hình tượng người phụ nữ trong thơ trữ tình việt nam thế kỷ xviii xix - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Hoàng Thịnh

HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ
TRONG THƠ TRỮ TÌNH VIỆT NAM
THẾ KỶ XVIII - XIX

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2012


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Hoàng Thịnh

HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ
TRONG THƠ TRỮ TÌNH VIỆT NAM
THẾ KỶ XVIII - XIX

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 34

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS. NGUYỄN KIM CHÂU

1. Lý do chọn đề tài .................................................................................................1
2. Lịch sử vấn đề .....................................................................................................2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .......................................................................3
4. Phương pháp nghiên cứu .....................................................................................4
5. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ......................................................................5
6. Kết cấu của luận văn ...........................................................................................6
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ THƠ TRỮ TÌNH VIẾT VỀ NGƯỜI PHỤ
NỮ TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM ..........................................7
1.1. Khái quát về thơ trữ tình trung đại ...............................................................7
1.1.1. Khái niệm thơ trữ tình ...........................................................................7
1.1.2. Đặc điểm và sự phát triển của thơ trữ tình trung đại ............................9
1.2. Hình tượng người phụ nữ trong thơ trữ tình Việt Nam trước thế kỷ XVIII
...........................................................................................................................24
1.2.1. Hình tượng người phụ nữ trong thơ trữ tình thế kỷ X - XIV ..............24
1.2.2. Hình tượng người phụ nữ trong thơ trữ tình thế kỷ XV - XVII ..........28
1.3. Sự phát triển phong phú và đa dạng của thơ trữ tình viết về người phụ nữ
thế kỷ XVIII - XIX ............................................................................................38
1.3.1. Sự phong phú về tác giả và tác phẩm..................................................38
1.3.2. Sự phong phú về kiểu loại nhân vật ....................................................40
1.3.3. Sự đa dạng trong cách thể hiện ...........................................................44
1.3.4. Nguyên nhân phát triển .......................................................................49
CHƯƠNG 2. CHÂN DUNG NGƯỜI PHỤ NỮ52 TRONG THƠ TRỮ TÌNH
THẾ KỶ XVIII - XIX .........................................................................................52
2.1. Vẻ đẹp và tài năng của người phụ nữ.........................................................52
2.1.1. Vẻ đẹp của người phụ nữ ....................................................................52
2.1.2. Tài năng của người phụ nữ .................................................................60
2.2. Số phận của người phụ nữ..........................................................................65
2.2.1. Sắc đẹp và tài năng bị vùi dập tàn phai, mai một ...............................65


những bước tiến đáng kinh ngạc về cả nội dung và nghệ thuật. Trong đó, thơ trữ
tình có chỗ đứng riêng vững chắc do ảnh hưởng của thời đại với sự xuất hiện của
nhiều danh gia kiệt tác.
Thơ trữ tình xuất hiện từ rất sớm trong tiến trình văn học nước nhà (thậm chí,
đã có những biểu hiện rõ nét của chất trữ tình trong ca dao của người Việt xưa) và
đạt được những thành tựu nhất định qua từng thời kỳ. Hình thức và nội dung thơ
cũng ngày một phát triển phong phú theo hướng hoàn thiện, cách tân mới mẻ. Mười
thế kỷ đầy sóng gió của lịch sử nước nhà cũng là khoảng thời gian văn học chịu
nhiều biến động, thăng trầm. Thay đổi đáng ghi nhận là sự mở rộng nội dung về
phía đời sống, đưa văn học ngày càng gần gũi, gắn bó với quần chúng. Cùng với đó,
các nhân vật nữ cũng xuất hiện trong thơ trữ tình với tần suất ngày một nhiều hơn
theo chiều dọc tiến trình văn học viết (đặc biệt là ở bộ phận thơ Nôm từ nửa sau thế
kỷ XVIII). Người phụ nữ đã xuất hiện trong văn học viết (bao gồm trong thơ trữ
tình) ngay từ những thế kỷ đầu và ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò của
mình, góp phần hoàn chỉnh diện mạo văn học dân tộc.
Thơ của các nhà văn trung đại biểu hiện cách nhìn, cách cảm, cách suy nghĩ
của họ đối với những vấn đề trong cuộc sống, thế nên, thơ trữ tình trung đại đều ít
nhiều có biểu hiện của “cái tôi”, của việc định hình phong cách tác giả. Tìm hiểu
“Hình tượng người phụ nữ trong thơ trữ tình Việt Nam thế kỷ XVIII - XIX”, chúng
tôi mong muốn được đi sâu vào đặc trưng thể loại thơ trữ tình Việt Nam (về cả nội
dung và đặc điểm nghệ thuật) thế kỷ XVIII - XIX, khai thác hình ảnh người phụ nữ
để có cái nhìn đa chiều, đa diện về cuộc sống của một bộ phận người trong xã hội
Việt Nam thời bấy giờ.


