1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ KIM DUNG Cưỡng bức tình dục trong hôn nhân - Nghiên cứu
trường hợp tại xã Gia Vượng, huyện Gia Viễn, tỉnh
Ninh Bình và phường Tứ Liên, Quận Tây Hồ, Hà Nội
6.1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 8
6.2. Phương pháp thảo luận nhóm tập
trung………………………………………………………………………………….10
6.3. Phương pháp phỏng vấn sâu 11
6.4. Phương pháp phân tích tài liệu 12
6.5. Phương pháp quan sát 12
7. NHỮNG KHÓ KHĂN GẶP PHẢI CÓ THỂ LÀM HẠN CHẾ KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU 12
7.1. Sự né tránh bàn đề chủ đề cưỡng bức tình dục trong hôn nhân 12
7.2. Hạn chế về lực lượng nghiên cứu 13
8. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU……14
9. KHUNG LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU…………………………… 15
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI…… 15
Luận văn thạc sỹ Nguyễn Thị Kim Dung 3
1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 15
2. PHƢƠNG PHÁP LUẬN…………………………………………… 157
3. CƠ SỞ LÝ LUẬN…………………………………………………….19
3.1. Các khái niệm được sử dụng trong luận văn 19
3.2. Những lý thuyết được sử dụng trong luận văn 22
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG CƯỠNG BỨC TÌNH DỤC TRONG HÔN
NHÂN 29
1. VÀI NÉT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 29
1.1. Lý do lựa chọn địa bàn nghiên cứu 29
1.2. Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu 30
2. THỰC TRẠNG CƢỠNG ÉP TÌNH DỤC TRONG HÔN NHÂN 33
2.1. Mức độ cưỡng bức tình dục trong hôn nhân 33
2.2. Tâm trạng và quan niệm của người trong cuộc – những phụ nữ đã
PHỤ LỤC………………………………………………………………… 96
Luận văn thạc sỹ Nguyễn Thị Kim Dung 5
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
“Bạo lực chống lại phụ nữ là biểu hiện của các quan hệ quyền lực
không bình đẳng về mặt lịch sử giữa nam giới và nữ giới, điều đó dẫn tới sự
thống trị và phân biệt dối xử của nam giới đối với phụ nữ và ngăn cản sự tiến
bộ mọi mặt của phụ nữ” (United Nations 1995)
Trước năm 1993, phần lớn các Chính phủ coi bạo lực chống lại phụ nữ
chủ yếu là vấn đề riêng tư giữa các cá nhân (United Nations 1996). Tuy nhiên
trong những thập kỷ gần đây, xóa bỏ tình trạng phân biệt đối xử đối với phụ
nữ đã trở thành một trong những nội dung quan trọng của cuộc đấu tranh vì
quyền con người của phụ nữ. Phụ nữ có quyền bình đẳng với nam giới trên
tất cả các lĩnh vực là nội dung được ghi nhận trong hệ thống pháp luật quốc tế
và hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới.
dục dường như ít được “quan tâm” hơn cả bởi tính chất nhạy cảm của nó.
Trong nền văn hóa Việt Nam, tình dục là vấn đề ít được các cặp vợ
chồng thảo luận một cách cởi mở. Những nghiên cứu hiện nay về phụ nữ Việt
Nam cho thấy người phụ nữ thường được mô tả là tương đối “thụ động”
trong quan hệ tình dục. Họ có vẻ chấp nhận và chịu đựng trong quan hệ tình
dục với chồng hơn là tham gia một cách chủ động trong quan hệ này. Do vậy,
cưỡng bức tình dục trong hôn nhân thường khó được nhận biết bởi nó bị che
lấp bởi những chuẩn mực đạo đức, những quan niệm về đức hạnh của phụ nữ
. Cưỡng bức tình dục không chỉ gây ra những tổn thương về mặt thể xác mà
còn gây ra những hậu quả về tinh thần đối với người phụ nữ cũng như ảnh
hưởng tới hạnh phúc gia đình.
