Tiểu luận cao học môn các chuyên đề kinh tế kinh tế tri thức và vấn đề đẩy mạnh công CNH hđh ở việt nam liên hệ với thực tế phát triển ở TP thái nguyên - Pdf 40

MỞ BÀI
Nếu như thế kỷ XX trong lịch sử Việt Nam là “thế kỷ của những biến
đổi to lớn và sâu sắc, thế kỷ đấu tranh gian nan oanh liệt giành lại độc lập
tự do thống nhất Tổ quốc, thế kỷ của những chiến công và thắng lợi có ý
nghĩa lịch sử và thời đại” (1), thì bước vào thế kỷ XXI sứ mệnh thiêng liêng
của toàn dân tộc chúng ta là phải tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Là một quốc gia có truyền thống dựng nước và giữ nước lâu đời, có quá
trình liên tục đấu tranh để vươn lên làm chủ cuộc sống trước thiên nhiên
khắc nghiệt và nhiều thế lực ngoại xâm hung bạo, bản thân lịch sử dân tộc
Việt Nam chính là những bài học vô cùng quý báu để giáo dục cho thế hệ
trẻ lòng yêu nước, tinh thần tự lực tự cường, khát vọng vươn lên vượt khó
để xứng đáng với quá khứ hào hùng và vinh quang của thế hệ đi trước. Hơn
thế nữa, sức mạnh của tri thức lịch sử không chỉ giới hạn ở chỗ giúp cho
những thế hệ hôm nay, ngày mai có hiểu biết đầy đủ về qúa khứ, mà còn
làm cho người đang sống có ý thức về xã hội, biết suy nghĩ cảm thụ những
gì đã xảy ra trong qúa khứ để có trách nhiệm với hiện tại và trong tương lai.
Sau 20 năm đổi mới thế và lực của đất nước ta đã mạnh hơn nhiều, tuy
"từng bước phát triển" nhưng một số thành phần của kinh tế tri thức như
công nghệ thông tin, in-tơ-nét, điện thoại di động... trong giai đoạn 2005 2010 đã phát triển khá nhanh. Nhiều nước phát triển như Trung Quốc, Hàn
Quốc, Phần Lan, Ấn Độ... biết kết hợp phát triển kinh tế tri thức đều đạt tốc
độ tăng trưởng kinh tế khá cao. Do đó, tranh thủ thời cơ mà bối cảnh quốc
tế tạo ra, kết hợp nội lực với các thuận lợi bước đầu về phát triển kinh tế tri
thức Vì vậy em quyết định chọn đề tài “Kinh tế tri thức và vấn đề đẩy
mạnh công CNH-HĐH ở Việt nam. Liên hệ với thực tế phát triển ở
TP.Thái Nguyên” để làm đề tài nghiên cứu của mình.

