BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
PHẠM THỊ HOÀNG LAN
HÌNH TƢỢNG NGƢỜI PHỤ NỮ TRONG THƠ
NGUYỄN DUY, ĐỒNG ĐỨC BỐN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
HÀ NỘI, 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
PHẠM THỊ HOÀNG LAN
HÌNH TƢỢNG NGƢỜI PHỤ NỮ TRONG THƠ
NGUYỄN DUY, ĐỒNG ĐỨC BỐN
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Văn Nam
HÀ NỘI, 2013
LỜI CẢM ƠN
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................ 8
4. Phạm vi nghiên cứu .................................................................................... 8
5. Phương pháp nghiên cứu............................................................................ 8
6. Cấu trúc luận văn ....................................................................................... 9
7. Đóng góp của luận văn............................................................................... 9
8. Cấu trúc của luận văn ............................................................................. 10
PHẦN NỘI DUNG ......................................................................................... 11
Chƣơng 1: Hình tƣợng ngƣời phụ nữ trong thơ Việt Nam và hành trình
sáng tạo của Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn .................................................. 11
1.1. Hình tượng người phụ nữ trong thơ Việt Nam ......................................... 11
1.1.1. Thờì kỳ phong kiến ........................................................................ 11
1.1.2. Giai đoạn đầu thế kỷ XX ............................................................... 11
1.1.3. Thời kỳ kháng chiến 1945 – 1975 ................................................ 12
1.1.4. Văn học sau đổi mới ...................................................................... 13
1.2. Hành trình sáng tạo thơ Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn ............................. 14
1.2.1. Hành trình sáng tạo thơ Nguyễn Duy ............................................ 14
1.2.2. Hành trình sáng tạo thơ Đồng Đức Bốn ........................................ 26
Chƣơng 2: Hình tƣợng ngƣời phụ nữ trong thơ Nguyễn Duy, Đồng Đức
Bốn ................................................................................................................... 32
2.1. Hình tượng người bà, người mẹ ................................................................ 32
2.1.1. Hình tượng người bà ...................................................................... 33
2.1.2. Hình tượng người mẹ ..................................................................... 39
2.2. Hình tượng người vợ, người em ............................................................... 59
2.2.1. Hình tượng người em ..................................................................... 59
2.2.2. Hình tượng người yêu .................................................................... 67
2.2.3. Hình tượng người vợ .................................................................... 78
Chƣơng 3: Đôi nét về hình thức biểu hiện .................................................. 86
3.1. Thể thơ ..................................................................................................... 86
đã có nhiều người phụ nữ nổi tiếng như: Bà Trưng, Bà Triệu, Ỷ Lan... đã từng
làm cho quân giặc nhiều phen bạt vía kinh hồn. Bà Trưng đã từng:
“Hồng quần nhẹ bƣớc chinh nguyên
Đuổi ngay Tô Định dẹp yên biên thùy”
Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đã xuất hiện nhiều gương
chiến đấu hi sinh anh dũng của các chị Võ Thị Sáu, Nguyễn Thị Minh Khai,
chi Út Tịch, mẹ Tơm, mẹ Suốt...
Trên lĩnh vưc văn học nghệ thuât, giáo dục, khoa học... nhiều phụ nữ là
nhà thơ, nhà văn, họa sĩ, kĩ sư, bác sĩ, tiến sĩ tài năng như: Diệu Nhân (người
Phú Thọ) - một thiền sư, nữ sĩ thời Lý, bà Huyện Thanh Quan - một nhà thơ
2
tài hoa thế kỷ XIX và các nhà thơ như: Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm cho
tới Anh Thơ, Xuân Quỳnh, Lâm Thị Mỹ Dạ...
Trên bất kỳ lĩnh vực nào, ở giai đoạn lịch sử nào ta cũng đều bắt gặp
tên tuổi của những phụ nữ nổi tiếng, làm vẻ vang dân tộc.Cả thế giới đều tôn
vinh phụ nữ. Phụ nữ Việt Nam ở giai đoạn nào cũng luôn mang trong mình sự
hài hòa cả về vẻ đẹp bên ngoài lẫn phẩm chất bên trong, truyền thống và hiện
đại. Tất cả những điều đó đã đi vào thơ văn một cách nhẹ nhàng, tự nhiên, để
người phụ nữ đã, đang và sẽ mãi là nguồn cảm hứng vô tận cho các nghệ sĩ.
