CÂU HỎI THẢO LUẬN: NÊU NHỮNG ĐẶC ĐIỂM NỔI BẬT NHẤT CỦA
VĂN HỌC DÂN TỘC MÔNG
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
1.
1.1.
Giới thuyết chung về dân tộc Mông
Lịch sử tộc người
Dân tộc Hmông (còn có tên gọi khác như Na Mèo, Mèo, Mẹo, Miếu Ha, Mán
Trắng), là một dân tộc có số dân tương đối đông ( trên 9 triệu người), cư trú ở nhiều
nước khác nhau trên thế giới. Ở Trung Quốc, người Hmông được gọi là người Miêu, ở
Lào gọi là Mẹo. Ngoài ra, ở hầu hết các nước khác trên thế giới, họ đều được gọi là
người Hmông. ở nước ta, trước năm 1979, họ được gọi là người Mèo. Nhóm H’mông
thuộc ngữ hệ Nam Á, H’mông-Dao có 3 ngôn ngữ: Hmông, Dao, Pà Thẻn.
Người H’mông ở Việt Nam hiện nay đều có nguồn gốc chủ yếu từ phương Bắc.
Các tài liệu khoa học, cũng như các truyền thuyết đều cho biết rằng người Mông là tộc
người di cư vào Việt Nam sớm nhất khoảng 300 năm và muộn nhất là 100 năm về
trước. Theo các nhà dân tộc học Việt Nam thì phần lớn những người H’mông ở các tỉnh
miền núi phía Bắc đều di cư trực tiếp từ Qúy Châu, Quảng Tây và Vân Nam sang.
Riêng một số nhóm ở Thanh Hóa, Nghệ An di cư đến Việt Nam qua Lào. Người
H’mông đến Việt Nam qua những con đường khác nhau và chia thành nhiều vùng địa
bàn khác nhau. Vùng thứ nhất có những hộ thuộc họ Lù, họ Giàng đến khu vực các
huyện Đồng Văn, Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang. Từ đây họ bắt đầu tiếp tục di cư vào sâu
hơn các tỉnh ở Đông Bắc Việt Nam. Vùng thứ hai có những hộ thuộc hộ Vàng, họ Lý
cũng vào khu vực Đông Văn. Còn một nhóm số người ít hơn, thuộc vào họ Vàng, Lù,
Chấu, Sùng, Hoàng, Vừ vào khu vực Si Ma Cai, Bắc Hà ( Lào Cai). Sau đó khoảng 30
hộ gồm các họ Vừ, Sùng chuyển sang phía Tây Bắc Việt Nam và người Hmông tiếp tục
di cư đến các huyện của các tỉnh thuộc Đông Bắc và Tây Bắc Việt Nam. Người Hmông
đã từng có một quốc gia riêng. Tuy nhiên, họ là một dân tộc có ý thức tự cường mạnh
lanh dệt vải, in hoa văn bằng sáp ong, đúc, rèn…. Các sản phẩm thủ công của người
Hmông vừa có tính kỹ thuật cao, vừa độc đáo và rất đặc sắc bởi tính nhân văn và bản
sắc văn hóa đậm đà của dân tộc Hmông. Kinh tế của người Hmông hoàn toàn không có
tính cộng đồng càng không phải là nền tảng cho sự cố kết và thống nhất. Đó là một trở
ngại lớn nhất cho sự phát triển kinh tế của dân tộc này trong bối cảnh nền kinh tế trong
1.2.
nước và thế giới đang trong công cuộc hội nhập ngày càng mạnh mẽ và sâu sắc.
