Nghiên cứu hình thái, cảm xúc và chỉ số vượt khó của học sinh một số Trường trung học cơ sở, Huyện Gia Viễn, Tỉnh Ninh Bình - Pdf 40

LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Mai Văn Hưng, người
đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành luận văn.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong bộ môn Sinh lý
người và động vật khoa Sinh - KTNN và phòng Sau đại học trường Đại học
sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi học tập, nghiên cứu hoàn
thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo và các em
học sinh các trường THCS Gia Tân, THCS Gia Thắng huyện Gia Viễn, tỉnh
Ninh Bình cùng tất cả bạn bè, đồng nghiệp và những người thân trong gia
đình đã giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành luận văn này.
Hà Nội, tháng 06 năm 2013.
Tác giả
Hà Văn Hoạt


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các kết quả và các số liệu nêu trong luận văn là trung thực và chưa
từng được công bố trong bất cứ công trình nào khác.
Tác giả luận văn

Hà Văn Hoạt


MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt


3.1.3. Chỉ số các vòng cơ bản của học sinh....................................... 42
3.2. Các dấu hiệu dậy thì của học sinh.................................................

49

3.2.1. Các dấu hiệu dậy thì chính thức của học sinh.........................

49

3.2.2. Các dấu hiệu dậy thì phụ của học sinh....................................

53

3.3. Trạng thái xúc cảm của học sinh theo tuổi và giới tính................. 61


3.3.1. Cảm xúc chung của học sinh theo tuổi và giới tính................

61

3.3.2. Cảm xúc về sức khỏe của học sinh theo tuổi và giới tính.......

63

3.3.3. Cảm xúc về tính tích cực của học sinh theo tuổi và giới tính.

65

3.3.4. Cảm xúc về tâm trạng của học sinh theo tuổi và giới tính…..


AQ

: Adversity Quotient (Chỉ số vượt khó )

Cs

: Cộng sự

C

: Control (Kiểm soát, điều khiển)

ĐHQG

: Đại học Quốc gia

E

: Endurance (Khả năng chịu đựng, tính nhẫn nại)

EQ

: Emotional Quotient (Chỉ số cảm xúc)

GTSH

: Giá trị sinh học

HSSH


WTO

: World Trade Organization


DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN

Tên bảng

Trang

Bảng 2.1. Phân bố đối tượng nghiên cứu...........................................................................

30

Bảng 2.2. Tiêu chuẩn về đánh giá cảm xúc........................................................................

33

Bảng 3.1. Chiều cao đứng trung bình (cm) của học sinh theo lớp tuổi và giới tính...........

36

Bảng 3.2. Cân nặng trung bình (kg) của học sinh theo lớp tuổi và giới tính............

43

Bảng 3.3.Vòng ngực trung bình (cm) của học sinh theo lớp tuổi và giới tính...................


Bảng 3.11. Tỷ lệ (%) học sinh xuất hiện lông mu theo tuổi và giới tính............................

56

Bảng 3.12. Thời điểm xuất hiện lông mu của học sinh theo giới tính...............................

58

Bảng 3.13. Tỷ lệ % học sinh xuất hiện lông nách theo tuổi và giới tính............................

58

Bảng 3.14. Thời điểm xuất hiện lông nách của học sinh theo giới tính.............................

60

Bảng 3.15. Cảm xúc chung của học sinh theo lớp tuổi và giới tính...................................

61

Bảng 3.16. Cảm xúc về sức khỏe của học sinh theo lớp tuổi và giới tính.........................

63

Bảng 3.17. Cảm xúc về tính tích cực của học sinh theo tuổi và giới tính..........................

65

Bảng 3.18. Cảm xúc về tâm trạng của học sinh theo lớp tuổi và giới tính.........................


Tên hình

Trang

Hình 3.1. Biểu đồ chiều cao đứng trung bình (cm) của học sinh theo tuổi và theo giới tính.......

37

Hình 3.2. Đồ thị biểu diễn mức tăng chiều cao đứng trung bình (cm) của học sinh theo tuổi và
theo giới tính................................................................................................................................... 37
Hình 3.3. Biểu đồ cân nặng trung bình (kg) của học sinh theo tuổi và theo giới tính..................