1.2. Nguyễn Duy là một nhà thơ tiêu biểu, một gương mặt thơ xuất sắc
trong nền thơ ca hiện đại Việt Nam. Xuất hiện trên thi đàn từ những năm 70
của thế kỷ hai mươi, trong chặng đường hơn 30 năm sáng tác, ông đã có
những đóng góp đáng kể cho nền thơ ca dân tộc: 12 tập thơ, 3 tập bút ký, 1
tiểu thuyết. Ông đã từng được nhận giải nhất tuần báo văn nghệ 1973, được
tặng giải thưởng A về thơ ca của Hội Nhà Văn Việt Nam năm 1985. Nhận
giải thưởng Nhà Nước về văn học nghệ thuật nam 2007.
Thơ Nguyễn Duy gắn bó máu thịt với đất nước, với cội nguồn, những
trên các báo, tạp chí: giải thưởng cuộc thi thơ báo Văn nghệ (1995), giải
thưởng cuộc thi thơ báo Văn nghệ (1998 - 2000), giải thưởng cuộc thi thơ tạp
chí Văn nghệ quân đội (1998- 2000), giải thưởng cuộc thi thơ Tầm nhìn thế kỷ
báo Tiền Phong, đặc biệt là tặng thưởng thơ hay nhất của tạp chí văn nghệ
quân đội 1998 - 2000.
Người ta bắt đầu biết đến cái tên Đồng Đức Bốn từ dạo ấy. Vườn hoa
của nghệ thuật rộng lớn không cùng, nó không có sự giới hạn về đẳng cấp,
giới tính và độ tuổi... mà sẵn sàng đón nhận mọi rung động “tinh diệu” nhất
của tâm hồn. Bởi một niềm đam mê với thi ca và cũng bởi trót duyên nợ với
đời nhiều lắm nên chẳng ngạc nhiên khi người ta gọi Đồng Đức Bốn là một
kiểu “thần đồng muộn” trong thơ.
4
1.4. Có thể thấy được rằng cả Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn đều là
những nhà thơ nhận được rất nhiều sự quan tâm của giới phê bình và sự mến
mộ của độc giả. Cả hai nhà thơ đều giành khá nhiều trang viết nhất định,
những tình cảm chân thành, bình dị mà vô cùng sâu sắc cho những người phụ
nữ, những người bà, người mẹ, người em... trong sáng tác của mình. Nhưng
trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu về thơ của Nguyễn Duy và Đồng Đức
Bốn ta thấy chủ yếu bàn về những khía cạnh như: thơ lục bát, phong cách
nghệ thuật, bản sắc thơ... còn về hình tượng người phụ nữ chưa thực sự được
nghiên cứu thành một chuyên luận cụ thể, nó chỉ được đan xen trong quá trình
tìm hiểu những vấn đề liên quan khác. Tiếp cận thơ Nguyễn Duy và Đồng
Đức Bốn từ đề tài hình tượng người phụ nữ chúng tôi mong muốn góp thêm
những hiểu biết nhất định, những điều lý thú và bổ ích tới bạn đọc.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Về thơ Nguyễn Duy, ngay từ khi xuất hiện trên thi đàn, Nguyễn
Duy đã được giới nghiên cứu phê bình quan tâm và được khẳng định như một
em, Nguyễn Quang Sáng đã khẳng định bước tiến của Nguyễn Duy, tìm ra nét
độc đáo, những nét khác biệt trong thơ anh. Có những nết khác biệt ấy là do
“có sự chuyển động trog nội tâm mà ứa ra câu chữ”. Nhờ đó mà Nguyễn Duy
“Dù ở xứ lạ vẫn bắt đƣợc cái hồn của con ngƣời và hồn của cây cỏ”. Ông
nhấn mạnh Nguyễn Duy có ưu thế trội hơn hẳn trong thể lục bát “Thơ Nguyễn
Duy không rơi vào tình trạng quen tay, mà có sự biến đổi, chuyển động trong
câu chữ”, thành công của thơ lục bát Nguyễn Duy là nhờ vào thế giới nội tâm
phong phú và năng động của chính nhà thơ.