Trên cơ sở đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Cưỡng bức tình dục trong hôn
nhân - Nghiên cứu trường hợp tại xã Gia Vượng, huyện Gia Viễn, tỉnh
Ninh Bình và phường Tứ Liên, Quận Tây Hồ, Hà Nội” làm đề tài luận văn
nhằm tìm hiểu thực trạng của vấn đề cưỡng bức tình dục trong hôn nhân tại
nông thôn và đô thị Việt Nam, nguyên nhân của vấn đề này cũng như những
hậu quả đối với người phụ nữ và cuộc sống gia đình.
Luận văn thạc sỹ Nguyễn Thị Kim Dung 7
2. Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.1. Ý nghĩa lý luận
Phòng chống bạo lực với phụ nữ trong gia đình nói chung và vấn đề
cưỡng bức tình dục trong hôn nhân nói riêng được rất nhiều ngành khoa học
và tổ chức xã hội quan tâm nghiên cứu. Việc vận dụng các kiến thức xã hội
học vào nghiên cứu chủ đề trên sẽ góp phần làm phong phú thêm lý thuyết
của khoa học xã hội học.
2.2. Ý nghĩa thực tiễn
Cưỡng bức tình dục trong hôn nhân là một vấn đề có tính “nhạy cảm”
5.2. Khách thể nghiên cứu
- Phụ nữ và nam giới đã có gia đình trong độ tuổi từ 20-55
- Nạn nhân và thủ phạm của bạo lực gia đình chống lại phụ nữ.
- Cán bộ chính quyền, đoàn thể
5.3. Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian: từ 06/2007 đến 7/2008
- Không gian: nghiên cứu chọn mẫu tại xã Gia Vượng huyện Gia
Viễn, tỉnh Ninh Bình, và phường Tứ Liên, Quận Tây Hồ, thành
phố Hà Nội.
5.4. Mẫu nghiên cứu
- 400 bảng hỏi
- 6 thảo luận nhóm với người dân, cán bộ chính quyền đoàn thể
- 26 phỏng vấn sâu với nam giới gây bạo lực gia đình, phụ nữ là
nạn nhân và nhóm cán bộ chính quyền đoàn thể.
6. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu đã sử dụng kết hợp các phương pháp định tính và định
lượng để thu thập thông tin. Các phương pháp cụ thể bao gồm:
6.1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Nhằm tìm hiểu mức độ phổ biến và nhận thức của nam giới và phụ nữ
đã lập gia đình, chúng tôi đã tiến hành phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.
Một bảng hỏi ngắn gọn với 15 câu hỏi đã được xây dựng. Việc chọn mẫu
được tiến hành như sau: Dựa trên danh sách các hộ gia đình do các cộng tác
Luận văn thạc sỹ Nguyễn Thị Kim Dung 9
viên dân số cung cấp, chúng tôi lựa chọn các gia đình có các cặp vợ chồng
trong độ tuổi cần thu thập. Sau đó, số hộ gia đình được chia đều cho số mẫu
cần lấy. Khi đã xác định được khoảng cách mẫu, chúng tôi tiếp tục lựa chọn
ngẫu nhiên có chủ đích dựa trên danh sách sao cho số nam giới và số phụ nữ
Số người (tỷ lệ)
1-5 năm
62 người (15,7%)
Luận văn thạc sỹ Nguyễn Thị Kim Dung 10
6-10 năm
84 người (21,2%)
11- 15 năm
104 người (26,3%)
16-20 năm
40 người (10,1%)
Trên 20 năm
106 người (26,7%)
Trình độ học vấn
- Cấp 1: 34 người (8,6%)
- Cấp 2: 130 người (32,8%)
- Cấp 3: 112 người (28,3%)
- Trung cấp, cao đẳng: 82 người (20,7%)
- Đại học: 30 người (7,6%)
- Sau Đại học: 8 người (2%)
Nghề nghiệp
- Nông nghiệp: 160 người (40,4%)
- Buôn bán nhỏ: 80 người (20,2%)
- Cán bộ nhà nước: 156 (39.4%)
- Nghề khác: 8 (làm việc tại công ty tư nhân) (2%)
6.2. Phương pháp thảo luận nhóm tập trung
6 cuộc thảo luận nhóm tập trung đã thực hiện tại 2 địa bàn nghiên cứu
hết các trường hợp được xác định đều là bạo lực thể xác trong gia đình. Tiếp
đó chúng tôi sử dụng phương pháp quả bóng tuyết để tiếp tục lựa chọn thêm
những người được phỏng vấn. Tức là khi phỏng vấn một nạn nhân của bạo
lực gia đình, chúng tôi hỏi họ về những trường hợp giống như họ và họ sẽ
giới thiệu cho chúng tôi trường hợp đó. Mặt khác, hai nghiên cứu viên nam
Luận văn thạc sỹ Nguyễn Thị Kim Dung 12
có kinh nghiệm cũng được mời cộng tác để phỏng vấn và điều hành các thảo
luận với nhóm nam giới.