1


NỘI DUNG


thức của Ngân hàng thế giới. Trong nền kinh tế mới, kinh tế tri thức sản
xuất chủ yếu dựa vào nguồn lực tri thức. Tài nguyên và vốn dù quan trọng
vẫn chỉ giữ vai trò thứ yếu.
Như vậy, trong tiến trình lịch sử phát triển của nhân loại con người là
động vật duy nhất có năng lực sáng tạo tri thức, do đó biết lao động sản
xuất và tiến dần tới nền kinh tế dựa vào tri thức là chính. Bởi vậy, kinh tế
tri thức là một lịch sử tất yếu.
Cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, khoảng từ giữa thế kỷ XX,
dựa trên những tri thức sáng tạo, đi sâu vào thế giới vĩ mô và thế giới vi
mô, dẫn tới sự phát minh ra các máy móc, thuộc loại hoàn toàn mới, gọi là
máy móc thông minh. Điển hình là máy điện toán, mô phỏng được những
chức năng chủ yếu của não người: biết nhớ, biết tính toán kể cả các bài
toán rất phức tạp, biết thực hiện các lệnh, biết tư vấn cho người dùng trong
một số việc..., đóng vai trò chính trong các hệ tự động hóa toàn phần của
sản xuất và trong các mạng thông tin toàn cầu. Máy móc thông minh kết
hợp với tri thức sáng tạo trở thành nguồn lực của các công nghệ cao như:
công nghệ thông tin hoặc công nghệ thông tin và truyền thông, công nghệ
sinh học, công nghệ vật liệu tiên tiến - nano..., trong đó công nghệ thông tin
và truyền thông giữ vai trò dẫn đầu. Hệ thống công nghệ cao là cốt lõi của
lực lượng sản xuất mới. Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất mới
đã thúc đẩy hình thành nền kinh tế tri thức trong nửa sau của thế kỷ XX.
1.2. Kinh tế tri thức và vấn đề công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước
a). Định hướng của Đảng cộng sản Việt nam về phát triển kinh tế
Học thuyết hình thái kinh tế xã hội của Mác về sự vận động và phát
triển xã hội bao gồm 4luận điểm cơ bản:
Thứ nhất: sản xuất vật chất là nền tảng cơ sở của đời sống xã hội
Thứ hai: quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất.
Thứ ba: cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng

tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh xã hội
công bằng văn minh”.Tại đại hội Đảng này, Đảng ta cũng xác định rõ mục
4


tiêu: “ phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công
nghiệp” cùng với những thành tựu phát triển quan trọng đạt được sau 10
năm đổi mới, sự xác định rõ ràng về chủ trương đã tạo điều kiện thuận lợi
cho nước ta đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá .
Bước vào thế kỷ 21 bối cảnh trong nước và quốc tế có những thay
đổi mau chóng. Báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
(năm 2001) của Đảng nhận định: “thế kỷ 21 sẽ tiếp tục có nhiều biến đổi,
khoa học công nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt, kinh tế tri thức có vai trò
ngày càng nổi bật, có vai trò ngày càng lớn trong quá trình phát triển lực
lượng sản xuất”. Trong bối cảnh ấy nhận thức của Đảng ta về CNH – HĐH
đất nước cũng có bước đổi mới quan trọng, cho rằng quá trình CNH –
HĐH ở nước ta có thể rút ngắn. Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai
đoạn 2001 – 2010 được thông qua tại đại hội IX xác định: “con đường
CNH – HĐH của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có những
bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt, phát triển những lợi thế của đất nước,
tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công
nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều
hơn ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học và
công nghệ từng bước phát triển kinh tế tri thức”
Như vậy ngay từ khi tiến hành đổi mới thông qua các kỳ đại hội
Đảng ta đều xác định thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá phải gắn liền
với phát triển kinh tế tri thức. Điều này đã trở thành tôn chỉ định hướng rõ
ràng sự phát triển của nước ta.
b). Những quan điểm, nhận thức về công nghiệp hóa, hiện đại
hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức

tố quan trọng của nền kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức,
kết hợp việc sử dụng nguồn vốn tri thức của người Việt Nam với tri thức
mới nhất của nhân loại. Như vậy, lý luận và thực tiễn là căn cứ vững chắc
để xây dựng đường lối đúng đắn, tranh thủ thời cơ, rút ngắn thời gian công
nghiệp hóa, hiện đại hóa sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo
hướng hiện đại.
6