41

Hình 3.4. Đồ thị biểu diễn mức tăng cân nặng trung bình (kg) của học sinh theo tuổi và theo
giới tính........................................................................................................................................... 41
Hình 3.5. Biểu đồ VNTB (cm) của học sinh theo tuổi và theo giới tính....................................... 44
Hình 3.6. Đồ thị biểu diễn mức tăng VNTB (cm) của học sinh theo tuổi và theo giới tính.......... 44
Hình 3.7. Biểu đồ vòng eo trung bình (cm) của học sinh theo tuổi và theo giới tính.................... 46
Hình 3.8. Đồ thị biểu diễn mức tăng vòng eo trung bình (cm) của học sinh theo tuổi và theo
giới tính........................................................................................................................................... 46
Hình 3.9. Biểu đồ vòng mông trung bình (cm) của học sinh theo tuổi và theo giới tính.............

48

Hình 3.10. Đồ thị biểu diễn mức tăng vòng mông trung bình (cm) của học sinh theo tuổi và
theo giới tính................................................................................................................................... 48
Hình 3.11. Biểu đồ học sinh dậy thì chính thức (%) theo tuổi và giới tính...................................

50

Hình 3.24. Đồ thị biểu diễn mức giảm cảm xúc về sức khỏe của học sinh theo lớp tuổi và giới tính.

64

Hình 3.25. Biểu đồ biểu diễn cảm xúc về tính tích cực của học sinh theo tuổi và giới tính….....

66

Hình 3.26. Đồ thị biểu diễn mức giảm cảm xúc về tính tích cực của học sinh theo tuổi và giới tính.. 66
Hình 3.27. Biểu đồ biểu diễn cảm xúc về tâm trạng của học sinh theo lớp tuổi và theo giới tính

68

Hình 3.28. Đồ thị biểu diễn mức giảm cảm xúc về tâm trạng của học sinh theo tuổi và giới tính...

68

Hình 3.29. Biểu đồ biểu diễn chỉ số AQ của học sinh theo tuổi và giới tính............................... 70
Hình 3.30. Đồ thị biểu diễn mức tăng chỉ số AQ của học sinh theo tuổi và giới tính................... 70
Hình 3.31. Biểu đồ biểu diễn chỉ số C của học sinh theo lớp tuổi và theo giới tính.................... 72
Hình 3.32. Đồ thị biểu diễn mức tăng chỉ số C của học sinh theo lớp tuổi và theo giới tính........ 72
Hình 3.33. Biểu đồ biểu diễn chỉ số O của học sinh theo lớp tuổi và theo giới tính.....................

74

Hình 3.34. Đồ thị biểu diễn mức tăng chỉ số O của học sinh theo lớp tuổi và theo giới tính........ 74
Hình 3.35. Biểu đồ biểu diễn chỉ số R của học sinh theo lớp tuổi và theo giới tính...................... 76
Hình 3.36. Đồ thị biểu diễn mức tăng chỉ số R của học sinh theo lớp tuổi và theo giới tính….... 76
Hình 3.37. Biểu đồ biểu diễn chỉ số E của học sinh theo lớp tuổi và theo giới tính..................... 78
Hình 3.38. Đồ thị biểu diễn mức tăng chỉ số E của học sinh theo lớp tuổi và theo giới tính........

Hình 3.53. Biểu đồ biểu thị mối liên quan giữa VNTB và vòng eo của học sinh nữ tuổi 15........ 88
Hình 3.54. Biểu đồ biểu thị mối liên quan giữa VNTB và vòng mông của học sinh nữ tuổi 15... 89


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Đất nước ta đang trong quá trình đổi mới, nhất là trong thời điểm này
khi mà cả đất nước đang bước vào cuộc hội nhập toàn cầu WTO. Đó là một
quá trình hợp tác để phát triển, vừa là quá trình cạnh tranh kinh tế quyết liệt
giữa các quốc gia, tạo nên sự vận động phát triển không ngừng của thế giới.
Sự tác động của quá trình này đến nước ta ngày càng mạnh mẽ, điều này đã
và đang tạo ra những cơ hội phát triển chưa từng có cho đất nước, đồng thời
cũng đặt ra những thách thức to lớn về mặt chất lượng và hiệu quả giáo dục
để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Đào tạo ra những con người đáp ứng được các yêu cầu của xã hội là
nhiệm vụ của ngành giáo dục. Do vậy trong đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
IX, Đảng và Nhà nước ta đã xác định: “Tiếp tục quán triệt Giáo dục là quốc
sách hàng đầu và tạo sự chuyển biến cơ bản, toàn diện trong phát triển Giáo
dục và Đào tạo” [18]. Với mục tiêu Giáo dục toàn diện (đức, trí, lao, thể, mỹ)
cho học sinh ở mọi lứa tuổi theo hướng bồi dưỡng, nâng cao chất lượng mũi
nhọn và không ngừng thúc đẩy, nâng cao chất lượng đại trà. Hiện nay ngành
giáo dục đã và đang đổi mới nội dung chương trình, phương pháp dạy học,
trang thiết bị và cơ sở vật chất nhằm thúc đẩy nhanh quá trình đào tạo nguồn
nhân lực cho xã hội.
Tuy nhiên, sự đổi mới này chỉ có hiệu quả cao khi áp dụng đúng với
từng đối tượng học sinh, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý, năng lực nhận
thức của học sinh ở từng lứa tuổi. Thực tế cho thấy phải dựa vào những hiểu
biết về thể trạng và năng lực trí tuệ của học sinh thì mới có phương pháp đúng