6.4. Phương pháp phân tích tài liệu
Nhằm thu thập các thông tin liên quan đến chủ đề nghiên cứu, ngay từ
khi bắt đầu xây dựng đề cương nghiên cứu đến trước khi viết báo cáo chúng
tôi đã tiến hành thu thập các tài liệu có liên quan. Các tài liệu đó bao gồm:
- Các công trình nghiên cứu, tạp chí, kỷ yếu hội thảo của một số tổ chức
làm việc về vấn đề bạo lực trong gia đình và bạo lực tình dục, sức khoẻ
tình dục…
- Các bài viết, số liệu, công trình nghiên cứu được đăng trên các tạp chí
Khoa học như tạp chí Xã hội học, tạp chí Cộng sản, báo Gia đình Xã
hội… và các website trong nước và quốc tế trên mạng Internet
- Các báo cáo của địa bàn nghiên cứu có liên quan đến chủ đề nghiên
cứu.
6.5. Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát cũng được sử dụng trong suốt quá trình nghiên
cứu để nhằm hiểu rõ hơn các thông tin qua thái độ, cử chỉ, hành vi cũng như
môi trường và hoàn cảnh của người cung cấp thông tin.
7. NHỮNG KHÓ KHĂN GẶP PHẢI CÓ THỂ LÀM HẠN CHẾ
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
7.1. Sự né tránh bàn đề chủ đề cưỡng bức tình dục trong hôn nhân
với vợ khi đã nhận thấy vợ không mong muốn việc quan hệ đó. Việc sửa đổi
tên gọi đã cho kết quả là nam giới đã cộng tác với nhà nghiên cứu một cách
tích cực và cởi mở hơn trước đó. Tuy nhiên đối với một số trường hợp, khi
chúng tôi nhận thấy nam giới rất cởi mở, thì chúng tôi vẫn sử dụng cụm từ
“cưỡng bức tình dục trong hôn nhân”.
7.2. Hạn chế về lực lượng nghiên cứu
Ban đầu, tác giả đã mời hai nghiên cứu viên nữ cùng tham gia nghiên
cứu, tuy nhiên trong nghiên cứu thử, chúng tôi đã gặp khó khăn khi lấy thông
tin từ nam giới bởi sự khác biệt về giới tính và sự khó khăn khi bàn luận chủ
đề tình dục giữa những người khác giới. Do đó khi tiến hành nghiên cứu, hai
nghiên cứu viên nam có kỹ năng về thu thập thông tin và kinh nghiệm nghiên
Luận văn thạc sỹ Nguyễn Thị Kim Dung 14
cứu trên lĩnh vực này đã được mời tham gia hướng dẫn thảo luận và phỏng
vấn với nhóm nam giới và một nghiên cứu viên nữ cùng với tác giả phỏng
vấn nhóm phụ nữ.
Trong suốt quá trình thu thập thông tin, chúng tôi đã gặp một số trường
hợp mà người nói không cho ghi âm, không cho ghi chép, không cho hỏi lại
thông tin nếu chúng tôi không kịp nghe hoặc nhớ. Tuy nhiên vì nhóm nghiên
cứu bao giờ cũng gồm ít nhất hai người nên chúng tôi đã duy trì được các
cuộc “cùng nhớ lại” và ghi chép tương đối kết quả. Những thông tin này là
một bổ sung quý giá cho nhiều trường hợp không dùng được máy ghi âm. Nó
được chính xác hóa nhờ sự kết hợp thảo luận giữa những người trong nhóm
phỏng vấn.
8. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Khi bắt đầu tiến hành nghiên cứu, tác giả đã đặt ra các câu hỏi nghiên cứu:
- Cưỡng bức tình dục trong hôn nhân có phải là một hiện tượng phổ biến
không? Có sự khác biệt gì giữa nông thôn và thành phố? CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Theo Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO-1997), bạo lực tình dục được
nhận thấy như một vấn đề ưu tiên trong các vấn đề sức khỏe cộng đồng và
nhân quyền bởi vì vấn đề này tồn tại ở nhiều nước trên thế giới và gây ảnh
hưởng lớn đến sức khỏe của người phụ nữ. Cưỡng bức tình dục trong hôn
nhân là một hình thức bạo lực đối với phụ nữ, nó không chỉ ảnh hưởng đến
sức khỏe về mặt thể chất mà cả về mặt tinh thần. Do vậy, trên thế giới đã có
rất nhiều bài viết khoa học đề cập đến vấn đề này.
Bài báo “Bạo hành tình dục với phụ nữ: một vấn đề toàn cầu” (1999),
tác giả Randall đã nhấn mạnh rằng bạo lực tình dục nằm ở cốt lõi của mối
Bối cảnh kinh tế-xã hội
Bất bình đẳng giới
trong gia đình
Các định kiến giới liên
quan đến vấn đềtình
dục trong hôn nhân
Cƣỡng bức tình dục
trong hôn nhân
Các hành vi
bạo lực gia
đình đối với
phụ nữ
được những thông tin toàn diện về bạo lực gia đình cũng như bạo lực tình dục
trong gia đình.
Năm 1998, Lê Thị Phương Mai (Hội đồng Dân số) đã thực hiện một
nghiên cứu về bạo lực và hậu quả của nó đối với sức khỏe sinh sản. Nghiên
cứu này đã đề cập đến vấn đề cưỡng bức tình dục trong hôn nhân như là một
biểu hiện của bạo lực gia đình. Mặc dù vậy, các khái niệm cũng như cảm
nhận về cưỡng bức tình dục trong gia đình của cả hai giới không được đề cập
đến.
2
Global Forum for health research, 1999
3
Population Report, Series L, Number 11, 1999, trang 9
Luận văn thạc sỹ Nguyễn Thị Kim Dung 17
Trong nghiên cứu “Bạo lực trên cơ sở giới ở Việt Nam” do Ngân hàng
Thế giới và các nhà nghiên cứu của Viện Xã hội học thực hiện năm 1999,
khía cạnh bạo lực tình dục trong gia đình đã được đề cập đến qua các phần về
các hình thức biểu hiện của các ngược đãi liên quan đến tình dục và vấn đề
cưỡng bức làm tình. Mặc dù vậy, những nội dung này chỉ chiếm một phần rất
nhỏ trong nghiên cứu và các nhà nghiên cứu vẫn chưa chỉ rõ được quan niệm
và hành vi tình dục của nam giới, từ đó có cái nhìn toàn diện về vấn đề này.
Năm 2002, nghiên cứu về “Sự im lặng của phụ nữ và sự hòa thuận
trong gia đình: Thái độ và hành vi tình dục của phụ nữ nông thôn có gia
đình” của Vũ Song Hà-(Công ty tư vấn Đầu tư Y tế) đã phát hiện ra rằng hầu
hết phụ nữ nghĩ rằng họ không có quyền từ chối đòi hỏi tình dục của chồng
mình. Cho dù không có hứng thú hoặc nhu cầu thì họ vẫn chiều theo ý chồng
cưỡng bức tình dục trong hôn nhân xét từ quan điểm của các nhà xã hội học.
Tuy nhiên do đây là một nghiên cứu tổng hợp nên chưa các vấn đề lý giải
một cách cụ thể.