Theo kinh nghiệm của nhiều nước, phát triển kinh tế tri thức phải tập
trung nguồn lực vào bốn hướng chính sau đây:
Thứ nhất, Nhà nước phải xây dựng thể chế xã hội và chính sách
kinh tế năng động, rộng mở, khuyến khích sáng tạo và ứng dụng có hiệu
quả những tri thức mới. Thúc đẩy kinh doanh, tác động cho nở rộ doanh
nghiệp mới làm ăn phát đạt. Phải tạo dựng một nền hành chính có hiệu quả,
tránh phiền hà, tham nhũng. Giảm mạnh các chi phí hành chính, góp phần
tăng sức cạnh tranh.
Thứ hai, đào tạo nguồn nhân lực tài năng sáng tạo, biết phối hợp và
chia sẻ ứng dụng những thông tin, tri thức thành sản phẩm có sức cạnh
tranh cao.
Thứ ba, xây dựng một hệ thống đổi mới hiệu quả bao gồm: các
doanh nghiệp, các trung tâm nghiên cứu, các trường đại học, các tổ chức tư
vấn và các tổ chức khác liên kết, trao đổi thông tin, tri thức với nhau theo
những mục tiêu đã xác định. Họ phải thường trực tiếp cận các kho thông
tin, tri thức của thế giới được liên tục chất đầy, để tích cực "tiêu hóa" chúng
và thích nghi hóa cho các nhu cầu của mình và từ đó sáng tạo ra công nghệ
cao mới.
Thứ tư, tích cực xây dựng kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin và
truyền thông, đẩy mạnh ứng dụng và phát triển ngành công nghệ cao dẫn
đầu này. Tạo điều kiện thuận lợi cho việc đánh giá, phổ biến và sáng tạo tri

Thứ ba: quá trình CNH, HĐH ở nước ta cần và có thể được rút
ngắn,việc cần được rút ngắn ở đây là đòi hỏi khách quan của nhiệm vụ
thoát khỏi tình trạng tụt hậu phát triển. bên cạnh đó bối cảnh mới trong
nước cũng như trên thế giới cho phép nước ta có khả năng “rút ngắn” quá
trình CNH, HĐH. Về cơ bản, cách để nước ta thực hiện được công nghiệp
hoá, hiện đại hoá rút ngắn bao gồm hai mặt: thứ nhất, đạt và duy trì một tốc
độ tăng trưởng cao hơn các nước đi trước liên tục trong một thời gian dài
để rút ngắn khoảng cách chênh lệch về trình độ so với các nước đó(thực
chất là tăng tốc để đuổi kịp) và thứ hai, lựa chọn và áp dụng một phương
thức công nghiệp hoá , hiện đại hoá cho phép bỏ qua một số bước đi vốn là
8


bắt buộc theo kiểu phát triển tuần tự, để đạt tới nền kinh tế có trình độ phát
triển cao hơn( thực chất là lựa chọn con đường, bước đi và giải pháp công
nghiệp hoá để đi nhanh tới hiện đại). Hai mặt này không đối lập mà có thể
thống nhất với nhau và đang tiếp tục được làm rõ để định hình sang tỏ hơn
con đường đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá ở nước ta
d). Các giải pháp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn
với phát triển kinh tế tri thức
Vấn đề quan trọng hàng đầu là, chúng ta phải chủ động phát huy
năng lực sáng tạo tri thức ở trong nước, đồng thời phải biết tranh thủ cơ hội
tiếp thu tri thức của thế giới toàn cầu hóa.
Thực vậy, trong điều kiện chưa có đủ nguồn lực để phát triển kinh tế
tri thức lên ngay trình độ cao, ta phải coi trọng chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế nhằm đẩy mạnh hợp tác về công nghệ cao trong nhiều lĩnh vực,
trên cơ sở cùng có lợi. Qua hội nhập và hợp tác cùng với việc gửi đi nâng
cao trình độ ở nước ngoài, các chuyên gia Việt Nam từng bước trưởng
thành, có thể chủ động trong ứng dụng các công nghệ cao và tiến tới sáng
tạo tri thức mới rất cần thiết cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở trình độ