2

2. Lịch sử vấn đề
Văn học gắn liền với dân tộc và chặng đường phát triển kinh tế - văn hóa - xã
hội của nước nhà, yếu tố thời đại đã tác động mạnh mẽ đến số phận và quá trình

văn hóa có đề cập đến “Sáng tác thơ ca thời cổ và sự thể hiện “cái tôi” tác giả”
(tr.80) và “Sự thể hiện con người trong văn chương cổ” [36, tr.101], “Trào lưu chủ
tình của văn học Việt Nam thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX và dấu vết ảnh hưởng của
sách Thế thuyết tân ngữ” [36, tr.523] nói đến vai trò của “cái chủ quan”, cách thức
thể hiện “cái tôi” của nhà Nho trong thơ ca.
Trong quyển Văn học Việt Nam - Văn học trung đại (Những công trình
nghiên cứu) do Lê Thu Yến chủ biên đã tập hợp một số công trình nghiên cứu có
liên quan đến các tác giả mà chúng tôi khảo sát trong luận văn như những bài viết:
Thơ Bà Huyện Thanh Quan - Niềm vui và nỗi buồn (Trần Thị Băng Thanh), Văn
chương cô Xuân Hương (Hoàng Ngọc Phách), Góp thêm một tiếng nói trong việc
đánh giá thơ Hồ Xuân Hương (Đặng Thanh Lê), Tìm hiểu ý thức tư tưởng chủ đạo
trong thơ Hồ Xuân Hương (Nguyễn Nghiệp), Nhà thơ dòng Việt, Bà chúa thơ Nôm
(Xuân Diệu). Việc tìm hiểu về những nhà thơ và sự nghiệp sáng tác của họ tạo nên
tính hệ thống cho công trình nghiên cứu.
Nhìn chung, đây là vấn đề đã được đề cập riêng lẻ khi khảo sát tác phẩm của
một số nhà thơ tiêu biểu nhưng chưa có một công trình có hệ thống khảo sát trên
bình diện chung để thấy được toàn bộ diện mạo của người phụ nữ thơ ca giai đoạn
này. Qua việc tìm hiểu đề tài Hình tượng người phụ nữ trong thơ trữ tình Việt Nam
thế kỷ XVIII - XIX, chúng tôi hy vọng góp thêm những hướng nghiên cứu mới, cách
tiếp cận mới về mảng thơ ca trữ tình Việt Nam trung đại.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Những sáng tác văn học Việt Nam trong thế kỷ XVIII và XIX hết sức đồ sộ
ở nhiều thể loại khác nhau với đề tài, nội dung lẫn hình thức biểu hiện phong phú,
đa dạng. Đề tài Hình tượng người phụ nữ trong thơ trữ tình Việt Nam thế kỷ XVIII XIX giới hạn khảo sát những bài thơ trữ tình dung lượng ngắn (ở các thể thơ: tứ
tuyệt, bát cú, trường thiên) có sự xuất hiện của người phụ nữ (bao gồm cả bộ phận
thơ chữ Hán và chữ Nôm) trong cả tiến trình văn học Việt Nam trung đại, nhưng


