạng [17], [61].
- Sự phát triển trong thành đại trực tràng
Ung thư phát triển theo các hướng sau:
Theo hình vòng cung, dần dần ôm hết chu vi lòng đại trực tràng. Phải
mất khoảng một năm rưỡi đến hai năm để khối u ôm hết được cả chu vi.
Theo chiều dọc lên trên và xuống dưới, hiện tượng phát triển này chủ yếu
xảy ra ở lớp dưới niêm mạc, nhưng ít khi vượt quá 2 cm cách rìa khối u.
Theo chiều ngược hướng tâm đi dần từ lớp niêm mạc ra thanh mạc thành
đại trực tràng [11], [17], [83].
- Sự tiến triển ngoài thành đại trực tràng
+ Xâm nhập trực tiếp do tiếp xúc: sau khi khối u đã thâm nhiễm tới thanh
mạc thành đại trực tràng sẽ tiếp tục xâm lấn tới các tạng lân cận.
+ Tiến triển theo đường máu: chủ yếu là đường tĩnh mạch, thường di căn
xa và xảy ra sớm (gan, phổi, xương, não...).
+ Tiến triển theo đường bạch mạch: là hình thái lan tràn thường gặp nhất,
khi khối u phát triển tới lớp dưới niêm mạc sẽ xâm lấn trực tiếp vào hạch bạch

T2: U xâm lấn lớp cơ.
T3: U xâm lấn đến thanh mạc.
T4: U xâm lấn đến cơ quan lân cận.
N: Hạch vùng.


11
Nx: Chưa đánh giá được hạch vùng.
No: Chưa có di căn hạch tại vùng.
N1: Di căn 1-3 hạch tại vùng.
N2: Di căn từ 4 hạch trở lên.
N3: Di căn hạch dọc theo đường đi thân động mạch trưc tràng.
M: Di căn xa.
Mo: Chưa có di căn xa.
M1: Có di căn xa.
Giai đoạn 0: Tis, No, Mo.
Giai đọan I: T1, No, Mo hoặc T2, No, Mo.
Giai đọan II: T3, No, Mo hoặc T4, No, Mo.
Giai đoạn III: T bất kỳ, N1, Mo hoặc T bất kỳ, N2, N3, Mo.
Giai đoạn IV: T bất kỳ, N bất kỳ, M1 [7], [14], [28], [46], [83].
Bảng 1.1. Phân chia giai đoạn UTĐTT của AJCC- 1997 [47].
Nhóm giai đoạn
Giai đọan 0
Giai đoạn 1
Giai đoạn 2

Giai đoạn 3

Giai đoạn 4


T1-2

No
N1-2

Mo
Mo

B2
C1

C

T3

N1-3

Mo

C2

T4
T1-4

N1-2
N1-2

Mo
M1


1.3.2. Sinh bệnh học
1.3.2.1 Yếu tố môi trường
Yếu tố môi trường đóng vai trò quan trọng trong sinh bệnh học ung thư
đại trực tràng. Ở các nước phương Tây liên quan đến chế độ ăn ít chất xơ và
rau xanh, nhưng lại nhiều mỡ động vật. Chế độ ăn có thể sinh bệnh thông qua
chất trung gian axít mật, chất có tác động tới sinh sản của các tế bào biểu mô.
Một số chất khác, các Vitamin A, D, E, can xi, thuốc chống viêm không
steroid, có tác dụng giảm nguy cơ mắc UTĐTT.
Rượu và thuốc lá đã được chứng minh là có vai trò quan trọng gây
UTĐTT. Vận động thể lực làm tăng nhu động ruột, thúc đẩy bài xuất phân
nhanh chóng và như vậy làm giảm nguy cơ ung thư [34], [61], [74], [84].
1.3.2.2.Yếu tố di truyền
Yếu tố di truyền gây ung thư trên những bệnh nhân đa polype đại trực
tràng mang tính chất gia đình với một bệnh di truyền gen trội, nhiễm sắc thể
thường. Yếu tố di truyền mà UTĐTT còn liên quan với hội chứng Gardner
(gồm đa polype kèm theo các u bó sợi). Hội chứng gia đình ung thư (II): Ung
thư đại trực tràng ở bệnh nhân trẻ, gia đình có nhiều người bị, hoặc phối hợp
với những khối u ác tính khác ngoài đại trực tràng. Yếu tố gia đình chiếm 5%
trong UTĐTT. Cơ chế sinh bệnh UTĐTT ngày càng được sáng tỏ qua cơ chế
gen sinh ung thư (oncogene). Người ta đã tìm được những gen nằm ở nhiễm
sắc thể 5 và gen P53 ở nhiễm sắc thể 17. Các gen này khi bị đột biến sẽ sinh
ung thư [7], [9], [14].
1.3.2.3. Các tổn thương tiền ung thư
Bệnh viêm đại trực tràng chảy máu mạn tính, bệnh Crohn, viêm đại trực
tràng do amíp mạn tính có nguy cơ UTĐTT từ 20-25% sau một thời gian dài