Văn hóa vật chất
1.2.1. Nhà ở - kiến trúc độc đáo
Môi trường sống trên các triền núi cao, khí hậu lạnh, khắc nghiệt thì ngôi nhà trình
tường bằng đất, lợp ngói hay tranh của người HMông có ưu điểm mát mẻ về mùa hè,
giữ ấm về mùa đông, chống thú dữ…Người Hmông thường ở nhà đất trình tường lợp
gói hay nhà gỗ lợp mái tranh phiên vách. Cấu trúc chung của ngôi nhà Hmông truyền
thống gồm 3 gian, gian giữa có cửa chính nhìn về phía trước nhà. Đây là gian tiếp
khách, vách sau của gian giữa là chỗ thiêng. Ở gian bên cạnh có buồng ngủ và bếp. Đầu
hồi nhà có một của phụ nhưng đó mới chính là lối ra vào. Hằng ngày, người trong gia
đình chủ yếu đi lại bằng cửa này. Trong gia đình người HMông, phòng ngủ của vợ
chồng con cái được bố trí riêng. Người HMông ngủ bằng phản hoặc giát bằng tre mai
đập giập. Người HMông rất khắt khe, nơi ngủ của con dâu, em dâu thì bố chồng và anh
chồng không được vào và ngược lại, con dâu, em dâu không được vào chỗ ngủ của bố
chồng, anh chồng.
Phong tục người HMông không cho con gái, đàn bà được ngủ trên gác. Khi đàn
ông trong nhà đi vắng thì con dâu không được phép lên gác. Nhà của người HMông
không bao giờ làm dính sát vào nhau, cho dù là anh em ruột thịt. Khi chọn đất làm nhà,
người Mông lấy 3 hạt gạo hoặc ngô đặt xuống khu đất đã chọn rồi đặt bát hoặc chậu gỗ
lên trên, sau đó thắp 3 nén hương khấn thần đất, đốt 3 tờ giấy bản xin thổ công thổ địa
cho gia chủ làm nhà. Sáng hôm sau hoặc sau 3 tháng, chủ nhà quay lại xem số hạt ngô
còn thể hiện sức sống, bản lĩnh của người Mông trước thiên nhiên…
1.2.3.
Ẩm thực
Người Mông thường ăn ngày hai bữa, ngày mùa ăn ba bữa. Bữa ăn với các thực
phẩm truyền thống có mèn mén (bột ngô đồ) hay cơm, rau xào mỡ và canh. Bột ngô
được xúc ăn bằng thìa gỗ. Phụ nữ khéo léo làm các loại bánh bằng bột ngô, gạo vào
những ngày tết, ngày lễ. Người Mông quen uống rượu ngô, rượu gạo, hút thuốc bằng
điếu cày. Ðưa mời khách chiếc điếu do tự tay mình nạp thuốc là biểu hiện tình cảm quý
trọng. Người Mông nơi đây cho rằng:" uống rượu Bản Phố vào buổi sáng sẽ có thêm
sức mạnh, tựa như có một vị thần dũng mãnh hỗ trợ làm việc đồng áng suốt ngày không
cảm thấy mệt mỏi. Nếu uống vào buổi tối, cùng với bằng hữu, rượu như có sợi dây vô
hình ràng buộc tình yêu thương khăng khít, trong lòng mọi người trào dâng lời hay, ý
đẹp, nói lên được những điều mới mẻ, ý nghĩa thấm sâu và hào hứng mà những lúc khác
không có rượu chưa nói được”.
1.3.
Văn hóa tinh thần
1.3.1. Phong tục tập quán
Phong tục, tập quán của người Hmông rất phong phú và giàu bản sắc, bao gồm các
nghi lễ cưới xin, tang ma, và các sinh hoạt cộng đồng khác: được hình thành một phần
do điều kiện sông khắc nhiệt và được bảo lưu từ trong lịch sử, được biểu hiện rõ nét,
đặc sắc và sinh động trong cả văn học dân gian và văn học thành văn.
1.3.2.
Đời sống tâm linh
Người Hmông quan niệm “vạn vật hữu linh”. Tất cả sự vật hiện tượng trong đời
trong nền văn học, thi ca các dân tộc thiểu số. Thơ ca hiện đại dân tộc H’mông xuất
hiện vào khoảng những năm 60 của thế kỉ XX, nó được phổ biến chủ yếu ở các khu tự
trị Đông Bắc, Tây Bắc và các tỉnh Hà Giang, Lào Cai là những khu có đông người
H’mông sinh sống.