4



bát cú, trường thiên, đồng thời tìm hiểu những biểu hiện của yếu tố trữ tình trong
các dạng thơ này.
Phương pháp phân tích - so sánh: Tìm hiểu những đặc trưng của thơ
Đường, của thơ ca dân gian Việt Nam để có một cái nhìn khái quát về tiến trình văn
học trung đại. Đồng thời, xem xét những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển văn
học viết nói chung, thơ trữ tình thế kỷ XVIII - XIX nói riêng, từ đó thấy được quá
trình phát triển trong mối tương quan nhiều mặt.
Phương pháp tâm lý học: Tìm hiểu tâm lý học sáng tác để có cái nhìn rõ nét
về cách thể hiện hình ảnh người phụ nữ, cách lựa chọn dạng thức thơ phù hợp trong
thể loại thơ trữ tình của các tác giả trung đại Việt Nam thế kỷ XVIII - XIX. Bên
cạnh đó, tìm hiểu tâm lý học tiếp nhận để có cái nhìn tổng quan trong việc tiếp nhận
văn học qua sự đánh giá của nhiều thành phần độc giả khác nhau.
Phương pháp hệ thống: Đặt các tác phẩm nghiên cứu vào hệ thống thể loại
thơ để làm nổi bật đặc trưng thể loại, liên hệ tác phẩm với các tác phẩm của cùng
tác giả hoặc các tác phẩm có liên quan để có sự tiếp nhận, đánh giá một cách khách
quan về các tác phẩm nghiên cứu.
Phương pháp tổng hợp: Sưu tầm và tìm hiểu các tác phẩm trong mối tương
quan thời đại để có cái nhìn chính xác về sự phát triển của thơ trữ tình và hình
tượng người phụ nữ trong văn học Việt Nam trung đại.
Trong quá trình nghiên cứu, các phương pháp này không hoàn toàn tách rời
mà kết hợp lẫn nhau, bổ sung và hỗ trợ cho nhau để làm sáng tỏ vấn đề đặt ra.
5. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Với đề tài “Hình tượng người phụ nữ trong thơ trữ tình Việt Nam thế kỷ
XVIII - XIX”, trước hết, chúng tôi hy vọng đóng góp được một cái nhìn tương đối
bao quát và toàn diện về hình tượng người phụ nữ trong thơ trữ tình thế kỷ XVIII XIX ở cả phương diện nội dung và nghệ thuật, bởi từ trước đến nay, mảng thơ này
tương đối ít được đề cập đến hoặc nếu có cũng chỉ là nội dung thơ của một vài tác
giả tiêu biểu. Quá trình tìm hiểu về hình tượng người phụ nữ từ thế kỷ X - XVII sẽ