Qua phân tích một số bài thơ cụ thể, Nguyễn Quang Sáng đi tới nhận
xét: “Nguyễn Duy vẫn sáng tác với bản sắc riêng của mình, không biến dạng,
không pha tạp ở hoàn cảnh sống, dù ở đề tài chiến trận hay đề tài tình yêu
con ngƣời, quê hƣơng thì cũng cùng chung cái gốc nhân bản và tâm hồn nhân
hậu...”, “Nguyễn Duy viết đều và có chất lƣợng về quá khứ, hiện tại, về chiến
6
tranh và tình yêu, về quê hƣơng gốc gác và những ngƣời thân đều thống nhất
từ trong tâm tƣởng, trong mối giao lƣu giữa hiện thực với văn hóa cội
nguồn”.
Chu Văn Sơn trong bài viết Nguyễn Duy thi sĩ thảo dân, tạp chí Nhà
văn số 3 năm 2003 đã nói nhiều hơn đến vấ đề tư duy thơ Nguyễn Duy, anh đi
từ quan niệm nghệ thuật của thơ Nguyễn Duy “tôi là dân vậy tôi tồn tại”. Và
có thể thấy “Nguyễn Duy là thi sĩ thảo dân ngay từ quan niệm nhân sinh và
nghệ thuật” và quan niệm ấy đi suốt chặng đường thơ anh càng về sau càng
sắc nét. Theo Chu Văn Sơn, Nguyễn Duy coi chân thành là cứu cánh, cứu tinh
của mình. Những vần thơ của anh là “tâm tình ở đằng sau tâm tình”. Những
vần thơ đánh thức lương tri, dám nói thẳng nói thật không hề né tránh Đánh
thức tiềm lực, Nhìn từ xa tổ quốc, Kim - Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ. Cái tôi tự
họa chân thành đến mức không hề làm duyên làm dáng, không nề hà những
sâu sắc và mang thần thái riêng rõ rệt - đó cũng chính là cốt lõi tạo nên một
phong cách.
Đáng chú ý hơn cả là bài viết của Nguyễn Đăng Điệp Đồng Đức Bốn
phiêu du vào lục bát. Dẫu chưa đi sâu một cách toàn cục nhưng Nguyễn Đăng
Điệp đã chú trọng vào thể loại thành công nhất trong thơ Đồng Đức Bốn - thể
loại lục bát, để từ đó tìm hiểu bí quyết tồn tại của thể loại truyền thống này
trong thơ ca hiện đại, qua đó đánh giá cao tài năng cũng như sự kỳ công của
thi nhân trên hành trình ghi dấu ấn riêng cho tho mình. Những tìm tòi về nội
dung và hình thức nghệ thuật trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn cũng đặc biệt
được Nguyễn Đăng Điệp chú ý. Nội dung không mới nhưng nó lại được biểu
đạt bằng một phong cách hiện đại, chất trí tuệ triết lý, cách sử dụng ngôn từ
tinh quái, lối nói dân gian, những phi lý ngẫu nhiên mang tính chất “thần
hứng”... đã tạo nên dư âm riêng trong phong cách thơ của Đồng Đức Bốn. Và
dường như Nguyễn Đăng Điệp và Nguyễn Huy Thiệp đã gặp nhau ở sự tán
8
đồng khi cho rằng đây là thời đại của những người làm thơ lục bát như Đồng
Đức Bốn.
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài là nghiên cứu hình tượng người phụ nữ trong thơ
Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn, qua đó làm rõ cảm hứng sáng tác của 2 tác
giả về người phụ nữ Việt Nam và những đặc điểm nổi bật của họ được đề cập
dến trong thơ Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn, góp phần khiến độc giả có thêm
những hiểu biết nhất định về nội dung thơ của 2 tác giả.
Qua việc nghiên cứu, đề tài mong muốn bồi đắp thêm tình yêu mến, tự
hào về vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam, sự cảm thông và thấu hiểu những
vất vả, nhọc nhằn mà họ phải trải qua trong cuộc sống.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
thấy được những cảm hứng chung khi viết về người phụ nữ và những nét
riêng ở 2 nhà thơ này.
