MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình thực hiện sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, nhờ có
đường lối đúng đắn và sự nhiệt tình hưởng ứng của nhân dân mà đất nước ta
đã có nhiều bước tiến quan trọng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Kinh tế tăng trưởng và phát triển với tốc độ cao, chính trị được ổn định, nhiều
mặt của đời sống xã hội được lành mạnh hóa. Đất nước thoát khỏi sự khủng
hưởng về kinh tế và đã đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Bên cạnh những thành tựu to lớn đạt được trong quá trình đổi mới,
những năm gần đây, do tác động của các nguyên nhân khách quan và chủ
quan, một bộ phận cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính
trị, đạo đức, lối sống làm ảnh hưởng đến uy tín, năng lực lãnh đạo, sức chiến
đấu của Đảng. Đại hội X của Đảng chỉ rõ: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng
chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, giáo điều, bảo thủ, chủ
nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận không
nhỏ cán bộ, đảng viên còn diễn ra nghiêm trọng...”.
Tình trạng đó đang có tác động tiêu cực tới công cuộc đổi mới ở nước
ta, để có một quan niệm đúng đắn về chính trị, về tư tưởng chính trị, về suy
thoái tư tưởng chính trị và tìm ra những biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao
phẩm chất chính trị của toàn dân nói chung, của cán bộ, đảng viên nói riêng
trở thành đòi hỏi bức thiết của cuộc sống hiện nay.
Suy thoái về tư tưởng chính trị diễn ra ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều
lĩnh vực với phạm vi rộng và tính chất phức tạp làm giảm lòng tin của nhân
dân. Có thể nói rằng, tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị hiện nay ở một bộ
phận đảng viên làm cho lòng dân không yên, đe dọa sự tồn vong của Đảng,
chế độ ta. Do vậy phòng chống, khắc phục sự suy thoái về tư tưởng chính trị
của một bộ phận cán bộ đảng viên là cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng, nhân dân Việt Nam.
1
dựa trên môn khoa học Cơ sở lý luận công tác tư tưởng và một số bài viết
đăng trên tạp chí và các báo.
3.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài dựa trên phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của
chủ nghĩa Mác – Lênin, đồng thời sử dụng các phương pháp như: thống kê,
phân tích, điều tra, tổng hợp, tiếp cận thu thập thông tin…
4. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
đề tài gồm 2 chương
3
NỘI DUNG
Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN SUY THOÁI TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ VÀ NHỮNG
BIỂU HIỆNCỦA SỰ SUY THOÁI TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ
1.1. Khái niệm về sự suy thoái tư tưởng chính trị
Theo từ điển tiếng Việt thì suy thoái là ở tình trạng suy yếu và kém sút
dần, có tính chất kéo dài. Như vậy có nghĩa là suy thoái tình trạng giảm sút,
sút kém dần những phẩm chất, chất lượng so với những chuẩn mực tốt nhất
đã đạt được. Sự suy thoái ít khi lên “cơn cấp tính” mà thường diễn ra từ từ,
thầm lặng, trong một quá trình lâu dài nên không dễ biết. Suy thoái thường
xảy ra từ một hoặc vài bộ phận, từ một nhóm người nào đó rồi lan dần ra, kéo
bộ phận khác suy yếu theo. Do vậy suy thoái là quá trình biến đổi ngày càng
xấu đi về lượng, từ từ dẫn đến sự biến đổi về chất, là sự biến mất, tan rã,
chuyển hóa từ chất này sang chất khác theo chiều hướng ngày càng xấu hơn.
Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII nhận định:
“Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, tình trạng tham nhũng, quan liêu, lãng phí
phí, tùy tiện, vô nguyên tắc...”. Tình trạng này “... làm giảm sút lòng tin của
nhân dân đối với Đảng; nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai
trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ”2. Do vậy, Trung ương yêu
cầu phải “… kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư
tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng
viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh
đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của đảng viên và của nhân dân
đối với Đảng”.
Trong nội dung Nghị quyết 04 -NQ/TW khóa XII đã chỉ rõ biểu hiện
suy thoái thuộc 3 nhóm tư tưởng - chính trị, đạo đức - lối sống, và những biểu
hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ. Theo đó suy thoái về tư
tưởng - chính trị bao gồm:
1) Phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục
tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
5
2) Xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng; không kiên định con đường
đi lên chủ nghĩa xã hội; phụ hoạ theo những nhận thức lệch lạc, quan
điểm sai trái.
3) Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học
tập lý luận chính trị; lười học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước.
4) Không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; sa sút
ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong công tác; né tránh trách nhiệm,
thiếu trách nhiệm, trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém
hiệu quả; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn chức
trách, nhiệm vụ được giao.
THOÁI VỀ TƯ TƯỞNG - CHÍNH TRỊ CỦA MỘT BỘ PHẬN CÁN BỘ
ĐẢNG VIÊN
2.1. Thực trạng
Nhìn một cách tổng thể, trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu,
trưởng thành và lãnh đạo cách mạng, hơn 86 năm qua Đảng ta luôn giữ vững
bản lĩnh chính trị, bản chất cách mạng và khoa học; kiên định chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội;
thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn và ngày càng lớn mạnh. Dưới sự lãnh
đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng, nhân dân ta đã giành được hết thắng lợi
này đến thắng lợi khác, lập nên những kỳ tích trong thế kỷ XX. Trong thời kỳ
đổi mới, Đảng đã lãnh đạo đất nước vượt qua khó khăn, thách thức và đạt
được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, thực hiện thắng lợi hai nhiệm
vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; giữ vững ổn định chính trị; phát
triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước; tăng cường quốc phòng - an ninh; mở rộng quan hệ đối ngoại, nâng cao
vị thế của nước ta trên trường quốc tế; củng cố niềm tin của nhân dân đối với
Đảng. Đảng ta xứng đáng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đất nước
ta chưa bao giờ có được cơ đồ và vị thế như ngày nay. Đó là kết quả sự nỗ lực
phấn đấu không ngừng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó có sự hy
sinh quên mình và đóng góp quan trọng của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Chúng
ta có quyền tự hào về bản chất tốt đẹp, truyền thống anh hùng và lịch sử vẻ
vang của Đảng ta - Đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, đại biểu của dân
tộc Việt Nam anh hùng.
Việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI về xây dựng Đảng đã
tạo được những chuyển biến tích cực trong hệ thống chính trị. Quá trình tự
phê bình và phê bình đã góp phần đấu tranh với những suy nghĩ và hành vi sai
trái nhằm cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe, từng bước ngăn chặn, đẩy lùi tham
8
kinh tế, tổng công ty. Nhiều tổ chức đảng, đảng viên còn hạn chế trong nhận
thức, lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn
"tự diễn biến", "tự chuyển hoá"; việc đấu tranh, phản bác những luận điệu sai
trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất
mãn chính trị còn bị động, thiếu sắc bén và hiệu quả chưa cao. Trong khi đó,
sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới "tự diễn biến", "tự
chuyển hoá" chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường,
có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại
lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.
Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên làm giảm sút vai trò lãnh đạo của
Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với
Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe doạ sự tồn vong của Đảng và chế độ.
2.2. Nguyên nhân
Tình hình trên có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó,
nguyên nhân chủ quan là chủ yếu.
a) Nguyên nhân khách quan:
Tác động từ khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội trên thế giới sau sự sụp
đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu; từ mặt trái của kinh
tế thị trường, những hoạt động lợi dụng sự phát triển của khoa học công nghệ
thông tin, toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế.
Những khó khăn, thách thức của các nước đi theo con đường xã hội chủ
nghĩa trong bối cảnh quốc tế hiện nay; nhiều vấn đề mới, phức tạp phát sinh
từ thực tiễn nhưng chưa được lý giải và xử lý kịp thời, hiệu quả.
Các thế lực thù địch, phản động đẩy mạnh thực hiện chiến lược "diễn
biến hoà bình", lợi dụng các vấn đề "dân chủ", "nhân quyền", dân tộc, tôn
giáo và những yếu kém, sơ hở, mất cảnh giác của ta để xuyên tạc, bóp méo
tình hình; cổ suý cho lối sống hưởng thụ, thực dụng, ích kỷ, cá nhân chủ
nghĩa; đồng thời, cấu kết với các phần tử cơ hội và bất mãn chính trị hoạt
những tập thể, cá nhân tổ chức thực hiện nghị quyết sáng tạo, có hiệu quả và
xử lý nghiêm những tập thể, cá nhân không thực hiện hoặc thực hiện không
nghiêm túc.
11
Việc nghiên cứu, sửa đổi, ban hành cơ chế, chính sách, luật pháp thích
ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa kịp thời. Tổ
chức bộ máy còn cồng kềnh, chồng chéo, hoạt động kém hiệu lực, hiệu quả.