7

Chương 1. KHÁI QUÁT VỀ THƠ TRỮ TÌNH
VIẾT VỀ NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
1.1. Khái quát về thơ trữ tình trung đại
1.1.1. Khái niệm thơ trữ tình
Văn học Việt Nam trung đại từ thế kỷ X đến hết XIX là một chặng đường dài
với sự thay đổi, phát triển nhiều mặt được thể hiện qua những tác phẩm của một lực
lượng sáng tác đông đảo bao gồm nhiều thành phần. Tỉ lệ thuận với sự phong phú
trong nội dung là sự phát triển về hình thức của tác phẩm văn học. Riêng với những
sáng tác thơ, sự phát triển hình thức thể hiện ở cách tác giả sáng tạo ra những hình
thức phù hợp với nội dung muốn chuyển tải, tạo ra những thể tài mới từ nguồn
nguyên liệu cũ (những cái sẵn có).
Thuật ngữ “thơ trữ tình” được chúng tôi sử dụng để giới hạn, làm rõ đối
tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài. Khái niệm “thơ trữ tình” là một khái niệm
hiện đại, bởi các nhà thơ trung đại chưa bao giờ gọi thơ mình là “thơ trữ tình”. Thơ
trữ tình trung đại Việt Nam phong phú về thể thơ, phần lớn được các tác giả “làm
trong các dịp tiễn tặng, họa thơ người khác, đề thơ làm kỷ niệm, tức cảnh, tức sự,
thư sự, tức là làm thơ theo sự đòi hỏi, khêu gợi của ngoại cảnh. Và khi muốn bộc lộ
nỗi lòng thì họ gọi là “Ngôn hoài”, “Thuật hoài”, “Ngôn chí”, “Tự tình”, “Tự
thuật”, “Mạn thuật”, “Trần tình”. Những tên gọi này rất đáng chú ý. “Chí”,
“tình”, “hoài”, “sự”, “cảnh”… là nội dung trữ tình, còn “thuật”, “ngôn”, “tự”,
“trần”… là cách trữ tình. “Thuật” là kể, “tự” cũng là kể, “ngôn” là nói ra, là
tuyên bố cho mọi người biết, “trần” là bày tỏ. Có thể xem đó là những dấu hiệu đặc
trưng của ý thức trữ tình truyền thống: trữ tình bằng cách thuật kể nỗi lòng mình,
cảm xúc, chí hướng của mình” [32, tr.170-171].
Con người trong thơ trữ tình được đặt trong hệ tọa độ của cuộc sống đời
thường, phản ánh tâm tư tình cảm con người bình thường với vai trò bình thường

vần chứ không tuân theo niêm luật bằng trắc nhưng vẫn đảm bảo tính nhạc điệu của
thơ) và thơ Đường luật miêu tả trực tiếp chân dung người phụ nữ hoặc gián tiếp thể
hiện tình cảm của các tác giả đối với người phụ nữ.
Như vậy, theo đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài, có thể định nghĩa
thơ trữ tình trung đại là những bài thơ có dung lượng ngắn từ vài câu cho đến hàng
trăm câu ghi nhận cảm xúc, bộc lộ suy nghĩ, tâm trạng và chí hướng của tác giả.


9

Thơ trữ tình là một bộ phận quan trọng cấu thành tổng thể của nền văn học
trung đại Việt Nam rực rỡ thành tựu. Trải qua mỗi thời kỳ, thơ trữ tình cùng với
những thể loại văn học khác luôn luôn vận động và phát triển theo hướng phát triển
của lịch sử dân tộc, từng bước thoát ra khỏi tầm ảnh hưởng của văn chương Trung
Hoa, khẳng định bản sắc dân tộc đậm nét.
1.1.2. Đặc điểm và sự phát triển của thơ trữ tình trung đại
Văn học Việt Nam trung đại được xác định cột mốc từ thế kỷ X đến hết thế
kỷ XIX bao gồm hai bộ phận lớn là bộ phận văn học chữ Hán và bộ phận văn học
chữ Nôm. Ở cả hai bộ phận ấy, thơ trữ tình phát triển một cách phong phú và đa
dạng về cả nội dung lẫn hình thức. Hầu hết các tác giả trung đại đều có sáng tác thơ
trữ tình, số lượng lẫn chất lượng thơ được ghi nhận với một lực lượng sáng tác đông
đảo, hùng hậu.
1.1.2.1. Đặc điểm và sự phát triển của thơ trữ tình trong văn học thượng
kỳ trung đại
Giai đoạn thượng kỳ trung đại là giai đoạn hết sức quan trọng, đóng vai trò
nền móng cho toàn bộ nền văn học Việt Nam. Đây là thời kỳ văn học Việt Nam
phát triển trong quá trình hoàn chỉnh dần những đặc trưng về nội dung và hình thức
nghệ thuật dân tộc cổ truyền, trên cơ sở tiếp thu ảnh hưởng của văn hóa văn học
nước ngoài. Tính chất nền móng sẽ quy định hệ thống cấu trúc cũng như quy mô,
phương hướng phát triển của văn học sau này.