Người Hmông có một kho tàng thơ ca phong phú được hình thành và không ngừng
phát triển trong suốt chiều dài lịch sử. Thơ ca Hmông là sự phản ánh trung thực dời
sống và tâm hồn dân tộc Hmông từ quá khứ đến hiện tại với những nét đặc trưng, giàu
bản sắc.
CHƯƠNG 2: KHÁI QUÁT VỀ VĂN HỌC DÂN TỘC MÔNG
2.1. Khái quát về văn xuôi
2.2. Khái quát về thơ ca
2.2.1. Thơ ca dân gian
Thơ ca dân gian Cùng với chiều dài lịch sử, dân tộc Mông sớm có một nền văn
học dân gian phong phú, đa dạng phản ánh đời sống văn hoá cũng như tâm tư nguyện
vộng của cộng đồng. Các thể loại văn học dân gian của dân tộc Mông cũng giống như
các dân tộc khác như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích và đặc biệt là thơ ca dân gian với
hai mảng chính là truyện thơ và dân ca.
Truyện thơ của người Mông không chỉ chứa đựng những phong tục tập quán,
những cách cảm nhận về đời sống rất đặc trưng của người Mông, mà còn thể hiện
những khát vọng mãnh liệt về tình yêu và hạnh phúc. Nó còn là một quá trình tự sự hoá
dân ca trữ tình. Mỗi truyện thơ là một tác phẩm hoàn chỉnh cả về cốt truyện lẫn hệ thống
nhân vật. Có thể tìm thấy trong truyện thơ quá trình phát triển của xã hội người Mông;
những truyền thống văn hoá và đạo lí, những phong tục tập quán qua nhiều thế kỷ đã tạo
nên bản sắc riêng của cả một cộng đồng. Tiêu biểu như các truyện thơ “A Thào Nù
Câu”, “Nàng Dợ Chà Tăng”, “Dìa Pàng - Dùa phông”, “Nàng Phan- Nồng Dí”...
Dân ca là một thể loại rất phổ biến trong đời sống sinh hoạt tinh thần của người
Mông. Đó là những bài hát mang nội dung trữ tình, biểu lộ tình cảm, tâm tư, nguyện
nó còn uyển chuyển với cách sử dụng vần điệu như tục ngữ: “Không phải đồng, không
phải sắt/ Chặt không đứt, ăn không được” (Nước), “Năm anh em địu năm viên ngói”
(Năm ngón tay). Câu đố Mông không chỉ giàu âm thanh mà còn giàu hình tượng. Có
khi, hình tượng được gợi lên bằng cách miêu tả trực tiếp đặc điểm của sự vật: “Không
có cành/Lại có lá/Đầu hoa nhọn, thân quả nhẵn” (Cây chuối). Như vậy, câu đố có khả
năng làm cho cuộc sống của người Mông thêm sinh động, đồng thời nâng cao kiến thức
và rèn luyện kỹ năng quan sát, óc thông minh rất cần thiết cho cuộc sống.
Thơ ca dân gian Mông tồn tại dưới dạng các làn điệu dân ca, tục ngữ, câu đố phong
phú cả về nội dung lẫn hình thức, những hình thức dân gian ấy thể hiện quan niệm nhân
sinh, về thiên nhiên, con người và các mối quan hệ tình cảm như: tình yêu, hôn nhân,
quan hệ gia đình, xã hội, lối sống và phương thức ứng xử, những kinh nghiệm trong lao
động sản xuất.
2.2.2. Thơ ca hiện đại
Thơ ca hiện đại dân tộc Mông được xuất hiện dưới hình thức các tập thơ in riêng
của các tác giả người Mông thì phải đợi đến những năm 90 của thế kỷ XX với các tập
thơ: “Người Mông nhớ Bác Hồ” (1993); “Chỉ vì quá yêu” (1998) của Hùng Đình Quí.