phát triển của các chỉ số sinh học THCS ở độ tuổi 12 đến 15 tuổi và bước đầu
tạo cơ sở dữ liệu lưu trữ cho các trường THCS, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh
Bình.


3

- Nghiên cứu một số chỉ số hình thái bao gồm: chiều cao đứng, cân
nặng, các vòng đặc trưng (vòng ngực, vòng eo và vòng mông).
- Nghiên cứu các dấu hiệu dậy thì của học sinh:
+ Học sinh nam, nghiên cứu các dấu hiệu: thời điểm xuất tinh lần đầu,
thời điểm có mụn trứng cá, thời điểm mọc lông nách và lông mu.
+ Học sinh nữ, nghiên cứu các dấu hiệu: thời điểm có kinh nguyệt lần
đầu, số ngày của vòng kinh, số ngày hành kinh, thời điểm có mụn trứng cá,
thời điểm mọc lông nách và lông mu.
- Nghiên cứu một số chỉ số thần kinh cấp cao gồm: Chỉ số cảm xúc
(EQ) và chỉ số vượt khó (AQ).
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu học sinh đang học ở trường THCS có độ tuổi từ
12 đến 15 tại trường THCS Gia Tân và trường THCS Gia Thắng, huyện Gia
Viễn, tỉnh Ninh Bình. Tổng số đối tượng nghiên cứu là 699, trong đó có 351
học sinh nam và 348 học sinh nữ. Học sinh được nghiên cứu có sức khỏe bình
thường và không mắc bệnh mạt tính.
Phạm vi nghiên cứu: Quá trình nghiên cứu được tiến hành trên học sinh
đang học ở trường THCS Gia Tân và trường THCS Gia Thắng, huyện Gia
Viễn, tỉnh Ninh Bình.
5. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu để xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài.
- Phương pháp trắc nghiệm, thực nghiệm gồm có:
+ Nghiên cứu các chỉ số hình thái:

NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1.Những vấn đề chung về hình thái.
1.1.1.Nghiên cứu về chỉ số hình thái trên thế giới.
Sinh học cơ thể là môn khoa học ra đời từ rất sớm trong lịch sử xã hội
loài người và đang ngày càng phát triển [28]. Nghiên cứu hình thái của con
người được xem như một bộ phận quan trọng của sinh học cơ thể, nó tồn tại
và phát triển hết sức phong phú, thể hiện trên nhiều lĩnh vực như sự tăng
trưởng, phát triển, đặc trưng theo chủng tộc, giới tính [30].
Một trong số các vấn đề được nhiều người quan tâm khi nghiên cứu
con người là hình thái. Thời phục hưng các nhà giải phẫu học kiêm họa sỹ
như Leonard De Vinci, Mikenlangielo, Raphael… đã tìm hiểu rất kỹ về cấu
trúc và mối tương quan giữa các bộ phận trong cơ thể để đưa lên các tác phẩm
hội họa của mình. Mối quan hệ giữa hình thái với môi trường sống cũng được
nghiên cứu tương đối sớm mà đại diện là các nhà nhân trắc học Ludman,
Nold và Volanski.
Từ việc đo đạc các kích thước cơ thể con người có thể rút ra các kết
luận phục vụ thực tiễn hàng ngày như trong công tác điều tra y tế, các ngành
kinh tế quốc dân như: xây dựng các tiêu chuẩn kích thước người để thiết kế
các máy móc, các phương tiện sản xuất (nhà cửa, ô tô…), các phương tiện
sinh hoạt (giường, tủ, giày, dép…). Về mặt lý luận chúng cho phép chúng ta
phát hiện ra các quy luật về sự phát triển cơ thể con người, về phân loại các
dạng người và các nhóm chủng tộc loài người cũng như tìm hiểu nguồn gốc
loài người [56]. Vào đầu thế kỷ XX những nghiên cứu về thể lực trở thành
một môn khoa học thực sự với đầy đủ ý nghĩa và tính chính xác của nó.
Người đặt nền móng cho nhân trắc học hiện đại là Rudolf Martin qua hai tác