Điện Bắc đà đà yên phận tiên”
(Bảo kính cảnh giới VI - Nguyễn Trãi)
Đây “là giai đoạn thịnh đạt của văn chương bác học theo thể chế, khuôn
thước Đường Tống, gồm thơ, phú và rất ít văn. Thơ, phú phát triển mạnh và có
những thành tựu cao, văn chính luận cũng vậy, nhưng cổ văn theo khuôn khổ
Đường Tống bát đại gia thì cực kỳ hiếm” [33, tr.135]. Nghĩa là, so với phú, kí và
các thể loại văn chính luận như chiếu, biểu, hịch, cáo… thì thơ trữ tình giai đoạn
này không thua kém cả về số lượng và chất lượng.
Từ thế kỷ X đến đầu thế kỷ XIII, thơ trữ tình tồn tại chủ yếu dưới hình thức
những bài kệ của các thiền sư thể hiện cảm hứng vô vi theo tư tưởng Phật giáo:
Nam quốc sơn hà (Lý Thường Kiệt), Đáp quốc vương quốc tộ chi vấn (Pháp Thuận
thiền sư), Vương lang quy từ (Ngô Chân lưu), Thị đệ tử, Tật lê trầm Bắc thủy (Vạn


11

Hạnh thiền sư), Cáo tật thị chúng (Mãn Giác thiền sư), Sinh lão bệnh tử (Diệu Nhân
ni sư), Thị tật (Quảng Nghiêm thiền sư), Đáp Từ Đạo Hạnh vấn chân tâm (Kiều Trí
Huyền), Thất châu (Đạo Hạnh thiền sư), Cảm hoài (Kiều Phù), Quy thanh chướng
(Phan Trường Nguyên), Quy tịch (Bảo Giác)… và thơ chịu ảnh hưởng của tư tưởng
thiền (thơ thiền): Thị chư Thiền lão tham vấn Thiền chỉ (Lý Thái Tông), Truy tán
Vạn Hạnh thiền sư, Tán Giác Hải thiền sư, Thông Huyền đạo nhân (Lý Nhân
Tông), Tặng Quảng Trí thiền sư, Điệu Chân Không thiền sư (Đoàn Văn Khâm), Sắc
không (Lê Thị Ỷ Lan)… Thơ thiền là một mảng sáng tác nổi bật của văn học
thượng kỳ trung đại. Các tác giả cảm nhận sự toàn vẹn của thế giới, của vũ trụ, của
tự nhiên trong mối giao hòa, đồng điệu với con người. Mọi cảm xúc, cảm giác diễn
ra tự nhiên được cô đúc lại bằng ngôn từ hàm súc, người viết cảm nhận bằng tâm và
người đọc cũng tiếp nhận bằng tâm. Ở đây, tính chất phi ngã của văn chương Việt
Nam trung đại bộc lộ hết sức rõ nét:
- “Sự trục nhãn tiền quá

Vô gia mẫn thử thân”
(Cảnh đẹp lại ngày đầu năm,
Thương thân vì nước xa xăm quê nhà)
(Nguyên nhật giang dịch - Lê Cảnh Tuân)
- “Trí chúa hữu hoài phù địa trục,
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà”
(Giúp chúa những lăm giằng cốt đất,
Rửa dòng không thể vén sông mây)
(Cảm hoài - Đặng Dung)
Nửa đầu thế kỷ XV lực lượng sáng tác (hầu hết là các nho sĩ) có nhiều biến
động do tình hình lịch sử - xã hội của đất nước. Một số nhà nho có thái độ tích cực,
tham gia vào cuộc kháng chiến và xây dựng đất nước khi kháng chiến thắng lợi như
Nguyễn Trãi, Nguyễn Mộng Tuân, Lý Tử Tấn, Đào Công Soạn, Nguyễn Thiên
Tích, Phan Phu Tiên, Lê Thiếu Dĩnh… một số khác không chịu cộng tác với giặc
nên đã chọn giải pháp ẩn dật, lánh đời như Nguyễn Húc, Lý Tử Cấu, Vũ Mộng
Nguyên… Tác phẩm của các tác giả này khá phong phú về thể loại (phú, cáo, thơ).
Thơ trữ tình có thể kể đến: Ức Trai thi tập (Nguyễn Trãi), Chuyết Am thi tập (Lý Tử
Tấn), Cúc Pha thi tập (Nguyễn Mộng Tuân), Vị Khê thi tập (Vũ Mộng Nguyên), Hạ