Cơ chế kiểm soát quyền lực chậm được hoàn thiện, còn nhiều sơ hở. Thiếu cơ
chế để xử lý, thay thế kịp thời những cán bộ lãnh đạo, quản lý yếu về năng
lực, giảm sút uy tín, trì trệ trong công tác, kém hiệu quả trong phòng ngừa,
đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực. Chậm ban hành quy định xử lý tổ
chức, cá nhân có biểu hiện suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá".
Đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ còn nể nang, cục bộ. Một số cơ chế,
chính sách trong đề bạt, bổ nhiệm cán bộ chưa công bằng; chính sách tiền
lương, nhà ở chưa tạo được động lực cống hiến cho cán bộ, công chức.
Việc thực hiện kỷ cương, kỷ luật của Đảng chưa nghiêm, còn có biểu
hiện "nhẹ trên, nặng dưới". Công tác quản lý cán bộ, đảng viên còn thiếu chặt
chẽ. Nguyên tắc tập trung dân chủ ở nhiều nơi bị buông lỏng; nguyên tắc tự
phê bình và phê bình thực hiện không nghiêm, chưa có cơ chế để bảo vệ
người đấu tranh phê bình. Sự phối hợp giữa công tác kiểm tra, giám sát của
Đảng với công tác thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử chưa chặt chẽ,
xử lý chưa đủ nghiêm minh. Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng,
lãng phí chưa đạt yêu cầu; việc kê khai tài sản, thu nhập còn hình thức.
Chưa chủ động và thiếu giải pháp phù hợp để định hướng thông tin
trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và công nghệ thông tin, mạng xã hội
phát triển mạnh mẽ. Việc quản lý thông tin còn lỏng lẻo, thiếu giải pháp đủ
mạnh để đấu tranh có hiệu quả với các thông tin sai lệch, phản bác lại những
luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội và bất
về tư tưởng chính trị của một một bộ phận cán bộ, đảng viên như:
2.3.1 Coi trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng, vận dụng sáng
tạo và phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh
Thường xuyên làm tốt công tác giáo dục, rèn luyện đội ngũ đảng viên.
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu, tự giác, tích cực học tập, không ngừng
nâng cao trình độ mọi mặt, giữ gìn phẩm chất đạo đức cách mạng, tư cách
người đảng viên. “Mọi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ chủ chốt, phải
13
có kế hoạch thường xuyên học tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị... Lười
học tập, lười suy nghĩ, không thường xuyên tiếp nhận những thông tin mới,
những hiểu biết mới, cũng là biểu hiện của sự thoái của Đảng, pháp luật chính
sách của Nhà nước.
Tăng cường giáo dục lý luận chính trị cho đảng viên, cán bộ chủ chốt
các cấp, các ngành, bồi dưỡng nhận thức, lập trường, quan điểm và năng lực
vận dụng Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, tạo sự thống nhất
cao trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội đối với Cương lĩnh, đường lối của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; xây dựng nội bộ vững mạnh, củng
cố vững chắc bên trong là chính, lấy “thế trận lòng dân” làm nền tảng.
Các cấp, các ngành, các địa phương, đơn vị, cơ quan, đoàn thể cần chủ
động triển khai có hiệu quả đấu tranh trực tiếp trên mặt trận tư tưởng, lý luận.
Sử dụng và phát huy hiệu quả các phương tiện của công tác tư tưởng đấu
tranh phê phán những quan điểm tư tưởng, lý luận phản động, sai trái của các
thế lực thù địch, không để lây lan và tác động xấu trong xã hội.
Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn hoạt động tập hợp lực lượng, móc nối
trong ngoài, không để công khai hoá, quốc tế hoá các tổ chức chính trị đối lập
trong nước chống Đảng, Nhà nước.
2.3.2. Triển khai Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương
đạo đức Hồ Chí Minh” gắn với thực hiện tốt cuộc vận động xây dựng,
động, kịp thời cung cấp, định hướng thông tin cho cán bộ, đảng viên và nhân
dân, giữ vững ổn định chính trị - xã hội. Khắc phục tình trạng vô kỷ luật, dân
chủ cực đoan, lợi dụng dân chủ để gây rối. Chủ động có các phương án ngăn
chặn và làm thất bại âm mưu lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”,
“tôn giáo”, “dân tộc” để gây rối chính trị của các thế lực thù địch.