Nhà thơ Mã A Lềnh với các tập “Bên suối Nậm Mơ” (1995), “Mã A Lềnh thơ” (2002);
rồi đến các tác giả trẻ hơn như Hờ A Di và thế hệ sau này có sáng tác đôi chút thơ văn
như Mã Anh Lâm, Mã Én Hằng, Hùng Thị Hiền xuất hiện trên các báo, tạp chí của các
Hội Văn học Nghệ thuật Trung ương và địa phương. Thơ ca Mông cũng đã xuất hiện và
phát triển, tạo nên một mảng màu riêng biệt, đậm đà bản sắc dân tộc Mông, trong bức
tranh nhiều màu sắc rực rỡ của thơ ca các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại. Các tác
giả dân tộc Mông có hai gương mặt nhà thơ tiêu biểu cho dân tộc mình là Mã A Lềnh
(Lào Cai) và Hùng Đình Quí (Hà Giang). Bên cạnh đó còn có các nhà thơ người Mông
khác là hội viên các hội văn học nghệ thuật các tỉnh và các địa phương.
Cuộc sống hiện đại, sự giao lưu kinh tế, văn hoá giữa các dân tộc ngày càng phát
triển làm cho các dân tộc thiểu số ngày càng tiếp cận và hội nhập với cuộc sống văn
minh. Thơ ca Mông hiện đại, trước hết, phản ánh những nét đặc trưng về cuộc sống,
đại Mông vẫn còn bộc lộ một số hạn chế nhất định: Với một đội ngũ sáng tác còn mỏng
và không đồng đều; với những hạn chế trong việc sử dụng ngôn ngữ thơ bằng tiếng phổ
thông của một số tác giả; với vốn sống, vốn văn hoá và năng lực bản thân của người
cầm bút, chưa thể phản ánh, biểu hiện được đầy đủ về bức tranh thiên nhiên, cuộc sống
và con người của dân tộc Mông; những phong tục tập quán, đời sống tinh thần, sinh
hoạt phong phú và giàu bản sắc chưa được chuyển tải vào thơ nhưng chúng ta không thể
phủ nhận sự góp mặt của thơ ca hiện đại Mông trong đời sống văn học đương đại nói
chung và nền thơ Việt Nam hiện đại nói riêng.
CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM NỔI BẬT CỦA THƠ CA MÔNG QUA NỘI DUNG VÀ
NGHỆ THUẬT
3.1. Nội dung và nghệ thuật
3.1.1. Nội dung
a. Tư tưởng chủ đề, đề tài
Cùng với chiều dài của lịch sử, dân tộc Mông đã sơm cómọt nền văn học phong
phú, đa dạng phản ánh đời sống văn hóa cũng như tâm tư, tình cảm, nguyên vọng của
cộng đồng. Thơ ca dân tộc Mông không chỉ phản ánh những phong tục tập quán, những
cách cảm nhận về đời sống của con người mà nó còn thể hiện khát vọng mãnh liệt về
tình yêu, hạnh phúc. Thơ ca Mông như những chiếc váy của các cô gái Mông đậm màu
sắc của dân tộc mình, nó còn khoe những nét đẹp thơ ca qua chủ đề và đề tài.