trên 70% GDP, bởi vậy gắn kết với phát triển kinh tế tri thức sẽ có thuận
lợi đẩy mạnh hiện đại hóa nhanh dịch vụ ở nước ta. Các ngành dịch vụ
quan trọng như thương mại, tài chính, ngân hàng, du lịch, y tế, giáo dục,
pháp luật... bắt buộc phải nhanh chóng chuyển sang ứng dụng công nghệ
thông tin, mạng in-tơ-nét, viễn thông toàn cầu... Thời gian qua một số
ngành dịch vụ nước ta đã có tiến bộ đáng kể trong hiện đại hóa, nhưng nhìn
chung chưa khai thác hết tiềm năng, đáng lý còn có thể đóng góp cho tăng
trưởng kinh tế nhiều hơn nữa.
Về mặt xã hội có nhiều loại dịch vụ quan trọng cần hiện đại hóa theo
hướng kinh tế tri thức. Tuy nhiên, đối với một nước đang phát triển như
nước ta, có định hướng xã hội chủ nghĩa, thì cần tập trung vào dịch vụ hành
chính điện tử (hoặc chính phủ điện tử). Đây là một cuộc cách mạng thực sự
hướng tới chủ nghĩa xã hội, vì nó, nếu được xây dựng đúng đắn và đầy đủ,
sẽ khách quan bảo đảm được công khai, minh bạch, không tham nhũng,
10


công bằng, dân chủ, văn minh. Đáng tiếc là thời gian qua có quyết tâm cao,
nhưng dùng người chưa đúng nên kết quả yếu kém, cần rút kinh nghiệm để
sắp tới làm tốt hơn. Khi đó sẽ có một nền hành chính điện tử được hiện đại
hóa nhanh dẫn tới rút ngắn được thời kỳ quá độ
Thời đại chúng ta là thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm
vi toàn thế giới bắt đầu từ khoảng đầu thế kỷ XX (1917). Cũng không phải
ngẫu nhiên mà cách mạng khoa học công nghệ bùng lên từ khoảng giữa thế
kỷ XX dẫn đến sự khởi đầu kinh tế tri thức và trở thành đặc trưng của thời
đại. Phải chăng đây là phản ánh mối quan hệ biện chứng tất yếu giữa khoa
học và cách mạng, cơ bản tương tự như những lần biến động thay đổi hình
thái kinh tế - xã hội trước đây, nhưng phức tạp và dữ dội hơn nhiều.

11

doanh, tri thức khoa học công nghệ về tận người dân nông thôn, đồng thời
12


đẩy mạnh công tác đào tạo nhân lực, phục vụ cho đổi mới và hiện đại hóa
sản xuất nông nghiệp, tăng nhanh năng suất, hiệu quả, thay đổi bộ mặt
nông thôn, chuyển lao động sang khu vực công nghiệp và dịch vụ. Xây
dựng những khu sản xuất nông nghiệp công nghệ cao: sử dụng các công
nghệ sinh học, công nghệ thông tin, kỹ thuật tự động hóa để điều khiển các
quá trình sản xuất nông nghiệp, đưa sản xuất hàng năm trên mỗi ha lên
nhiều trăm triệu đồng, hoặc hàng tỷ đồng.
Ứng dụng các công nghệ mới, đổi mới tổ chức quản lý sản xuất ở
nông thôn để phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ nông thôn, dịch
chuyển nhanh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động ở nông thôn. Phải khởi động
ngay ở nông thôn một khu vực khác năng động và hiện đại, đó là khu vực
công nghiệp. Từ một sự tích lũy ban đầu, khu vực này sẽ phát triển nhanh.
Đồng thời kết hợp tri thức truyền thống và tri thức hiện đại, với công nghệ
mới để hiện đại hóa, phát triển các làng nghề truyền thống để xây dựng
được một nền văn hóa kinh doanh lâu đời.