Củng cố, mở rộng tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam cùng với các tổ chức thành viên, thực sự phát huy vai trò là cơ sở chính
trị của chính quyền nhân dân, là nơi phối hợp hành động của các tầng lớp
nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; tham gia
với Đảng và Nhà nước thực hiện quyền dân chủ, chăm lo, bảo vệ lợi ích chính
đáng của các tầng lớp nhân dân; tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, chính
15
quyền, thực hiện giám sát của nhân dân đối với hoạt động, lối sống của cán
bộ, đảng viên và các cơ quan Nhà nước; giải quyết những mâu thuẫn trong
nội bộ nhân dân.
Tiếp tục củng cố, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quan hệ của các tổ
chức đảng với tổ chức Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân để phát
huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản
lý điều hành của Nhà nước, thực hiện thành công hai nhiệm vụ chiến lược xây
dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN.
2.3.4. Đề cao tinh thần cảnh giác, chủ động phòng, chống nguy cơ
“tự diễn biến” trong cán bộ, đảng viên
Ở đây hiểu “tự diễn biến” là khái niệm chỉ sự vận động bên trong của
mọi sự vật, hiện tượng. “Tự diễn biến” có thể xảy ra trên các mặt tư tưởng
chính trị, đạo đức, lối sống. Quan trọng nhất là phải phòng, chống nguy cơ “tự
diễn biến” về tư tưởng chính trị. Song không coi nhẹ mặt đạo đức, lối sống.
Sự suy thoái nghiêm trọng về đạo đức, lối sống sẽ dẫn đến tha hoá về tư
tưởng chính trị. “Tự diễn biến” có thể có trong Đảng, trong hệ thống chính trị,
Trong tình hình hiện nay, xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư
tưởng và tổ chức là một nhiệm vụ cấp bách. Tiếp tục xây dựng hoàn thiện các
quy chế, chính sách quản lý cán bộ và công tác kiểm tra, giám sát cán bộ,
chống nguy cơ “tự diễn biến”. Do vậy, phải “chủ động phòng ngừa, đấu tranh,
phê phán những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ”; quán
triệt tư tưởng chỉ đạo chú trọng cả hai nhiệm vụ “xây” và “chống” trong đó
lấy xây dựng là chính; đồng thời, phải chủ động và có giải pháp đúng tạo ra
khả năng “miễn dịch” cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là đối
với thế hệ trẻ, là vấn đề có ý nghĩa sống còn của Đảng, của chế độ.
2.3.5. Làm tốt công tác tạo nguồn, lựa chọn, bồi dưỡng và sử dụng
cán bộ, đảng viên
Việc sử dụng, cất nhắc, đề bạt phải đúng nguyên tắc, dân chủ, công
khai. Phải vì việc để bố trí người, không vì người mà đặt việc. Chọn người có
đức, có tài để sử dụng, không vì thân quen, nể nang. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
dạy “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Các
17
đảng bộ, chi bộ cần cụ thể hóa các quy định về công tác cán bộ, phân công
cán bộ, lãnh đạo chủ chốt cần tương ứng với trình độ, năng lực, kinh nghiệm
thực tiễn, phẩm chất đạo đức, tín nhiệm... Các đảng bộ, chi bộ giới thiệu cán
bộ, đảng viên vào các vị trí lãnh đạo, quản lý phải hoàn toàn chịu trách nhiệm
trước quần chúng, cơ quan về lời giới thiệu, bảo đảm của mình. Xây dựng đội
ngũ cán bộ, đảng viên có đạo đức cách mạng trong sáng, thực sự cần, kiệm,
liêm, chính, chí công vô tư.
18
KẾT LUẬN
và có những giải pháp cụ thể kiên quyết khắc phục có hiệu quả tình trạng suy
thoái tư tưởng chính trị trong cán bộ, đảng viên là vấn đề vừa mang tính cơ
bản, vừa mang tính cấp bách ở nước ta hiện nay.
20
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB CTQG, H.2006,
tr.48
2. Giáo trình: Nguyên lý công tác tư tưởng, Khoa Tuyên truyền - Học
viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội – 2009
3. PGS, TS. Bùi Duy Quát, Công tác tư tưởng, NXB CTQG, HN –
2010
4. Hồ Chí Minh toàn tập. NXB CTQG, Hà Nội – 2002
5. Giáo dục đạo đức cho cán bộ, đảng viên trong thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. NXB CTQG, Hà Nội - 2004
6. Ban chỉ đạo TW: Đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức
Hồ Chí Minh, NXB CTQG, HN - 2007
7. Một số trang báo mạng điện tử như: dantri.net; vietnamnet;
vietnamplus…
21
MỤC LỤC
22