Đề tài trong thơ ca văn học dân tộc Mông trước hết phản ánh những nét đặc trưng
về cuộc sống, thiên nhiên, con người, tình yêu, sự ca ngợi và lòng biết ơn của cộng đồng
Mông. Trước hết hình ảnh thiên nhiên ở trong thơ ca thật hùng vĩ, tươi đẹp nhưng cũng
thật khắc nghiệt. Nơi thiên nhiên chót vót trên những đỉnh núi , quanh năm mây mù bao
phủ, khí hậu khắc nhiệt như một thách thức cho sức sống sinh tồn của con người. Hình
ảnh người đàn ông dân tộc Mông với “mái đầu trơ một mỏm đá hoang” gợi lên hình ảnh
so sánh liên tuởng rất thú vị độc đáo về sự từng trải hết sức chai sạn, vượt lên sương gió
cuộc đời, khắc phục thiên nhiên hung dữ, thiên nhiên cũng như một con người sống
động với tính cách con người:
chụ vào nhau. Trang phục tiêu biểu cho tính cách con người Mông chính là những chiếc
váy mông xòe đủ sắc “những chiếc váy hoa phơi trên những tảng đá xòe như con bướm
sặc sỡ “núi rừng Tây bẳc trở nên thơ mộng, quyến rũ và say mê biết bao” , hình ảnh
những cô gái Mông đôi gò má ửng hồng, cái nhìn tinh anh, rụt rè và táo bạo với những
bắp chân to khỏe, dáng đi uyển chuyển mềm mại trong những chiếc váy Mông “trắng
đẹp trắng xinhnhư hoa mạch lan nở lưng rừng”, những cô gái ngây thơ ấy còn “ Vẽ vào
gấu váy của mình / và thêu ngọn gió hoang thổi vào mơ ước”. Những chàng trai Mông
mắt sáng, mày sắc, mạnh mẽ tài hoa, các chàng trai hào hoa ấ còn bộc lộ tình yêu một
cách khẳng khái, bộc trực đến “ chín rụng cõi lòng” đam mê yêu đương mãnh liệt:
“Nếu ta là bông tuyết trắng
Ta xin tan dưới bàn chân nàng
Là chàng trai rừng núi
Ta xin tan trên thân thể nàng”
( Mã A Lềnh)
Đề tài về tình yêu là đề tài hay của thơ ca Mông. Họ yêu nhau vì bản tính chân
thực, yêu ghét rõ ràng. Khi yêu thì yêu đến đắm say còn khi ghét thì căm giận hết sức
quyết liệt “ kẻ nào bụng không tốt tỏ lời từ trong quả bầu ta sẽ bóp chết ngay từ trong
trứng” ( Mùa A Sấu) . Nhưng đó lại là một nét đặc trưng của người dân tộc thiểu số, nói
những suy nghĩ nói thẳng, nói thật không e dè, vòng vo, bóng bẩy. Bản tính chân thực
của người Mông đi vào thơ ca Mông và nó đã trở thành một nét bản sắc để người đọc
thấy yêu thích thơ ca Mông. Thơ ca Mông còn to điểm lên vẻ đẹp hình thể của con
người với những bước đi chắc nịch “ đôi chân trần đạp trên đá sắc” ( Mã A Lềnh), họ
luôn mạnh mẽ và không bao giờ khuất phục trước khó khăn đó chính là bản lĩnh kiên
cường của người Mông. Tuy nhiên, bằng sự khéo léo và tài hoa thì người Mông còn yêu
ca hát, yêu âm nhạc mà khèn Mông và múa Xòe là những nét đặc trưng riêng biệt của
người Mông, họ cho rằng “ không xòe lúa không tốt, không xòe thóc không đầy bồ” nen
người Mông họ yêu nghệ thuật. Nghệ thuật cũng được đi vào thơ ca Mông một cách êm
dịu:
Tay trắng cầm đèn
Đi dạy học xuống giữa thôn”
( Ánh đuốc trên đỉnh Vần Chải – Hùng Đình Quý)
Đề tài ca ngợi và biết ơn chữ, Bác Hồ, Đảng, Chính phủ được các nhà thơ Mông
đặc biệt quan tâm vì lớp thế hệ người nhà thơ Mông sống trong hòa bình nên hiểu sâu
sắc giá trị cuộc sống , hểu rõ cái nghèo. Người Mông cho rằng học tự hào vì có chữ nên
thể hiện tấm lòng tri ân với Đảng và bác Hồ:
“Có chữ giúp ghi lại cuộc đời
Học chữ người Mông nhớ công ơn Đảng khôn nguôi
Có chữ giúp ghi lại cuộc sống
Học chữ người Mông nhớ công ơn Bác Hồ mãi mãi”
(Người Mông có chữ)
Lòng biết ơn là môt thứ tình cảm đặc biệt và nổi trội luôn được biểu hiện một cách chân
thành và cảm động trong thơ ca Mông. Các tác giả Mông đã dùng cây bút để bày tỏ tâm
tình của mình đối với Cách mạng và bác Hồ đã đem ánh sáng đến các bản làng, mang
lại cuộc đời mới, nguồn sinh lực mới thể hiện qua một số bài thơ: Ơn Đảng (1969), Nhớ
Bác Hồ (1969), Nhớ đến Chính phủ… Những baif thơ đều tỏ lòng biết ơn đối với Đảng,
Chính phủ và Bác Hồ
b.Những mạnh nguồn cảm hứng thơ ca Mông
Cảm hứng là trạng thái tâm lý đặc biệt khi sức chú ý được tập trung cao độ kết hợp
với cảm xúc mãnh liệt, tạo điều kiện cho óc tưởng tượng và năng lực sáng tạo hiệu quả
nhất ( Từ điển Tiếng Việt)
Thơ ca dân tộc Mông không chỉ mở rộng phạm vi chủ đề, đề tài gắn với sự thay
đổi và phát triển của cả cộng đồng mà đó còn là quá trình tìm đến cái đặc trưng và khác
biệt của dân tộc Mông đểthấy được dân tộc Mông đầy cá tính và bản lĩnh núi rừng .Bởi
vậy khi xem xét thơ ca dân tộc Mông từ truyền thống đến hiện đại bởi các gia đoạn lịch
cô đơn, bi kịch của những người phụ nữ đáng thương trong xã hội phụ quyền không thể
tự mình quyết định tương lai và số phận của bản thân mình và họ cũng chẳng thể nào
thực hiện được ước mơ, những người phụ nữ bị chà đạpkhông có chuyện tự do yêu
đương và chọn lựa hạnh phúc. Biết bao những lứa đôi yêu nhau tha thiết để rồi phải chia
lìa nên bi kịch tình yêu cũng từ đó mà nảy sinh. Từ những kịch thì sẽ sinh ra sự phản
kháng của con người giống như câu nói “ ở đâu có áp bức thì ở đó có đấu tranh” nhưng
họ đấu tranh một cách tiêu cực và qua hành động phổ biến là tự tử bằng lá ngón. Bởi
vậy, hình ảnh lá ngón và cái chết cũng được xuất hiện nhiều trong thơ ca Mông trước
kia. Người Hmông thường tìm đến cái chết bằng cách ăn lá ngón. Hình tượng cây lá
ngón hoa vàng trở nên quen thuộc trong thơ ca Hmông như một phương thuốc hữu hiệu
cho sự giải thoát khỏi cuộc đời và số phận:
“Em ơi! Chị ngắt lá thuốc độc đắng thật đắng
Đưa lên mồm, nuốt ực cho nát quách lá gan
Chị ngắt lá thuốc độc cay thật cay
Đưa lên miệng nuốt ực...”
Cái chết là biểu hiện của cảm hứng cảm thương trước số phận bi kịch của con
người, nó làm cho người đọc thêm đồng cảm và xót xa cho những bất hạnh của thân
phận con người Mông trong xã hội cũ. Tuy nhiên “tiếng hát tình yêu” (Gầu Plềnh) đã
mở ra nguồn sống cho thơ ca Mông dù mong manh của ước mơ, hy vọng nhưng cũng
làm bùng cháy được cảm xúc con người.