Đổi mới công nghệ trong các ngành công nghiệp và dịch vụ:

Tăng nhanh các ngành công nghiệp chế tạo, chế biến dựa vào công nghệ
mới, giá trị cao; phát triển những ngành sản xuất chủ bài có tính cạnh tranh
cao; giảm tối thiểu các sản phẩm xuất khẩu thô, ít chế biến, mà thực chất
chỉ là bán tài nguyên. Tăng giá trị xuất khẩu lên nhiều lần so với hiện nay.
Các ngành hiện có thể tiếp tục phát triển, nhằm tận dụng cơ sở vật chất và
lực lượng lao động, giải quyết việc làm, đáp ứng các nhu cầu cơ bản của
nhân dân, nhưng phải tiếp tục thu các tri thức mới để đổi mới công nghệ,

vốn quan trọng. Coi quyền sở hữu trí tuệ là quan trọng nhất trong các
quyền sở hữu.
+ Đổi mới các doanh nghiệp: Doanh nghiệp là chủ thể quan trọng
nhất của kinh tế thị trường, là nơi biến tri thức thành giá trị. Doanh nghiệp
coi vốn tri thức là nguồn lực quan trọng nhất của mình.
+

Đổi mới giáo dục đào tạo: Cải cách triệt để nền giáo dục theo

chuẩn mực quốc tế, nhằm đào tạo những con người năng động sáng tạo,
thích nghi với sự phát triển kinh tế tri thức.
14


+ Đổi mới khoa học công nghệ: Nâng cao năng lực khoa học công
nghệ quốc gia, đồng thời xây dựng hệ thống đổi mới quốc gia, gắn kết chặc
chẽ khoa học công nghệ với sản xuất kinh doanh, nhanh chóng biến tri thức
thành giá trị.
+ Đổi mới thể chế và chính sách tổ chức quản lý: Tạo môi trường
kinh doanh sôi động, thúc đẩy sự cạnh tranh. Chính sách pháp luật rõ ràng,
công khai, minh bạch thúc đẩy dân chủ, khuyến khích mạnh mẽ khả năng
sáng tạo. Nhận thức vai trò của nhà nước với kinh tế tri thức. Nhà nước từ
điều khiển chuyển sang giữ vai trò định hướng phát triển, tạo môi trường
thuận lợi và động viên mọi người, mọi lực lượng tham gia xây dựng nền
kinh tế tri thức.
Mọi cố gắng của chính phủ, doanh nghiệp, trường đại học và các tổ
chức khoa học nhằm thúc đẩy việc tạo ra tri thức, vận dụng tri thức, biến tri
thức thành giá trị; hỗ trợ đắt lực cho việc đổi mới công nghệ, dịch chuyển
nhanh cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh các ngành kinh tế tri thức.
Trong các giải pháp để phát triển kinh tế tri thức thì cần tập trung đưa

đầu tư trong xã hội cho giáo dục đào tạo, ít nhất cũng phải được khoảng
23% - 25% như nhiều nước trong khu vực; Có những cải cách trong giáo
dục đại học để đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước. Đào tạo ra những
kỹ sư, kỹ thuật viên lành nghề,các cử nhân có tri thức vững vàng. Phát triển
giáo dục đại học từng bước hiện đại như các nước phát triển khác.
Để giáo dục thực sự là quốc sách hàng đầu, thì trước hết nhà nước
phải có chính sách trọng dụng nhân tài, thực sự coi hiền tài là “nguyên khí
quốc gia”, tạo điều kiện làm việc thuận lợi, phát huy năng lực của những
cán bộ giỏi, đầu đàn trong các lĩnh vực khoa học-công nghệ, quản lý kinh
doanh, văn học-nghệ thuật. Đi đôi với năng cao chất lượng giáo dục.
Đẩy nhanh phổ cập giáo dục trung học, nâng cao số năm đi học bình
quân của người trong độ tuổi lao động lên 12 năm vào trước năm 2020.
Nhiệm vụ cấp bách là tiến hành ngay một cuộc cách mạng toàn diện trong
giáo dục:cải cách triệt để, sâu sắc cả về mục tiêu, nội dung, phương pháp
dạy học, hệ thống giáo dục. phương thức tổ chức quản lý giáo dục-đào tạo.
16