13

Trai thi tập (Lý Tử Cấu), Tiết Trai thi tập (Lê Thiếu Dĩnh), Trúc Khê thi tập (Trình
Thanh)… Đặc biệt, thơ Nôm thời kỳ này có bước tiến mới với Quốc âm thi tập (còn
lại 254 bài thơ) của Nguyễn Trãi sử dụng hoàn toàn chữ Nôm với ý thức vận dụng
tính chất độc đáo của ngôn ngữ dân tộc để nêu cao bản sắc Việt Nam:
- “Tay ai thì lại làm nuôi miệng,
Làm biếng ngồi ăn lở núi non”
(Bảo kính cảnh giới, XXII )
- “Ngõ tênh hênh, nằm cửa trúc,

“tâm vật cảm ứng”. Trong kiểu tác giả này, “việc “ngôn chí” được nêu lên hàng
đầu, như một yêu cầu tu dưỡng, khẳng định lý tưởng, lẽ sống. Nhà Nho coi trọng
tính độc lập của nhân cách theo lời dạy của Khổng Tử: “Chí ư đạo, cứ ư đức, y ư
nhân, du ư nghệ”, nghĩa là: chí hướng về đạo, dựa vào đức, nương theo nhân, tìm
thú vui trong lễ, nhạc, xạ, ngự, thư, số. Đặc biệt đề cao khí tiết thanh cao, mạnh
mẽ” [32, tr.106]. Thơ ngôn chí thiên về khẳng định chí hướng, lí tưởng, hoài bão,
tấm lòng; mang tính chất tuyên ngôn, công bố lập trường, thái độ có tính chất lí
tính.
Vắng bóng cái tôi trữ tình cá thể là một nguyên tắc thi pháp và là một cách
thể hiện nghệ thuật của thơ ca trung đại. Đây là một biểu hiện của cấu tứ thơ Đường
Trung Hoa - trọng quần thể nhẹ cá thể - các nhà thơ khéo léo ẩn giấu cái tôi cá nhân
đi mà đứng trên một lập trường tách biệt để phát biểu, cũng có nghĩa là các tác giả
không phát ngôn với tư cách cá nhân mà phát ngôn với tư cách cộng đồng, nói
những vấn đề của cộng đồng. “Ai cũng mong “chở đạo đi xa” thu nhỏ cá nhân
mình lại và tránh phải đưa ra những ý kiến riêng tư độc đáo của mình. Cái tôi trữ
tình, thậm chí cái ta đạo lý ít nhiều đều bị hạn chế” [33, tr.32]. Thơ ca trung đại
mang tính chất vô ngã, các nhà thơ trung đại có ý thức giấu đi bản ngã bởi theo
quan niệm của các nhà thơ thời bấy giờ, cái tôi càng ẩn kín thì thơ càng hàm súc,
gợi mở. Thơ trữ tình giai đoạn này cũng không nằm ngoài sự chi phối của đặc điểm
trên.
Tính chất phi ngã trong văn học còn là để thực hiện chức năng giáo hóa, tính
chất giáo huấn. Để làm tốt nhiệm vụ “tải đạo”, “ngôn chí” các tác giả thường chú
trọng đến việc nêu bật đạo lý thánh hiền, cố gắng xóa nhòa cá nhân mình để tạo ra
sức lan tỏa, tính đại chúng cho tác phẩm. “Lời thơ trong thơ trung đại không nhấn