Thơ ca đối với dân tộc Hmông, trước cách mạng tháng Tám, chỉ là phương tiện để
bộc lộ, giãi bày tâm trạng chứ không phải là phương tiện để nhìn nhận cuộc sống một
cách phong phú, đa dạng. Bước sang thời kì hiện đại, thơ ca Hmông có một bước
chuyển mình quan trọng. Từ điểm nhìn mang tính hướng nội đã được thay thế bằng
điểm nhìn xã hội mang tính hướng ngoại, mà dấu ấn rõ rệt nhất là từ phương diện cảm
hứng nghệ thuật.
Thứ hai đó là cảm hứng trữ tình ngợi ca. Sau cách mạng tháng Tám, khi số phận
cộng đồng Hmông có sự thay đổi, cảm hứng cảm thương – bi kịch mới dần dần mất đi
Ta xin tan trên bàn tay nàng;
Đêm đã qua, sao lượn vòng đổi chỗ
Ngày đã rạng, lối đi đã toe
Ta lê bước về nhà
Mà hồn như còn ngủ ở thắt lưng em”
(Dân ca Hmông)
Cuộc sống của người Hmông không thiếu sự thơ mộng đến lãng mạn, những chủ
nhân của núi đá vùng cao có đời sống tinh thần phong phú, trước hết và trên hết, họ có
một tình yêu nồng nàn. Từ những đỉnh núi - cao nguyên vừa hùng vĩ nên thơ vừa rất đỗi
khắc nghiệt đã sinh ra những nhà thơ Hmông để cất lên những tiếng ca ca ngợi quê
hương và tình yêu của mình:
“Từ đá
Sinh ra những chàng thi sĩ
Hát ca về đất trời, tình yêu của mình”
(Đá ở Sapa - Mã A Lềnh)
Âm nhạc chính là một chất men say trong tâm hồn người Hmông. Người Hmông
yêu âm nhạc bằng một tình yêu gần như là bản năng, đầy chất nghệ sĩ. Cuộc sống của
đồng bào dân tộc Hmông không thể thiếu những tiếng khèn, tiếng đàn môi, kèn lá những nhạc cụ quen thuộc và gần gũi của dân tộc Hmông. Những chàng trai Hmông múa
khèn tài hoa như những nghệ sĩ đích thực trong các buổi chợ phiên, những đêm trăng
hay trong các lễ hội “Gầu tào”: “Điệu khèn vui xóm núi/ Tiếng đàn môi giục lòng”
(Giàng Xuân Hồ).Không kém phần điệu đà những thiếu nữ Mông cũng thả tâm tình trong
tiếng đàn môi dìu dặt, trong tiếng kèn lá ẩn chứa những tâm sự vui buồn: “Nhớ buổi tiễn
chân ta qua đồi/ Em ngắt lá thổi bài kèn réo rắt” (Dân ca Hmông). Âm nhạc Hmông dịu
dàng nhưng cũng sôi động đến từng cung bậc thanh âm, chót vót cao và thăm thẳm sâu.
Có lẽ đó cũng chính là cá tính của một dân tộc chứa bao điều bí ẩn trong tâm hồn.
Và cuối cùng là một cảm hứng bao trùm trong văn học Hmông đó là cảm hứng suy
tư – chiêm nghiệm. Thời kì đổi mới của đất nước nên thơ ca Mông cũng có sự chuyển
đổi rõ rệt về cảm hứng nghệ thuật, con người Hmông bắt đầu có những suy tư, chiêm
thực con người và cuộc sống , cảm hứng nói trên không tồn tại độc lập mà có sự đan
xen, tiếp biến trên hành trình vận động từ quá khứ tới hiện tại. các cảm hứng nghệ thuật
đó đã tạo nên sự đồng điệu tâm hồn nhằm thấy được cái nhìn đa chiều của thơ ca Mông
qua các giai đoạn lịch sử.