Chuyển trọng tâm của giáo dục từ trang bị kiến thức sang bồi dưỡng
rèn luyện phương pháp tư duy, phương pháp giải quyết vấn đề, năng lực
sáng tạo, thích nghi sự phát triển. Chuyển từ mô hình giáo dục truyền thống
sang mô hình giáo dục mới: hệ thống học tập suốt đời, phát triển nghề
nghiệp liên tục, theo đó nhà trường đào tạo những kỹ năng cơ bản để người
học ra trường vừa học tập vừa lao động suốt đời. Phát triển hệ thống học
tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu
để bồi bưỡng nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn dựa vào
tri thức. Xã hội hóa học tập và xã hội hóa thông tin là tiền đề cho nền kinh
tế tri thức.
 Phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin vào trong các lĩnh
vực kinh tế.:

quốc gia, đó là nhân tố quan trọng để phát triển công nghệ thông tin trong
nước.
Mạng thông tin điện tử là môi trường lý tưởng cho việc quảng bá tri
thức, nâng cao kỹ năng, phát triển trí sáng tạo, nó rút ngắn khoảng cách
giữa khoa học, sản xuất với tiêu dung, làm tăng nhanh tốc độ đổi mới.
Chính công nghệ thông tin đã thúc đẩy sự chuyển đổi hệ thống đổi mới từ
mô hình tuyến tính sang mô hình tác động qua lại giữa các yếu tố.
Tóm lại, Việc phát triển kinh tế tri thức là một đòi hỏi mà tất cả các
thành phố trong cả nước luôn mong muốn vươn tới. TP.Thái Nguyên cũng
vậy, việc tiến lên kinh tế tri thức giúp cho TP.Thái Nguyên có thể nhanh
chóng phát triển, Góp phần làm cho TP.Thái Nguyên có sự tăng trưởng về
kinh tế, ổn định chính trị, phát triển văn hóa xã hội. Tuy còn gặp rất nhiều
khó khăn thách thức đặt ra cho TP.Thái Nguyên Nhưng với tiềm lực của
đất nước và nổ lực to lớn của Chính Phủ, và sự đóng góp tài năng, trí tuệ
của toàn dân thì việt tiến lên kinh tế tri thức của TP.Thái Nguyên sẽ thành
công trong tương lai./.

18


III KẾT LUẬN
Nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế sản xuất nhỏ, lao
động thủ công là chủ yếu, trải qua hơn 20 năm đổi mới và phát triển đến nay
nền kinh tế của nước ta đã có những đổi thay đáng kể và đạt được nhiều thành
tựu quan trọng. Từ một nước nông nghiệp lạc hậu, nghèo nàn, đời sống dân cư
thấp Việt Nam đã vươn lên trở thành một nước có nền kinh tế khá ổn định, tiếp
cận được với nhiều nền kinh tế phát triển mà đáng kể là việc trở thành thành
viên của tổ chức thương mại thế giới WTO. Đây là một bước tiến lớn lao khẳng
định sự phát triển của nền kinh tế nhưng đồng thời cũng tạo ra không ít thách
thức đòi hỏi chúng ta phải nỗ lực không ngừng để bắt kịp xu thế thời đại và để

6 “Tác động của việc gia nhập các tổ chức thương mại thế giới và hội
nhập kinh tế quốc tế đến phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam – Một năm
nhìn lại” – Bộ trưởng bộ thương mại: Trương Đình Tuyển
7 “Hội nhập kinh tế quốc tế với phát triển bền vững” – Lê Thế Giới,
Võ Xuân Tiến, Trương Bá Thanh / NXB hành chínhh quốc gia
8

Tạp chí kinh tế và phát triển - Số chuyên đề của kinh tế Mac-

Lênin (Tháng 11/2001)
9

Tạp chí Kinh tế và Phát triển - Số 48/2001

10

Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX

11

Tạp chí Khoa học xã hội

20


MỤC LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................20

21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status