15

mạnh chủ ngữ, ít có dấu giọng, ngữ điệu lời nói rất hiếm khi xuất hiện” [12, tr.157].
Do sự thiếu vắng của chủ thể trữ tình, hình tượng tác giả trong thơ trữ tình trung đại


Nam hóa để làm giàu thêm truyền thống văn hóa của chúng ta” [36, tr.29]. Văn học
nước ta đã tạo được nét đặc sắc bởi sự sáng tạo từ trong chính những ảnh hưởng đó.
Ngay trong giai đoạn thế kỷ X - XV, các tác giả đã bước đầu thấy được tác dụng
nhận thức cuộc đời từ quan niệm “Văn dĩ tải đạo” trong văn học:
“Nhân gian thử cảnh thùy miêu đắc
Tá dữ thi ông vị tả chân”
(Cảnh nhân gian này ai vẽ nên được
Hãy để cho nhà thơ mượn để tả chân)
(Tầm Mai kiều ngoạn nguyệt - Phạm Nhữ Dực)
Sự thâm nhập của văn học Trung Quốc dẫu đã tạo nên ảnh hưởng toàn diện
và to lớn đến hầu hết các mặt của một tác phẩm văn học nhưng các tác giả đã dần có
ý thức thoát ra khỏi những ảnh hưởng đó để tạo ra một nền văn chương mang đậm
bản sắc dân tộc. Quá trình tiếp thu và thay đổi để phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh
của dân tộc đó “là điều hiếm thấy trong quan hệ giao lưu văn hóa giữa các dân
tộc” [36, tr.27]. Tuy khẳng định văn học Việt Nam trung đại chịu ảnh hưởng hết
sức sâu đậm từ văn học Trung Hoa nhưng cũng không thể phủ nhận những nỗ lực,
những đóng góp tích cực để sáng tạo cái mới song song với việc tiếp thu cái đã có
của các tác giả trung đại Việt Nam. Đây là một trong những yếu tố mang tính chất
quyết định diện mạo và tiến trình văn học Việt Nam.
“Nước Việt Nam ta lấy văn hiến dựng nước, thi ca thai nghén từ đời Lý,
thịnh vượng ở đời Trần, dấy lên rầm rộ vào thời Hồng Đức triều Lê. Một bộ phận
Toàn Việt thi lục về cổ thể thì không nhường thi ca đời Đường, Tống, Nguyên,
Minh… nhả ngọc phun châu thật đáng coi là “thi ca chi bang”.
Lội qua bến bờ của Trình Hạo, Chu Hy, vượt lên vương quốc của Khuất
Nguyên Tống Ngọc, đi vào cung thất của Y Doãn, Chu Đán, ra khỏi con đường của
Lý Bạch, Đỗ Phủ…” (Bài tựa trong Tinh sà kỉ hành của Phan Huy Ích) [37, tr.29].
Có thể nói, về nội dung, thơ trữ tình thế kỷ X - XV chủ yếu xoay quanh các
vấn đề: đề cao tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc; ảnh hưởng rõ nét của triết lý
Thiền tông (tư tưởng Phật giáo); các tác giả có xu hướng sáng tác nhằm thể hiện chí

buộc về nhiều mặt, văn học giai đoạn này có điều kiện phát triển phong phú cả về
nội dung và hình thức. Với những thành quả đáng tự hào về cả số lượng và chất
lượng tác phẩm, văn học dần trưởng thành theo từng chặng đường lịch sử của dân