Ngoài các nghiên cứu trên, còn có nhiều bài viết về vấn đề cưỡng bức
tình dục trong hôn nhân cũng đã được đề cập trên các tạp chí chuyên ngành
(như tạp chí Xã hội học, Tạp chí Luật…), các báo cũng như trên mạng
Internet. Tuy nhiên những bài viết này phần lớn chỉ mang tính chất mô tả
thực trạng và chưa phân tích chi tiết về nguyên nhân gốc rễ cũng như đưa ra
được những giải pháp cụ thể.
2. PHƢƠNG PHÁP LUẬN
Luận văn được viết dựa trên cơ sở phương pháp luận là chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng nhìn các hiện tượng xã hội trong mối
quan hệ nhân quả: mọi hiện tượng trong xã hội không tồn tại độc lập mà luôn
tương tác, ảnh hưởng lẫn nhau. Do đó, khi nghiên cứu hiện tượng, vấn đề xã
hội cần đặt chúng trong môi trường xác định, trong sự tương tác giữa hiện
tượng, vấn đề đó với hiện tượng, vấn đề khác.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử nhìn các hiện tượng xã hội trong một quá
trình: mọi hiện tượng trong xã hội không tồn tại một cách bất biến mà luôn
luôn vận động, có sự hình thành, phát triển và tiêu vong. Do đó, khi nghiên
Luận văn thạc sỹ Nguyễn Thị Kim Dung 19
cứu một hiện tượng, vấn đề xã hội nào thì cần xem xét nó trong một quá trình
và đặt nó trong một giai đoạn lịch sử nhất định.
3. CƠ SỞ LÝ LUẬN
3.1. Các khái niệm được sử dụng trong luận văn
Gia đình
Theo điều 8 luật “Hôn nhân và gia đình” của Quốc hội nước cộng hoà
20
Bạo lực gia đình là các hành vi bạo lực xảy ra trong phạm vi gia đình,
đó là sự xâm phạm và ngược đãi về thân thể, tinh thần hay tình cảm giữa các
thành viên trong gia đình. Bạo lực gia đình là sự lạm dụng quyền lực, một
hành động sử dụng vũ lực nhằm hăm doạ hoặc đánh đập một người thân
trong gia đình để điều khiển hay kiểm soát người đó
5
Bạo lực gia đình chống lại phụ nữ
Hình thức phổ biến nhất của sự ngược đãi phụ nữ trên thế giới là “bạo
lực gia đình” hay là sự ngược đãi về thân thể, tinh thần và /hoặc về tình dục
đối với người phụ nữ gây ra bởi những người bạn tình hay đàn ông thân thiết
của họ (Heise, 1994)
Theo nhận định của Tổ chức Y tế Thế giới năm 1998: “ Phần lớn bạo
lực chống lại phụ nữ xảy ra trong gia đình và người gây ra bạo lực luôn luôn
là nam giới, thường là người chồng/người tình hoặc chồng cũ/người tình cũ,
hay những người đàn ông quen biết của phụ nữ”
6
Cƣỡng bức tình dục trong hôn nhân
Cưỡng bức tình dục trong hôn nhân có thể do chồng hoặc vợ gây ra.
Trong bài viết “Cưỡng ép tình dục trong hôn nhân” của tác giả Hoàng
Bá Thịnh, trong tạp chí Xã hội học số 4/2006, “cưỡng ép tình dục trong hôn
nhân” được hiểu phần lớn là chồng cưỡng hiếp vợ hay đôi khi được hiểu một
cách chuẩn hơn trong mối quan hệ giới: cưỡng hiếp vợ chồng. Cưỡng ép tình
dục trong hôn nhân được hiểu là những hành vi bạo lực về tình dục trong mối
quan hệ vợ chồng
7
.
bệnh tật. Sức khoẻ tình dục đòi hỏi một cách tiếp cận tích cực và nghiêm túc
đối với tình dục và các mối quan hệ tình dục, những thú vui tình dục và
những trải nghiệm tình dục an toàn và không có ép buộc tình dục
9
Bình đẳng giới
Theo điều 5, Luật Bình đẳng giới: “Bình đẳng giới là việc nam nữ có
vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của
mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về
thành quả của sự phát triển đó.” Định kiến giới
Theo điều 5, Luật Bình đẳng giới: “Định kiến giới là nhận thức, thái độ
và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của
nam và nữ”
10
Vai trò giới
8
Phan Thị Thu Hiền, “Cưỡng bức tình dục trong hôn nhân tại một vùng nông thôn Quảng
Trị”, Nhà Xuất bản Thế Giới, 2005 – Tr 16.
9
Định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2002 – http://www.who.int/repoductive-
health/gender/sexual_health.html
10
Luật Bình đẳng giới, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, năm 2006.
Luận văn thạc sỹ Nguyễn Thị Kim Dung
tập các cách ứng xử theo khuôn mẫu quy định một cách tương ứng đối với
nam hay nữ.
11
Website của Uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ, http://www.ubphunu-ncfaw.gov.vn
12
Tài liệu tập huấn Giới và Bình đẳng giới – Viện Sức khoẻ Sinh sản và Gia đình , 2007
Luận văn thạc sỹ Nguyễn Thị Kim Dung 23
Việc giáo dục vai giới theo mô hình “tam tòng tứ đức” là một ví dụ
điển hình của tác động văn hoá- xã hội và sự học hỏi đối với việc hình thành
vai giới của phụ nữ trong xã hội. Quan niệm giáo dục vai giới như vậy đã góp
phần hình thành tư tưởng “trọng nam khinh nữ” khá phổ biến trong không ít
gia đình và các cá nhân (cả nam lẫn nữ). Nhìn chung, lý thuyết này nhấn
mạnh yếu tố tâm lý- xã hội (bắt chước; giáo dục) của sự phát triển vai giới và
quan hệ giới.
Lý thuyết xã hội hoá vai trò giới được vận dụng trong luận văn để giải
thích nguyên nhân dẫn đến hiện tượng cưỡng bức tình dục trong hôn nhân, bổ
sung thêm cho cách giải thích theo mô hình sinh thái. Cưỡng bức tình dục
trong hôn nhân là một hình thức của bạo lực gia đình – một biểu hiện của sự
bất bình đẳng về quyền lực trong gia đình. Bạo lực gia đình là một hành vi
thu nhận được thông qua quan sát và giao tiếp với cá nhân và các thiết chế xã
hội. Các hành vi cũng như những động cơ ngầm ẩn bên trong thủ phạm như:
chống lại ai? làm như thế nào? ở đâu? khi nào? đều do học hỏi mà có. Bạo
lực gia đình nói chung, cưỡng bức tình dục trong hôn nhân nói riêng và sự
ủng hộ cho hành vi này đã được thủ phạm học hỏi qua quan sát trực tiếp
trong cộng đồng hoặc từ chính những người thân trong gia đình mình như bố
hoặc anh/ em trai hay bạn bè. Về phía nạn nhân, lý thuyết này có ý nghĩa
Mô hình này gồm 4 vòng tròn đồng tâm. Vòng tròn trong cùng mô tả
nhân tố sinh học và lịch sử cá nhân mà mỗi cá nhân thể hiện trong hành vi
của mình.
Vòng tròn thứ hai mô tả bối cảnh trực tiếp mà trong đó bạo lực xảy ra -
thường là gia đình hay các mối quan hệ thân quen
Xã hội
Cộng
đồng
Gia đình
Cá nhân
thủ phạm
Các chuẩn
mực thừa
nhận quyền
kiểm soát
của nam giới
đối với phụ
nữ
Sự chấp
còn là một
đứa trẻ
Uống
rượu
Nghèo đói,
tình trạng,
điều kiện kin
tế-xã hội
thấp
Có liên quan
đến các
nhóm tội
phạm
Tình trạng
đơn độc của
phụ nữ và
gia đình
Mâu thuẫn
vợ chồng
Nam giới
kiểm soát tài
sản và ra
quyết định
trong gia
đình.
Luận văn thạc sỹ Nguyễn Thị Kim Dung 25
Vòng tròn thứ ba mô tả cấu trúc xã hội và thiết chế xã hội, chính thức
14
Population Report, Series L, Number 11, 1999, trang 8