14
trên 10 năm. Những u tuyến lành tính, những polype được coi là những tiền
ung thư, trong đó loại u nhung mao và những polype có kích thước lớn có nguy

là dấu hiệu thường gặp nhưng ít khi là chảy máu ồ ạt. Phân có các sọc máu
bao quanh hoặc trộn lẫn với máu đỏ tươi hoặc máu đen thẫm, chất nhầy và
máu cục nhỏ thường đi kèm theo [11], [17].
1.4.1.3. Trực tràng
Triệu chứng hay gặp nhất là đại tiện ra máu, chảy máu tự nhiên dễ nhầm
trĩ, chảy máu kéo dài ít gặp. Máu có thể lẫn phân hoặc chất nhầy, đi cầu có
máu gặp 90,2% trường hợp. Chỉ dựa vào màu sắc và hình thức máu chảy để
dự đoán nguồn gốc từ hậu môn trực tràng là không có căn cứ. Bất kể khi nào
thấy chảy máu trực tràng xuất hiện ở một người thuộc lứa tuổi trung niên hoặc
già hơn cũng cần phải thăm trực tràng và chỉ được kết luận là trĩ đơn thuần
khi loại trừ được UTTT [12].
Hội chứng trực tràng lúc đầu cảm giác tức vùng hậu môn, về sau đau rõ
rệt ở tầng sinh môn, đau rát hậu môn sau mỗi lần đi ngoài. Đau hạ vị, buồn đi
ngoài và cảm giác đi ngoài không hết phân, ỉa máu mũi là triệu chứng hay gặp
nhất 70%. Thăm trực tràng tới bờ trên cơ thắt ngoài còn có thể sờ thấy các
hạch thành sau trực tràng, thăm khám âm đạo ở phụ nữ để phát hiện xâm lấn.
Thăm trực tràng là kỹ thuật bắt buộc để phát hiện u TT, có thể sờ thấy u, máu
dính gant, có thể phát hiện được 65-80% các khối u TT [7].
Khi bệnh ở giai đoạn muộn có thể xuất hiện vàng da, gan to do ung thư
di căn tới gan và chèn ép vào đường dẫn mật hoặc có dấu hiệu cổ chướng do
ung thư đã lan tràn ra phúc mạc, tắc ruột cũng thường xuyên xảy ra. Ngoài ra
có thể có biểu hiện một số các biến chứng hiếm gặp như dò, thủng [7] [12].
1.4.2. Cận lâm sàng
1.4.2.1. Xét nghiệm tìm máu ẩn trong phân
Nguyên tắc của xét nghiệm là phát hiện hoạt động Peroxidaze của huyết
cầu tố để phát hiện chảy máu ĐTT. Độ nhạy của xét nghiệm còn thấp 50%
nhưng độ đặc hiệu cao 80%. Để tránh dương tính giả, bệnh nhân phải tránh


16

17
1973, Nolf W. I và Shinya H ở Anh công bố nội soi can thiệp cắt Polype đại
tràng. Năm 1983 nội soi Video ra đời năm 1998 Campbell K.L và Te - Chuan
Chen công bố đặt thiết bị chống tắc ruột qua nội soi [33].
Nội soi ống mềm cho phép quan sát trực tiếp tổn thương từ hậu môn tới
manh tràng và qua nội soi sinh thiết tổn thương để xác định được bản chất của
bệnh. Chính sự thay đổi bản chất của phương pháp quan sát này, nên nội soi
được coi là phương pháp số 1 trong thăm dò ống tiêu hoá. Ưu điểm nội soi
ống mềm là ít gây khó chịu hơn ống cứng và quan sát rộng hơn, phát hiện các
tổn thương nhỏ gấp 2 - 3 lần so với ống cứng. Khả năng này được tăng cao
nếu tiến hành các thủ thuật nhuộm màu niêm mạc bằng indigocarmin, xanh
methylen, chính bằng phương pháp này mà các ung thư sớm típ thẳng và típ
lõm phát triển từ các vùng phẳng loạn sản trong viêm loét đại tràng và bệnh
Crohn được quan sát rõ hơn và phát hiện sớm hơn [13], [45].
Chẩn đoán nội soi được thiết lập dựa vào quan sát trực tiếp tổn thương
trong khi soi. Các khối u được đánh giá theo: vị trí, xâm lấn chu vi, tính chất
về mặt, các tổn thương phối hợp như polype, loét đặc biệt qua nội soi có thể
sinh thiết làm mô bệnh học [45]. Tại Bệnh viện K năm 2004, kết quả nghiên
cứu của Phan Văn Hạnh tổn thương UTĐT qua nội soi đối chiếu với siêu âm
cho thấy sự bỏ sót của siêu âm là 25%, nhưng khi phối hợp hai phương pháp
thì độ chính xác là 96% [5]. Mặc dù có nhiều điểm mạnh được đánh giá là
phương pháp khá an toàn nhưng nội soi cũng có một tỷ lệ biến chứng khi
thăm dò như thủng. Mặt khác nội soi chống chỉ định trong nhiều trường hợp,
sự chuẩn bị bệnh nhân khá phức tạp và dù sao đây cũng là một phương pháp
xâm nhập, nên có một số không nhỏ bệnh nhân từ chối [13].
1.5. CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG
1.5.1. Siêu âm chẩn đoán
Hiệu ứng áp điện của tinh thể thạch anh được Pierne Curie tìm ra năm
1880. Năm 1843 Christian Doppler tìm ra hiệu ứng Doppler.