6

7

đánh giá tình trạng dinh dưỡng và phát triển thể lực của con người.
1.1.2. Nghiên cứu về chỉ số hình thái ở Việt Nam.
So với các nước trên thế giới, ở Việt Nam các nghiên cứu về hình thái
diễn ra muộn hơn đặc điểm này thể hiện ở công trình nghiên cứu đầu tiên về
sự tăng trưởng chiều cao, cân nặng trẻ em là của Mondiere vào năm 1875
[57], vào thế kỷ XX tại trường Đại học Y khoa Đông Dương (1936 – 1944)
đã xuất hiện các công trình nghiên cứu của P. Huard và A. Bigot (1938), Đỗ
Xuân Hợp (1943) [57]. Những tác phẩm này đã nêu được các đặc điểm nhân
trắc của người Việt Nam đương thời.
Từ năm 1954 đến nay, việc nghiên cứu hình thái học đã được đẩy
mạnh, chuyên môn hoá và các hội nghị cấp quốc gia, địa phương về lĩnh vực
này được tổ chức nhiều lần. Năm 1975 cuốn “Hằng số sinh học của người
Việt Nam” do GS. Nguyễn Tấn Gi Trọng chủ biên được xuất bản [58]. Đây là
công trình khá hoàn chỉnh về các chỉ số sinh học người Việt Nam ở mọi lứa
tuổi, trong đó có lớp tuổi từ 12 đến 15 tuổi. Đây là công trình nghiên cứu của
tập thể các nhà khoa học y học, đại diện cho các chuyên khoa, chuyên ngành
Y học Việt Nam [58]. Tuy nhiên, đây mới chỉ là các chỉ số sinh học của người
miền Bắc (do hoàn cảnh lịch sử). Song nó thực sự là chỗ dựa tin cậy cho các
nghiên cứu về người Việt Nam sau này [31].
Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất vào ngày 30 tháng 4 năm 1975,
việc nghiên cứu hình thái của trẻ em được nhiều tác giả thực hiện. Điển hình
là Thẩm Thị Hoàng Điệp [20] đã nghiên cứu dọc trên 101 học sinh Hà Nội từ
6 - 17 tuổi. Với 31 chỉ tiêu được nghiên cứu tác giả đã kết luận: chiều cao của
học sinh phát triển mạnh nhất với nữ 11 - 12 tuổi và ở nam 13 - 15 tuổi, còn
cân nặng phát triển mạnh nhất với nữ 13 tuổi và nam 15 tuổi. Tác giả cũng
nhận thấy rằng, quy luật phát triển theo giai đoạn chỉ phù hợp với quy luật
chiều cao, còn quy luật phát triển kích thước các vòng gần giống quy luật phát