3.2. Nghệ thuật thơ ca dân tộc Hmông.
Nhà thơ Chế Lan Viên đã từng nói “ Thơ ca Mông là công cụ thực dụng trong đời
sống, chứ không phải chỉ giúp cho con người đôi cánh hư ảo để bay lên trên , thoát ra
ngoài. Đời sống do đó vào cụ thể, tràn đầy trong thơ”. Trải qua một quá trình tôi luyện
và không ngừng làm mới thơ ca dân tộc Mông nên thơ ca giờ đay không phải là tiếng
thở than, giãi bày tình cảm của con người mà nó chính là những cảm xúc chân thành và
tình cảm thiết tha yêu cuộc sống, yêu dân tộc. Nhà thơ chính là người đại diện cho tư
tưởng, tình cảm và nói thay tiếng nói của dân tộc Mông.
3.2.1. Sự tiếp thu, ảnh hưởng dấu ấn của văn học dân gian
Sức sống của thơ ca dân gian lan tỏa đến từng người, từng nhà, từng bản làng thôn
xóm, từng vùng miền nên vấn đề ảnh hưởng văn hóa, văn học dân gian là hết sức bình
thường. Đối với dân tộc Mông có cả kho tàng thơ ca dân gian vì thế sự tiếp thu chọ lọc
mang đến những cái mới lạ cho thơ ca Hmông hiện đại
Thơ ca dân tộc Mông mang đậm chất dân ca truyền thống. Việc vận dụng các hình
thức diễn đạt dân gian, có khi là các nhà thơ đã mượn nguyên hình thức diễn đạt của
dân ca như một cách viết lời của những làn điệu dân ca truyền thống của người Mông.
Lời thơ như thỏ thẻ tâm tình, nhẹ nhàng như giai điệu được toát lên qua những câu thơ:
“Vòm trời trên mây quang
Vòm trời dưới sao sáng
Mùa xuân này ta còn gặp nhau
Cuộc hát giao duyên này ta còn có bạn
Khéo rồi mai mình đi đường mình ta đi đường ta mau
Đôi ta chẳng còn được lấy tay che mắt nhìn nhau”
( Hội Xuân – Mã A Lềnh)
nên đối câu thơ, đối đoạn thơ nhằm nhấn mạnh nội dung và nghệ thuật. Có thể thấy qua
bài thơ “ Đợi chờ” của Hùng Đình Quý, bài thơ dài 42 khổ, khổ ít nhât 4 câu và dài nhất
26 câu. Cả bài thơ là hình thức đối của “Anh trai Mông” và “Em gái Mông” với một
giọng điệu sâu lắng. Hình thức đối đã thấy được nội dung hay và ý nghĩa đẹp của bài
thơ.
Ngoài kết cấu đối đáp thì thơ ca Mông còn tiêu biểu với kết cấu trùng điệp, nó là
một hình thức nghệ thuật tiêu biểu trong thơ hay còn có kết cấu “đánh rơi”. Đó là sự lặp
lại chi tiết, hình ảnh, câu thơ, hay diện mạo, nội tâm và hành động nhân vật trữ tình. Sử
dụng kết cấu này tùy thuộc vào mức độ đậm nhạt của mỗi tác giả. Đây là sự kế thừa tinh
hoa truyền thống dân tộc vì thơ ca dân gian rất hay sử dụng kết cấu này:
Bố mẹ sinh ra em nổi tiếng xinh đẹp
Ta thường lấy núi đồi làm thang bắc lên thăm
Bố mẹ sinh ra em lừng danh tươi giòn
Ta thường lấy núi đồi làm thanh bắc lên hỏi
( Dân ca Mông)
Lối kết cấu này tạo nên mạch nguồn cảm xúc thi ca, nó như một sự khẳng định, nhấn
mạnh vấn đề. Sự lặp lại từ ngữ nhưng đều có sự biến đổi nên không bị nhàm chán, đơn
điệu ngược lại nó còn làm cho câu thơ thêm phần sinh động thấy rõ hơn ý đồ nghệ thuật
của tác giả.
3.2.3.Tính trần thuật