19
Theo Yarmenitis S.D sử dụng siêu âm cản âm có giá trị rất cao trong việc
phát hiện thêm những nốt di căn ở gan mà các phương tiện khác bỏ sót [89].
1.5.1.2. Siêu âm trực tràng (Endorectal Ultrasound)
Với tần số cao 7- 9MHz có thể khảo sát trực tràng một cách dễ dàng
không cần sự chuẩn bị. Tiến hành kỹ thuật này ngoài sự phát hiện ra khối u,
còn phát hiện mô và hạch xung quanh bị tổn thương cũng như mức độ xâm
lấn về chiều sâu.
1.5.1.3. Siêu âm trong mổ (Intraoperative Ultrasound )
Siêu âm với đầu dò tần số cao tiến hành trực tiếp trong quá trình mổ xác định
di căn của tạng đặc biệt là gan nếu kết hợp có thuốc cản âm thì kết quả rất hoàn
hảo. Để phát hiện các nốt ở gan trong mổ Qiang Lu và đồng sự dùng thêm
thuốc cản âm cho thấy độ nhạy, độ đặc hiệu đều 100% [70].
1.5.1.4. Siêu âm nội soi (Endoscopic Ultrasonography- ESU)
Siêu âm nội soi là phương pháp siêu âm xâm hại tối thiểu. Thường dùng
đầu dò 12MHz gắn với 1 catheter được luồn vào ống đại tràng với độ phân
giải cao không những xác định khối u nhỏ mà còn xác định độ xâm lấn cơ về
chiều sâu và hạch lân cận.
So sánh khả năng đánh giá sự xâm lấm và hạch giữa siêu âm nội soi với
cộng hưởng từ thì độ nhạy và độ đặc hiệu của cộng hưởng cao hơn nhưng độ
chính xác thì thấp hơn siêu âm nội soi. Theo nhóm nghiên cứu của Akahoshi
K. sử dụng siêu âm nội soi với đầu dò 12 MHz siêu âm trên 154 bệnh nhân
ung thư đại trực tràng. Kết quả so sánh mô học về chiều sâu có độ chính xác
85% ở trực tràng, 89% ở đại tràng. Mức độ xâm lấn chính xác ở giai đoạn T1
là 87%,T2 60%, T3 89% và T4 67%. Hình ảnh di căn hạch với độ chính xác
theo từng giai đoạn là 67%, độ nhạy 70%, độ đặc hiệu 64%, giá trị dự báo
dương tính là 58% và giá trị dự báo âm tính 75% [37].



đại tràng, để các tổn thương hiện rõ [22], [29], [67]. Theo Carri N. Kalabunde
thực hiện chụp đối quang kép trên 381 bệnh nhân phát hiện 75% bệnh nhân
UTĐTT trong khi đó thăm khám thực thể chỉ nghi ngờ 30% [63]. Ở Học viện
103 trong đề tài nghiên cứu của Nguyễn Quang Thái chụp đối quang kép với
17 bệnh nhân cho kết quả có độ chính xác là 100% [31].
Công tác chuẩn bị rất quan trọng, nếu ĐT không sạch, các hình cản
quang bất thường của phân có thể bị nhầm là tổn thương. Chụp X quang càng
đặc biệt quan trọng ở những bệnh nhân không thể nội soi toàn bộ ĐT, ở cơ sở
không có ống nội soi mềm hoặc chống chỉ định nội soi [22], [29].
Nhìn chung tỷ lệ bỏ sót tổn thương của X quang cao hơn so với nội soi.
Khi nghiên cứu so sánh ở 973 bệnh nhân vừa chụp X quang và nội soi Sidney
J. Winawer thấy tỷ lệ bỏ sót của X quang khá cao đến 26% [87].
1.5.4. Chụp mạch máu (Angiography)
Từ khi có siêu âm, cắt lớp vi tính (CLVT), cộng hưởng từ vai trò chụp
mạch giảm hẳn. Hiện nay kỹ thuật này ứng dụng để xác định mạch máu tổn
thương xử lý lấy huyết khối và tránh tổn thương các mạch máu nuôi tổ chức



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status