Ngoài các phương pháp trên chúng tôi còn kết hợp một số phương pháp
khác như: phương pháp cấu trúc, phương pháp ký hiệu học, phương pháp liên
văn bản, phương pháp nghiên cứu văn hóa...
7. Những đóng góp mới của luận văn
Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn được coi là những nhà thơ khá tiêu
biểu ngay từ khi mới xuất hiện trên thi đàn. Thơ của 2 tác giả này cũng đã
được nghiên cứu từ nhiều khía cạnh: phong cách nghệ thuật, thơ lục bát, bản
sắc thơ... chủ yếu là tiếp cận từ hướng thi pháp, tư duy nghệ thuật, còn
phương diện nội dung đặc biệt là hình tượng người phụ nữ trong thơ của họ
thi chưa được nghiên cứu sâu. Bởi vậy luận văn của chúng tôi hy vọng góp
thêm một hướng nghiên cứu mới, khai thác từ phương diện nội dung thơ của
2 tác giả này.
Trong những năm trở lại đây, đã có khá nhiều sáng tác của Nguyễn
Duy được đưa vào giảng dạy trong nhà trường trong đó cũng có những tác
phẩm viết về hình tượng người phụ nữ. Chính vì thế mà nhu cầu tìm hiểu về
10
thơ Nguyễn Duy và các tác giả cùng thời với ông như Đồng Đức Bốn một
cách sâu sắc là điều rất cần thiết. Để đáp ứng nhu cầu này, luận văn của chúng
tôi cố gắng tìm ra những nét đặc sắc trong cảm hứng về người phụ nữ của thơ
Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và Tài liệu tham khảo, cấu trúc luận
văn dự kiến sẽ triển khai thành 3 chương:
Chƣơng 1: Hình tượng người phụ nữ trong thơ Việt Nam và hành trình
sáng tạo của Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn.
Hơn 100 năm sau, hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trong văn học dưới
ngòi bút của các nhà thơ có cách nhìn nhận khác, không còn thấy những tiếng
than thân trách phận, những lời thơ đau buồn...Người phụ nữ Việt Nam trong
12
văn học hiện đại trở về với nét đẹp giản dị đời thường và những công việc lo
toan thường nhật. Hẳn trong mỗi chúng ta không ai quên được hình ảnh người
mẹ với:
" Nét cƣời đen nhánh sau tay áo
Trong ánh trƣa hè trƣớc giậu thƣa"
(Lưu Trọng Lư)
Ta lại càng không thể quên được nét đằm thắm, dịu dàng của người mẹ
"khuyên vành áo thắm, áo the nâu" trong Đƣờng về quê mẹ - Đoàn văn Cừ.
Và tiêu biểu hơn cả, chúng ta thấy hình ảnh người mẹ thôn quê được hiện lên
rất chân thực trong thơ Nguyễn Bính với nét đẹp của người mẹ Việt Nam
truyền thống tảo tần, đảm đang, giàu lòng yêu thương và đức hi sinh. Ai như
mẹ trong ngày tết biết lo toan và vun vén như thế này?
" Giết lợn, đồ xôi lại giết gà
Cỗ bàn xong cả từ hôm qua
Suốt đêm giao thừa mẹ tôi thức
Lẩm nhẩm cầu kinh Đức Chúa Ba"
(Tết của mẹ tôi)
1.1.3. Thời kỳ kháng chiến 1945- 1975
Trong không khí của cuộc kháng chiến sục sôi và dưới ánh sáng của lý
tưởng mới, hơn bao giờ hết hình ảnh người phụ nữ hiện lên với vẻ đẹp mớivẻ đẹp của những người được giải phóng, được tháo ra khỏi vòng cương tỏa
của lễ giáo phong kiến để hòa mình vào công cuộc chung của đất nước. Đó là
những cô thanh niên xung phong trên tuyến lửa Trường Sơn:
" Em đứng bên đƣờng nhƣ quê hƣơng
Chiều bồn chồn chảy tím dòng sông
Chiều dát bình minh theo đƣờng viền núi
Ráng chiều nung nấu màu chờ đợi
Ơi chiều khẩu đội tôi say
(Chiều khẩu đội)
16
Cong cong võng bạt anh nằm
Khuyên lên nền lá vành trăng lƣỡi liềm
(Võng trăng)
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc Việt Nam đã
khơi dậy nguồn cảm hứng lớn lao cho văn học nói chung và cho thơ ca chống
Mỹ nói riêng. Tập thơ Cát trắng ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt như thế nên
nó cũng mang âm hưởng chung của dân tộc và thời đại:
Thắng rồi trận đánh thọc sâu
Lại về với mái tăng bầu trời vuông
(Bầu trời vuông)
Trong Cát trắng, ta thấy tác giả còn thể hiện một tình yêu nước sâu
sắc. Tình yêu ấy được cụ thể hoá qua tình yêu với quê hương, với từng căn
hầm lánh nạn mà tác giả thấy trên đường hành quân, với mỗi mảnh đất, mỗi
con người mà tác giả đã đi qua…
Cần chi ở tháng ở năm
Trú chân một lát hay nằm một đêm
Một đời không thể nào quên
Lòng dân - chiếc mộc vững bền che ta.