9

niên Việt Nam lứa tuổi 14 - 18 ở nữ và 16 - 18 ở nam lớn chậm hơn so với
các lứa tuổi trước đó.
Những nghiên cứu ở các dân tộc khác nhau, có các điều kiện sống và
rèn luyện thân thể khác nhau cho thấy sự khác biệt về chủng tộc cũng là yếu
tố tác động đến hình thái của học sinh [52]. Nguyễn Quang Mai và cs [48]
năm 1998 đã nghiên cứu trên nữ sinh các dân tộc ít người cho thấy, chiều cao
và cân nặng trung bình của nữ sinh các dân tộc thiểu số tăng dần theo tuổi.
Thời điểm tăng nhanh chiều cao và cân nặng trung bình của nữ sinh dân tộc
thiểu số đến sớm hơn so với dẫn liệu trong cuốn “Hằng số sinh học người
Việt Nam” [58], nhưng muộn hơn so với học sinh Thái Bình và Hà Nội từ 1
đến 2 năm.
Năm 2000, Đào Mai Luyến [47] nghiên cứu thể lực của người Ê đê và
người Kinh định cư ở Đăk Lăk cho thấy, hình thái của người Ê đê tốt hơn của
người Kinh. Tác giả cho đây là điểm khác biệt mang tính dân tộc và do môi
trường sống ảnh hưởng nhất định tới khả năng tăng trưởng các chỉ số hình
thái. Đoàn Văn Huyền và cs cũng cho rằng, giữa cơ thể và môi trường có mối
liên quan chặt chẽ với nhau. Môi trường sống ảnh hưởng đến trao đổi chất và
điều hoà thân nhiệt nên ảnh hưởng đến các chỉ số hình thái của cá thể [46].
Ngoài ra, sự rèn luyện thể lực cũng tác động đến chiều cao, cân nặng và kích
thước một số vòng của cơ thể [51]. Các yếu tố xã hội cũng ảnh hưởng đến sự
phát triển của cơ thể, đặc biệt là ở tuổi dậy thì [60].
Trần Thị Loan [44], [45] từ năm 1999 - 2002 nghiên cứu trên học sinh
Hà Nội từ 6 - 17 tuổi đã nhận thấy, các chỉ số hình thái như chiều cao, cân
nặng, vòng ngực của học sinh lớn hơn so với kết quả nghiên cứu của các tác
giả khác từ thập kỷ 80 trở về trước và lớn hơn so với học sinh ở các tỉnh Thái
Bình, Hà Tây, ngoại thành Hải Phòng. Điều này chứng tỏ, điều kiện sống đã

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về các chỉ số hình thái của học
sinh Việt Nam khá phong phú. Các kết quả nghiên cứu gần đây về Thanh,


11

Thiếu niên Việt Nam đều cho thấy sự tăng lên đáng kể so với số liệu trong các
nghiên cứu từ những năm trước. Đặc biệt là từ sau năm 1975 đến nay khi tình
hình kinh tế, văn hoá, xã hội của nước ta có nhiều thay đổi tốt hơn chắc chắn
đã ảnh hưởng đến tầm vóc, sức khoẻ của con người Việt Nam [23]. Thanh
niên thành phố thường có các chỉ số nhân trắc tốt hơn ở nông thôn [7], [8],
[9], [10], [15], [19]. Để giải thích sự khác biệt này có tác giả [41] cho rằng,
yếu tố cơ bản làm xuất hiện hiện tượng này là chất lượng cuộc sống. Do điều
kiện sống ở thành phố được cải thiện nên Thanh niên thành phố thường có
chiều cao, cân nặng tốt hơn Thanh niên nông thôn cùng lứa tuổi.
1.1.3. Khái quát về tuổi dậy thì.
- Đặc điểm tuổi dậy thì.
Tuổi dậy thì là giai đoạn đặc biệt trong quá trình phát triển của một con
người. Đây chính là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ con thành người lớn và được
đặc trưng bởi sự thay đổi mạnh mẽ về cả thể chất, tinh thần, hành vi, tình cảm
và đặc biệt là hoạt động chức năng của hệ thống sinh sản.
Ở trẻ em nam, dưới tác dụng của hoocmon sinh dục nam (testosteron)
phối hợp cùng các hoocmon tăng trưởng khác, cơ thể phát triển nhanh, đặc
biệt khối lượng cơ thể tăng nhanh. Từ khi trẻ em sinh ra, tuyến sinh dục nam
(tinh hoàn) im lặng cho tới thời kỳ này mới bắt đầu thức tỉnh hoạt động. Tinh
hoàn bắt đầu sản sinh tinh trùng và tiết hoocmon sinh dục nam (testosteron).
Dưới tác dụng hoocmon sinh dục nam (testosteron), cơ thể lớn nhanh và xuất
hiện các đặc tính sinh dục nam thứ phát như dương vật to lên, túi tinh và
tuyến tiền liệt phát triển, cơ nở nang, da thô dày, giọng nói trầm, lông mu,
lông nách phát triển... Đứa trẻ bắt đầu có khả năng hoạt động tình dục và sinh

phát triển cơ thể từ 10- 15 tuổi và từ 12- 17 tuổi đối với nam. Đây là giai đoạn
các em có nhiều biến đổi về thể chất, sinh lý, tâm lý, sự trưởng thành và hoàn
thiện về các chức năng sinh dục dưới tác động của nhiều yếu tố: chủng tộc, các
điều kiện về tự nhiên, xã hội và kinh tế,... chuẩn bị hành trang hoà nhập vào


13

cộng đồng, thực hiện nghĩa vụ đầy đủ của người công dân.
Mốc quan trọng giai đoạn dậy thì của nam là lần xuất tinh đầu tiên, nữ
là lần có kinh nguyệt đầu tiên. Đánh dấu các em bắt đầu có khả năng sinh sản.
Sự phát triển và biến đổi về mặt tâm lý của các em như: từ tâm lý của
thiếu nhi chuyển dần sang tâm lý của người lớn, tính tình trầm lắng (nữ) mơ
mộng, có cảm giác mình không còn trẻ con nữa. Các em muốn được mọi
người cư sử như người đã lớn, muốn thoát ra khỏi những “ràng buộc” của cha
mẹ và gia đình. Thường có những xung đột với thành viên trong gia đình. Các
em muốn được thử sức, muốn khám phá, tìm tòi và thử những điều mới lạ,
thích giao tiếp trong quan hệ bạn bè cùng lừa tuổi, đặc biệt là các bạn khác
giới thích làm dáng. Bắt đầu có những quan tâm đặc biệt với bạn khác giới và
xuất hiện những cảm xúc giới tính mới lạ... [32].
- Nghiên cứu sinh lý sinh sản, sinh dục trên thế giới.
Trong hơn một nửa thế kỷ trước, các đề tài nghiên cứu về sinh lý sinh
dục và sinh sản ngày càng được quan tâm, mở rộng hơn, nhất là từ khi vấn đề
hạn chế sinh đẻ được đặt ra một cách quyết liệt trên thế giới. Ngoài ra, còn có
các công trình nghiên cứu về các hiện tượng sinh học trong sinh sản như việc
sinh noãn, sinh tinh trùng, hiện tượng thụ tinh và làm tổ của trứng đã được thụ
tinh [12]. Nhờ đó mà những hiểu biết về sinh lý học sinh sản ngày càng đạt
đến mức độ cao hơn.
Năm 1927, Aschleim & Zondek (Đức) và nhóm nghiên cứu của Smith
& Engel (Mỹ) đã độc lập nghiên cứu nhưng cùng tìm ra kết quả là: trong nước

nhiều loại động vật.
Sự biệt hóa hành vi sinh dục đã được nhà khoa học Dautchakoff nghiên
cứu đầu tiên vào năm 1930, sau đó công trình này đã được Phoenix và cs xác
nhận vào năm 1959. Quá trình biệt hóa được diễn ra trong thời kỳ phôi thai,
đó là giai đoạn tổ chức biệt hóa của vỏ não theo hướng biệt hóa đực hoặc cái.


15

Người ta đã tìm thấy trong Hypothalamus những chất tiếp nhận đặc
hiệu đối với hoocmon sinh dục. Lúc đầu người ta chỉ thấy sự gắn đặc hiệu đối
với hoocmon sinh dục tại Hypothalamus và tuyến yên. Từ năm 1953 trở lại
đây, người ta đã biết được chức năng sinh dục của hệ Limbic.
Trước năm 1970, các nhà khoa học chỉ nói tới vai trò các chất nội tiết
trong điều hòa chức năng sinh sản gồm có cơ chế thần kinh và nội tiết. Sự điều
hòa sinh sản theo cơ chế thần kinh và nội tiết được thực hiện theo nhiều bậc.
Trong hệ thống điều hoà chức năng sinh dục sinh sản, tuyến yên đóng
vai trò của bộ phận khuyếch đại hay “phát động”, Hypothalamus đóng vai trò
“điều khiển”. Còn tuyến sinh dục là yếu tố “bị điều khiển” hay cơ quan đích.
Trong vòng điều hoà ngược thì Hypothalamus trở thành yếu tố “bị điều
khiển” còn tuyến sinh dục trở thành yếu tố “điều khiển”.
Như trên đã nói, hai kích dục tố của tuyến yên là FSH và LH có vai trò
trong việc phát triển trứng, sinh tinh trùng và kích thích việc sản xuất các
hoocmon steroid của các tuyến sinh dục. Bản chất và tác dụng của các
hoocmon tuyến sinh dục đực và cái đã được nói đến trong nhiều công trình
nghiên cứu trên thế giới.
- Nghiên cứu sinh lý sinh sản, sinh dục ở Việt Nam.
Trong những năm 60 và nửa đầu thập kỷ 70, nhiều tác giả trong nước đã
nghiên cứu về tuổi có kinh lần đầu; chu kỳ kinh nguyệt của công nhân, nông
dân, học sinh nông thôn và thành thị. Những kết quả này, đã được thống kê


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status