18

tộc. Văn học từ sau thế kỷ XV mà đặc biệt là văn học thế kỷ XVIII - XIX được
đánh giá là bước chuyển mình quan trọng, đưa văn học Việt Nam chuyển từ thời kỳ
trung đại sang hiện đại.
Nhu cầu bộc lộ tình cảm riêng tư, ý thức cá nhân của các nhà thơ trỗi dậy
mạnh mẽ (thể hiện qua nội dung tác phẩm). Bên cạnh bộ phận thơ chữ Hán vẫn
đang tiếp tục phát triển, thơ Nôm Đường luật với những bước đầu thể nghiệm ở
cuối giai đoạn thượng kỳ trung đại (từ nửa sau thế kỷ XVIII trở đi) đã có bước phát
triển và dần đạt đến độ hoàn thiện. Với những sáng tác của các tác giả nổi bật:
Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Công Trứ,
Phan Văn Trị, Trịnh Doanh, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương… thơ Nôm Đường
luật đã có một bước phát triển vượt trội, chiếm vị trí chủ đạo với sự xuất hiện của
nhiều danh gia - kiệt tác, tạo được một chỗ đứng vững chắc trong tiến trình văn học
dân tộc.
Từ khoảng thế kỷ XVI đến nửa đầu thế kỷ XVIII, chủ đề cơ bản của văn học
là khẳng định nhà nước phong kiến, đồng nghĩa với khẳng định chính quyền, đạo
đức, lễ giáo… phong kiến. Thế nhưng, bên cạnh khuynh hướng ca ngợi nhà nước
phong kiến một cách tuyệt đối thì văn học đã xuất hiện một khuynh hướng khác phê
phán những yếu kém, suy đồi của nhà nước phong kiến. Tuy nhiên, phê phán không
phải để phủ nhận xã hội phong kiến mà mục đích của việc phê phán này là để xã hội
phong kiến khắc phục những ung nhọt đang có, trở lại thời cực thịnh như lúc trước.
Cũng chính do quan niệm của Nho giáo thừa nhận cái chung mà không thừa nhận
cái riêng, thấy nghĩa vụ và bổn phận của con người, thấy đạo đức mà không thấy
cuộc sống nên văn học những thế kỷ này vẫn chưa xây dựng được những hoàn cảnh

Nguyễn Cư Trinh (Hà Tiên thập vịnh, Đạm Am thi tập, Quảng Ngãi thập nhị cảnh),
Mạc Thiên Tích (Hà Tiên thập vịnh)… Thơ đi sứ phong phú với rất nhiều thi tập
của các tác giả: Nguyễn Quý Đức, Nguyễn Đình Sách, Đặng Đình Tướng, Nguyễn
Kiều, Đinh Nho Hoàn, Nguyễn Công Hãng, Nguyễn Tông Khuê…
- “Hà tất sơn trung minh nhiên hảo,
Phù sinh thiên nhật kỷ phân âm”
(Việc gì phải ở trong rừng và ngủ kỹ,
Nghìn ngày ở cõi phù sinh đáng mấy phân âm)
(Dạ ẩm - Phùng Khắc Khoan)


20

- “Bạc vàng là của trữ tiêu dùng,
Thành thị vốn đua tranh giành giật”
(Thơ Nôm, bài 69 - Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Nửa cuối thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX, thành tựu của thơ trữ tình được
ghi nhận bởi một đội ngũ sáng tác đông đảo, hùng hậu, giàu vốn sống và trải
nghiệm: Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Phạm Thái,
Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ… Nhiều
tập thơ chữ Hán đặc sắc của Phạm Nguyễn Du, Ngô Thì Sĩ, Ngô Thế Lân, Nguyễn
Du, Cao Bá Quát, Tùng Thiện Vương… xuất hiện và gây được tiếng vang. Xuân
Hương thi tập của Hồ Xuân Hương được xem là thành tựu xuất sắc nhất của dòng
thơ Nôm Đường luật cuối thế kỷ XVIII bởi nội dung sắc sảo mang tính chất thời
đại, nghệ thuật điêu luyện vượt bậc. Khoảng cuối thế kỷ XVIII trở đi cũng là thời
gian “những cảm xúc suy ngẫm chân thành ít nhiều bao hàm yêu sách dân chủ và
nhân bản” [30, tr.464] được gieo mầm trong thơ Nguyễn Du, Nguyễn Huy Tự,
Đoàn Thị Điểm, Phạm Thái, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ,
Nguyễn Khuê, Dương Khuê… góp phần tạo nên sự bùng nổ của “cái khát vọng
thành thực” trong phong trào thơ mới sau này.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status