(Hầm chữ A)
Trong tập thơ Cát trắng ta thấy nhiều bài có sự khẳng định chủ nghĩa
anh hùng cách mạng, sự khẳng định sức mạnh dân tộc, nhân dân như: Tre Việt
Bài thơ đã diễn tả được nỗi đau khôn tả của nhân dân ta trong cuộc
kháng chiến chống Mỹ. Đồng thời nó cũng khẳng định ý chí quật cuờng,
quyết tâm đứng lên đánh đuổi giặc Mỹ xâm lược và tinh thần sống bất diệt
của cả dân tộc Việt Nam.
Bên cạnh việc khẳng định chủ nghĩa anh hùng cách mạng, khẳng định
sức mạnh dân tộc nhân dân, tập thơ Cát trắng còn khẳng định sự gắn bó cá
nhân và cộng đồng, tình quân dân, tình đồng chí: Hơi ấm ổ rơm, Bát nƣớc
18
ngô của ngƣời mẹ Việt ở Cam Lộ, Lời ấm áp nói từ trong gió lạnh,… Đây
cũng là một trong những nội dung quan trọng biểu hiện cảm hứng sử thi của
thơ ca Nguyễn Duy thời kỳ này nói riêng và thơ ca chống Mỹ nói chung.
Bài Hơi ấm ổ rơm là một trong những bài thơ hay về tình quân dân
trong thời kỳ chống Mỹ. Bài thơ là dòng tâm sự chân tình, nhỏ nhẹ, sâu lắng
nhưng tầm tư tưởng lại vút lên xen lẫn niềm tự hào của anh bộ đội. Tình cảm
của nhân dân đối với anh bộ đội thật đặc biệt, sẵn sàng che chở cho bộ đội
trong mọi hoàn cảnh. Nhà thơ - người chiến sĩ cảm thấy hạnh phúc, tự hào.
Nhà thơ kết thúc tác phẩm bằng một triết lý:
Hạt gạo nuôi hết thảy chúng ta no
Riêng cái ấm nồng nàn nhƣ lủa
Cái mộc mạc lên hƣơng của lúa
Đâu dễ chia cho tất cả mọi ngƣời.
(Hơi ấm ổ rơm)
Nếu hai bài thơ Hơi ấm ổ rơm, Bát nƣớc ngô nói về tình quân dân thắm
thiết, tình nghĩa thì bài thơ Lời ấm áp nói từ trong gió lạnh lại nói về tình
đồng chí tương thân tương ái, chia ngọt sẻ bùi cùng nhau trong mọi hoàn
cảnh:
Hai thế hệ chia nhau cái rét tập đoàn
nghiệp thi ca của Nguyễn Duy thêm một lần toả sáng. Đó là giải A cùng với
Hoa trên đá của Chế Lan Viên trong giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam.
Tập thơ Ánh trăng chỉ có khoảng 30 bài nhưng diện đề tài khá rộng. Ánh
trăng đã bao quát được hầu khắp các vùng của đất nước. Cùng chung một cái
gốc nhân bản và một tâm hồn nhân hậu, thế mà ở thơ Nguyễn Duy, mỗi khu
vực địa lý vẫn có những nét khác nhau. Đồng bằng Bắc bộ hiện ra sau một
khúc dân ca, hoặc một luỹ tre. Hàm súc và gợi cảm biết bao, là những câu thơ
về ruộng đồng miền bắc: